BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NUÔI TRÙN QUẾ VÀ KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA
ĐẠM TRÙN QUẾ TRONG ƯƠNG NUÔI CÁ LĂNG NHA
(Mystus wyckioides Chaux và Fang, 1949) TỪ GIAI ĐOẠN CÁ
HƯƠNG LÊN CÁ GIỐNG.
NGÀNH: THỦY SẢN
KHÓA : 2001 – 2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THANH DUY
VÕ THANH LIÊM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2005
NUÔI TRÙN QUẾ VÀ KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA
ĐẠM TRÙN QUẾ TRONG ƯƠNG NUÔI CÁ LĂNG NHA
(Mystus wyckioides Chaux và Fang, 1949) TỪ GIAI ĐOẠN CÁ
HƯƠNG LÊN CÁ GIỐNG.
Thực hiện bởi
Nguyễn Thanh Duy
Võ Thanh Liêm
Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn : Lê Thò Bình
TP. Hồ Chí Minh
Tháng 09/2005
TÓM TẮT
Đề tài “Nuôi Trùn Quế và Khảo Sát nh Hưởng của Đạm Trùn Quế
(Perionyx excavatus) trong Ương Nuôi Cá Lăng Nha (Mystus wyckioides) từ Giai
Đoạn Cá Hương lên Cá Giống” được tiến hành nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của thức
ăn và mật độ lên sinh khối trùn quế, tác động của đạm trùn quế lên sự tăng trưởng và
so với NT III và NT I tương ứng là
2770,83g, 2kg/m
2
và 1583,33g, 0,5kg/m
2
).
Thức ăn với tỷ lệ 60% trùn quế + 40% cám gạo cho tăng trưởng tốt nhất, đạt
chiều dài trung bình (CDTB) là 66,55mm và trọng lượng trung bình (TLTB) là 1,837g.
Kế đến là NT III, NT II và sau cùng là NT I. Thức ăn ở NT III cho tỷ lệ sống cao nhất
(73,5%), kế đến là NT IV (65,75%), NT II (57,5%) và thấp nhất là NT I (51,5%).
ABSTRACT
A study “Culturing Blue-Worm and effect of Blue-Worm’s Protein (Perionyx
excavatus) on Rearing of Red-Tail Catfish (Mystus wyckioides) from 10 to 66-days old
fingerlings” was carried out from 03/2005 to for 07/2005 at Experiment Farm for
Aquaculture, Nong Lam University in Ho Chi Minh City, with three trials:
The first trial: Effect of feed on biomass of blue-worm. The trial was carried
out in plastic tank and divided into two treatments such as treatment I (NT I) using dry
cow pat ; treatment II (NT II) using fresh cow pat.
The second trial: Effect of density on biomass of blue-worm. This trial was
carried out in plastic tank and divided into three treatments such as 0,5kg of blue-
worm/m
2
(treatment I: NT I); 1kg of blue-worm /m
2
(treatment II: NT II) and 2kg of
blue-worm/m
2
(treatment III: NT III).
The third trial: Effect of blue-worm’s protein on growth of red-tail catfish. The
trial was carried out in 1,200m
thể sinh viên lớp Nuôi Trồng Thủy Sản 27 đã giúp đỡ và động viên chúng tôi trong
thời gian học tập và thực hiện đề tài này.
Mặc dù chúng tôi đã hết sức cố gắng để thực hiện đề tài nhưng khả năng bản
thân còn nhiều hạn chế nên luận văn này chắc chắn không thể tránh khỏi sự thiếu sót,
chúng tôi rất mong sự đóng góp ý kiến quý báu của Thầy Cô và bạn bè.
