Đánh giá hiện trạng khai thác rừng ngập mặn để phục vụ cho mục đích nuôi tôm - Pdf 20

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
đến Thầy Phạm Tài Minh người đã hướng dẫn và tận tình chỉ bảo cho tôi trong
suốt quá trình hoàn thiện luận văn này, ngoài ra còn có các Thầy Cô khoa Công
nghệ Sinh học và Môi trường , trường Cao Đẳng Đức Trí thành phố Đà Nẵng.
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn các Anh Chị tại phòng Chi Cục Môi
trường, Sở Tài nguyên và Môi trường huyện Núi Thành – tỉnh Quảng Nam. Và chú
Lê Văn Hiệp và chú Nguyễn Đình Sơn tại Phòng Nông nghiệp – Phát triển Nông
thôn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua
trong quá trình thực hiện bài khóa luận này.
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn sự quan tâm, động viên chia sẽ của gia đình và
bạn bè .
Đà Nẵng, ngày 07/05/2009
Người thực hiện

Phạm Đăng Lâm
2.2. TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG RNM TRÊN THẾ GIỚI VÀ
VIỆT NAM
2.2.1. Tình hình khai thác và sử dụng RNM trên Thế Giới
2.2.2. Tình hình khai thác và sử dụng RNM tại Việt Nam
2.3. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP PRA (ĐÁNH GIÁ NÔNG THÔN CÓ
SỰ THAM GIA NGƯỜI DÂN)
2.4. TỔNG QUAN VỀ HUYỆN NÚI THÀNH - TỈNH QUẢNG NAM
2.4.1. Các nhân tố tự nhiên
2.4.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.5. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG RNM NÚI
THÀNH - QUẢNG NAM
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
3.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
3.4.2. Phương pháp thống kê
3.4.3. Phương pháp PRA
3.4.4. Phương pháp thu thập thông tin
3.4.5. Phương pháp xử lý số liệu
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN
4.1. Đặc điểm tự nhiên của xã Tam Hải - Núi Thành – Quảng Nam
4.1.1. Vị trí địa lý
4.1.2. Địa hình
4.1.3. Khí hậu và thuỷ văn
4.2. Hiện trạng rừng ngập mặn xã Tam Hải – Núi Thành – Quảng Nam
4.2.1. Diện tích rừng ngập mặn tại xã Tam Hải
4.2.2. Sự phân bố cây ngập mặn tại xã Tam Hải
4.2.3. Thành phần loài cây ngập mặn tại xã Tam Hải


Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hoá, thời
kỳ đang đẩy mạnh phát triển nền kinh tế, đặc biệt là phát triển nhanh khu vực nông
thôn. Để làm được điều này đòi hỏi chúng ta phải có một chiến lược phát triển
đúng đắn, kết hợp với việc khai thác và sử dụng các dạng tài nguyên có hiệu quả,
trong đó bao gồm cả diện tích mặt nước.
Việt Nam có đường bờ biển dài trên 3260 km, 12 đầm phá. Trong hệ đầm
phá thì dải rừng ngập mặn ven biển có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế
và xã hội. Nó được đánh giá như là bức tường xanh vững chắc bảo vệ bờ biển, đê
biển, hạn chế xói lở và các tác hại của bão lụt. Do vậy, rừng ngập mặn đóng một
vai trò quan trọng đối với cuộc sống của hàng triệu người dân nghèo ven biển Việt
Nam.
Tuy nhiên, dưới sức ép của việc phát triển đô thị và công nghiệp, dân sinh,
hơn 50% diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam mất đi vì những nguyên nhân do
con người gây ra. Rừng ngập mặn đã bị khai thác quá mức hoặc chuyển sang nhiều
dạng sử dụng đất khác trong đó có nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng
trên cạn,…Điển hình là phá rừng để nuôi tôm nên rừng ngập mặn của Việt Nam có
400.000 ha, hiện nay còn lại trên 175.000 ha [8].
Tại Trung Bộ có diện tích rừng ngập mặn 3000 ha chiếm 2% diện tích rừng
cả nước. Trong đó, rừng ngập mặn xã Tam Hải huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam
trước đây có diện tích khá lớn ( 22,7 ha) và rất đa dạng về chủng loại. Nhưng
những năm gần đây do nhiều