MỤC LỤC
ĐỀ MỤC TRANG
TÊN ĐỀ TÀI
TÓM TẮT
ABSTRACT
CẢM TẠ
MỤC LỤC
DANH SÁCH CÁC BẢNG
DANH SÁCH ĐỒ THỊ
DANH SÁCH HÌNH ẢNH
I. GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt Vấn Đề 1
1.2 Mục Tiêu Đề Tài 1
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
2.1 Đặc Điểm Sinh Học Trùn Quế 2
2.1.1 Phân loại 2
2.1.2 Đặc điểm hình thái 2
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 3
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 3
2.1.5 Đặc điểm sinh sản 3
2.2 Thành Phần Dinh Dưỡng của Trùn Quế 4
2.3 Thành Phần Dinh Dưỡng của Cám Gạo 5
2.4 Đặc Điểm Sinh Học Cá Lăng Nha 6
2.4.1 Phân loại 6
2.4.2 Phân bố 6
4.2 Sự Tăng Trưởng của Trùn Quế 24
Phần II CÁ LĂNG NHA 31
4.3 Điều Kiện Môi Trường Ao Thí Nghiệm 31
4.3.1 Nhiệt độ 31
4.3.2 Độ trong 32
4.3.3 pH 32
4.3.4 Oxy hòa tan 32
4.4 Thành Phần Dưỡng Chất của Các Loại Thức Ăn trong Thí Nghiệm 32
4.5 Sự Tăng Trưởng của Cá Lăng Nha (Mystus wyckioides) 33
4.5.1 Sự tăng trưởng về chiều dài của cá thí nghiệm 33
4.5.2 Sự tăng trưởng về trọng lượng của cá thí nghiệm 36
4.5.3 Mối tương quan giữ chiều dài và trọng lượng của cá lăng nha 38
4.5.4 Tỷ lệ sống của cá lăng nha ở các nghiệm thức 46
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1 Kết Luận 48
5.2 Đề Nghò 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Y4
DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG NỘI DUNG TRANG
Bảng 2.1 Thành phần amino acid trong trùn khô 4
Bảng 2.2 Thành phần acid béo trong trùn khô 5
Bảng 4.1 Sinh khối trùn quế ở thí nghiệm 1 (g) 25
Bảng 4.2 Thành phần protein trong thức ăn 26
Bảng 4.3 Sinh khối trùn quế ở thí nghiệm 2 (g). 27
Bảng 4.4 Tốc độ tăng sinh khối tương đối của trùn quế 28
Bảng 4.5 Các yếu tố môi trường nước trong quá trình thí nghiệm 31
Bảng 4.6 Thành phần protein của thức ăn trong các NT 32
Bảng 4.7 Tăng trưởng trung bình của cá lăng nha trong quá trình thí nghiệm 33
Bảng 4.8 Tốc độ tăng chiều dài tương đối của cá lăng nha 35
Hình 4.8 Cá lăng nha ở NT I (66 ngày tuổi). 44
Hình 4.9 Cá lăng nha ở NT II (66 ngày tuổi). 45
Hình 4.10 Cá lăng nha ở NT III (66 ngày tuổi). 45
Hình 4.11 Cá lăng nha ở NT IV (66 ngày tuổi). 46
I. GIỚI THIỆU
1.1 Đặt Vấn Đề
Nghề nuôi thủy sản từ lâu đã được mọi người quan tâm, nhất là trong giai đoạn
hiện nay, khi mà dân số gia tăng ngày càng nhanh, nhu cầu sử dụng các sản phẩm
thủy sản ngày càng mạnh. Nếu chỉ dựa vào sản lượng thủy sản đánh bắt tự nhiên và
những loài cá quen thuộc (rô phi, mè, chép …) thì chưa đủ. Hơn nữa, hiện nay do đời
sống kinh tế của người dân ngày càng được nâng cao nên nhu cầu tiêu thụ các mặt
hàng thủy sản về số lượng cũng như chất lượng đều được nâng cao. Do đó, nghề nuôi
trồng thủy sản (đặc biệt là những loài cá mới có giá trò kinh tế cao) ngày càng được
nhiều người quan tâm.
Trong chu kì sống của cá có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và
phát triển của cá. Trong đó yếu tố thức ăn là một trong những yếu tố có ý nghóa đặc
biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trọng, sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá …
Việc tìm kiếm, tận dụng nguồn thức ăn dễ tìm, có hiệu quả kinh tế, đảm bảo đủ chất
lượng, mang lợi nhuận cao là một trong những vấn đề đang được quan tâm hàng đầu.
Mặt khác, hiện nay giá cả các sản phẩm trong chăn nuôi gia súc, gia cầm và
thủy sản thường bấp bênh, chi phí thức ăn cho chăn nuôi biến động và có xu hướng
tăng lên nhiều, đặc biệt đối với những hộ chăn nuôi ít vốn sản xuất thì càng gặp khó
khăn hơn. Vì vậy việc tìm kiếm một loại thức ăn bổ sung protein dưới dạng động vật,
có dinh dưỡng cao, dễ sản xuất tại chỗ, có thể tận dụng được phụ phẩm, chất thải
động vật trong ngành nông nghiệp đang là vấn đề cấp thiết.
Trước tình hình đó, được sự phân công của Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Nông
Lâm Tp. HCM, chúng tôi thực hiện đề tài: “ NUÔI TRÙN QUẾ VÀ KHẢO SÁT
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠM TRÙN QUẾ TRONG ƯƠNG NUÔI CÁ LĂNG NHA
(Mystus wyckioides Chaux và Fang, 1949) TỪ GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG LÊN CÁ
GIỐNG”
của các tế bào nói trên thải ra, CaCO
3
, một số loại men, kích thích tố, …
Trùn quế Perionyx excavatus thường sống trên mặt đất, ở nơi ẩm ướt có nhiều
phân rác ủ mục. Trùn quế được tìm thấy ở Ấn Độ, Celyon, Úc, New Zealand và ở
Việt Nam.
Trùn quế thuộc loài giun cỡ nhỏ, rất hoạt động. Thân hơi dẹt, có 2 đầu nhọn,
dài từ 100 – 150cm có màu mận chín, có đai sinh dục chiếm 5 đốt từ đốt thứ XIII đến
đốt thứ XVII và có 2 lỗ sinh dục đực nằm ở gần nhau trong vùng lõm hình trứng ở đốt
thứ XVIII. Cơ thể trùn quế còn có thể tiết ra hương thơm.
Đem trùn ra ngoài ánh sáng thì cơ thể phát dạ quang màu xanh tím
(fluorrescence). Trùn quế có thể sống thích hợp trong điều kiện nhiệt độ từ 20 – 27
o
C.
II.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Trong tự nhiên, trùn có thể sử dụng nhiều chất hữu cơ để làm thức ăn. Nhưng
trong điều kiện bất lợi, trùn vẫn có thể lấy dinh dưỡng trong đất. Evans và Guild
(1948) nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn trên sự đẻ kén của trùn và thấy rằng trùn
chỉ ăn thức ăn có phân động vật sẽ đẻ nhiều kén hơn khi ăn thức ăn chỉ có chất hữu cơ
là thực vật.
Thức ăn của trùn chủ yếu là các chất hữu cơ không có độc tố, có độ pH thích
hợp, có độ muối khoáng cao và đã được vi sinh vật phân giải như các loại phân gia súc
gia cầm, chất thải của các nhà máy chế biến thực phẩm, các loại phế thải của nông
sản, các cành lá mục, rau cải bỏ, ….
Tuy nhiên, các loại cây gia vò (rau húng, rau quế, …), lá các loại cây có tinh
dầu (lá chanh, lá cam, lá tràm bông vàng) đều có thể giết chết trùn hoặc làm trùn bỏ
trốn.
II.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Trùn sinh trưởng bằng phương thức tăng số lượng hoặc tiết diện đốt thân.
Trong quá trình sinh trưởng, cơ thể và thể tích trùn tăng lên. Khi xuất hiện đai sinh
- 38%, của bột cá lạt loại tốt là 55% thì protein của trùn khô cao hơn.
Trùn quế Perionyx excavatus có chứa 17 amiono acid: Tính %(W/w)
Trong 17 amino acid của trùn quế đã có 9 amino acid không thể thay thế rất
cần thiết cho sự sinh trưởng và phát dục của gia súc gia cầm, đó là: Methionine,
Arginine, Threonine, Phenylalanin, Histidine, Isoleucine, Leucine, Lysine, Valine,
tương tự như ở loài trùn Pheretima aspergillum.
Bảng 2.1 Thành phần amino acid trong trùn khô
Các amino acid % trong trùn khô % so với lysine
Aspartic 3,900 6,51
Glutamic 7,572 12,64
Serine 2,485 4,15
Glycine 1,525 2,55
Histidine 3,153 5,26
Arginine 6,485 10,83
Threonine 1,545 2,58
Alanine 1,679 2,80
Proline 1,590 2,65
Tyrosine 3,570 5,96
Valine 5,161 8,62
Methionine 1,133 1,92
Cystine 1,880 3,14
Isoleucine 4,875 8,14
Leucine 4,623 7,72
Phenylalanine 1,601 2,67
Lysine 2,086 3,48
(Phân tích tại Trung Tâm Phân Tích Thí Nghiệm của Đại Học Nông Lâm TP.
Hồ Chí Minh)
Trùn quế có các nguyên tố vi lượng và acid béo như: Mn (82,63 ppm), Fe
(0,67ppm), Cu (19,10ppm), Zn (90,81ppm) và Co (2,67ppm).
Bảng 2.2 Thành phần acid béo trong trùn khô
Tên Việt Nam: Cá lăng nha, lăng đuôi đỏ.
Tên tiếng anh: Red- tail catfish.
2.4.2 Phân bố
Cá lăng nha (Mystus wyckioides) là loài cá phân bố tự nhiên ở Ấn Độ và khu
vực Đông Nam Á, phân bố chủ yếu ở các con sông lớn từ thượng nguồn đến tận vùng
cửa sông (Smith, 1945). Cá lăng cũng được tìm thấy ở đảo Sanda, Ido (Indonesia) và
ngay cả ở Trung Quốc.
Ở Sumatra chúng được tìm thấy ở mọi khu vực của sông từ thượng nguồn đến
hạ nguồn, nhiều nhất ở khu vực hạ lưu của sông nơi có vùng ngập nước.
Theo Mai Thò Kim Dung (1998) cá lăng phân bố rộng rãi, hiện diện hầu hết ở
các nước Đông Nam Á, Châu Á. Theo Mai Đình Yên và ctv. (1992), ở Việt Nam, cá
lăng hiện diện rộng rãi ở các sông rạch thuộc miền Nam, phân bố ở các sông lớn như:
sông Tiền, sông Hậu, sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm
Cỏ Tây từ thượng nguồn đến vùng cửa sông, và có nhiều ở các hồ tự nhiên lớn: hồ Trò
An, hồ Dầu Tiếng, chúng thường sống ở những nơi nước chảy chậm và sâu.
Cá lăng nha được tìm thấy trên các sông lớn ở lưu vực sông Mê Kông, đôi khi
bắt gặp ở Tonlé Sap (Biển Hồ) và hạ lưu sông Mê Kông.
Đa số các loài cá lăng là cá có giá trò kinh tế cao, phẩm chất thòt ngon, được
nhiều người ưa thích, có thể phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
2.4.3 Đặc điểm hình thái
Cá lăng nha có thân thon dài, đầu rộng và hơi dẹp đứng. Miệng ở dưới và
rộng, hướng ra phía trước. Môi trên dày và nhô hơn môi dưới, hàm trên và hàm dưới
đều có răng nhỏ, nhọn. Mắt trung bình nằm gần đỉnh đầu, khoảng cách giữa hai mắt
lớn. Khe mang rộng, màng mang tách khỏi eo mang và phần lớn tách rời nhau. Có 4
đôi râu: 1 đôi râu mũi kéo dài đến mắt, 2 đôi râu cằm, 1 đôi râu hàm trên (kéo dài
đến vây hậu môn).
Cá có vây mỡ, vây ngực và vây lưng có gai cứng. Vây đuôi phân thùy sâu,
mép thùy trên dài hơn mép thùy dưới. Vây lưng và vây ngực có tia cứng, tia cứng vây
ngực to, khoẻ, phía sau có răng cưa nhưng tia cứng ở vây lưng nhỏ và được bao phủ
bởi một lớp da và không có răng cưa. Thân có màu xám hoặc xanh đen, vây đuôi và
còn nhỏ thức ăn của cá là các côn trùng có trong nước: ấu trùng muỗi lắc, giun ít tơ, rễ
cây, … Khi cá lớn thức ăn chủ yếu là tôm, cua, cá con, giun đất, ….
Mặt khác, theo Ngô Văn Ngọc (2002) thì cá lăng hoàn toàn thích hợp với thức
ăn công nghiệp trong điều kiện nuôi nhân tạo.
2.4.5 Đặc điểm sinh trưởng
Sinh trưởng là sự tăng trưởng về kích thước và khối lượng của cá theo thời gian
nhờ quá trình trao đổi chất. Sinh trưởng cũng là quá trình sử dụng và đồng hóa thức ăn
xảy ra bên trong cơ thể của cá.
Quá trình này đặc trưng tương ứng với từng loài cá và tùy thuộc vào nhiều yếu
tố: điều kiện môi trường sống, thuộc tính của loài, số lượng thức ăn có trong thủy vực,
thời gian sống của cá, giới tính. Đây là đặc tính thích ứng của loài, đảm bảo sự sống
của loài với điều kiện môi trường.
Theo Mai Đình Yên và ctv., 1992 họ Bagridae có kích cỡ tối đa đạt 80 cm.
Theo Smith (1945; trích bởi Đào Phạm Minh Hòa, 2004), giống Mystus trong tự nhiên
có thể đạt kích thước hơn 60cm, nhưng chiều dài thông thường thì từ 25 -30cm.
2.4.6 Đặc điểm sinh sản
Theo Mai Thò Kim Dung (1998) cá lăng nha có thể tham gia sinh sản ở kích
thước 32cm. Mùa sinh sản của cá lăng kéo dài quanh năm và không xác đònh được
đỉnh. Đường kính trứng khi đã chín mùi đạt đến 1mm (Smith, 1945, trích bởi Mai Thò
Kim Dung, 1998).
Theo Rainboth, 1996 thì cá lăng tìm vào những vùng ngập nước để sinh sản. Ở
Tonesap cá đực được tìm thấy vào khoảng tháng 8 và khoảng từ tháng 10 -12 cá con
trở ra sông.
2.4.7 Phân biệt đực cái
Ở cá đực khi thành thục thì rìa tuyến sinh dục có nhiều túi nhỏ, phân túi nhiều
và rõ khi tuyến sinh dục càng phát triển. Tuyến sinh dục cá cái dài và thon.
Ngoài ra, sự khác biệt giới tính ở cá lăng nha còn có thể nhận biết qua những
đặc điểm bên ngoài như: cá đực có gai sinh dục dài và nhọn ở đầu mút; cá cái có phần
bụng to và bè ra hai bên nếu nhìn thẳng từ trên xuống, có lỗ sinh dục hình tròn màu
hồng và hơi lồi ra.
thức ăn, đặc biệt là tỉ lệ giữa năng lượng protein và năng lượng phi protein (Lê Thanh
Hùng, 2000).
Theo Hepher, 1998 ( Trích bởi Lê Thanh Hùng, 2000) thì:
Do nhu cầu năng lượng duy trì và nhu cầu năng lượng tăng trưởng tăng lên khi
trọng lượng cá tăng nên nhu cầu tổng cộng sẽ càng tăng lên khi cá càng lớn.
Mặt khác, nhu cầu duy trì và nhu cầu tăng trưởng tăng lên với tốc độ chậm hơn
so với tốc độ tăng trọng của cá nên nhu cầu tương đối (nhu cầu trên một đơn vò trọng
lượng) sẽ giảm khi cá càng lớn.
Ngoài ra, nhu cầu duy trì tăng lên với tốc độ nhanh hơn nhu cầu tăng trưởng
nên cá càng lớn thì lượng thức ăn tiêu tốn để tăng trọng một đơn vò sẽ càng lớn.
2.5.2 Nhu cầu protein và acid amin
Nhu cầu protein là lượng protein tối thiểu có trong thức ăn nhằm thỏa mãn yêu
cầu các amino để đạt tăng trưởng tối đa.
Protein có một cân bằng các amino acids thiết yếu và có độ tiêu hóa cao sẽ
dẫn đến nhu cầu protein thấp hơn loại protein không cân bằng amino acid thiết yếu và
ngược lại.
Protein trong hầu hết các loại thức ăn được chế biến phù hợp thì có khả năng
tiêu hoá cao đối với cá. Hệ số tiêu hóa thức ăn của cá đối với các loại thức ăn giàu
protein thường trong phạm vi từ 75 – 95%. Khả năng tiêu hóa protein có xu hướng
giảm sút khi hàm lượng carbohydrate trong khẩu phần ăn tăng cao.
Theo Smith (1976) cho rằng sự gia tăng nhiệt độ từ 127 - 204
0
C sẽ làm tăng
khả năng hấp thụ protein trong bột đậu nành từ 45 - 75%.
Protein đặc biệt ảnh hưởng đến tốc độ lớn. Ăn thiếu protein còn làm cho tôm
cá nhạy cảm với sự nhiễm trùng đường ruột và đường hô hấp, chậm lớn và dễ sinh
bệnh. Vì vậy, hàm lượng protein luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu trong chất lượng
cá tôm.
Sản phẩm thủy phân cuối cùng của protein là các acid amin. Các nguyên tố
trong thành phần protein gồm N (trung bình 16%), C (50 - 55%), O (11 - 24%), S (0 -
thu trong môi trường nước tùy thuộc vào môi trường sống và lượng phophorus có trong
thức ăn. Do đó, sự hấp thu calci có thể được cá tự điều chỉnh thông qua sự gia tăng hấp
thụ từ môi trường nước.
Vì vậy, nhu cầu calci của cá ít được chú ý, tuy nhiên nếu cá được nuôi ở môi
trường nước thật mềm thì lượng calci trong thức ăn cần phải được lưu ý vì hàm lượng
calci trong thức ăn thấp sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cá.
Cá hấp thụ phophorus từ nước rất thấp nên phần lớn nhu cầu phophorus của cá
phải được cung cấp từ thức ăn.
Thức ăn là nguồn cung cấp phosphorus chính cho động vật thủy sản mặc dù
lượng phophorus hấp thụ trong thức ăn thay đổi theo tỉ lệ giữa hàm lượng phophorus
và hàm lượng calci có trong thức ăn.
Ngoài ra, nhu cầu phophorus của cá lệ thuộc rất nhiều vào cấu trúc bộ máy
tiêu hóa của từng giống loài cá và tính chất phopho trong thức ăn.
Thành phần phospho có sẵn trong bột cá có hàm lượng tro cao (trên 16%) và
thay đổi theo từng loài, nhưng thường thấp hơn những loại cá có hàm lượng tro thấp.
Vai trò các khoáng chất đối với tôm cá rất đa dạng, chủ yếu là quá trình tạo
hình đặc biệt là vỏ, vây, xương, tham gia quá trình tạo protid, các quá trình enzyme,
điều hòa chuyển hóa nước, duy trì tính ổn đònh môi trường bên ngoài và sức đề kháng
đối với nhiễm trùng.
Các chất khoáng có mặt trong nguyên liệu thức ăn với hàm lượng lớn tức hàng
chục đến hàng trăm mg% có khi hàng g% gọi là yếu tố đa lượng, trong đó là canxi,
phospho, natri, kali, chlor, sulfur (Nguyễn Văn Thoa và Bạch Thò Quỳnh Mai, 1996).
2.5.6 Nhu cầu vitamine
Vitamine là nhóm chất hữu cơ hiện diện trong thức ăn với một lượng rất nhỏ
mà cơ thể sinh vật không tổng hợp được hay tổng hợp không đủ cho nhu cầu. Chất hữu
cơ này không phải là các amino acids hay acid béo thiết yếu, chúng giữ một vai trò rất
quan trọng trong dinh dưỡng. Sự thiếu hụt lâu dài các dưỡng chất này sẽ dẫn đến các
triệu chứng bệnh.
Hầu hết các vitamine có vai trò như một co-enzyme hay các tác nhân hỗ trợ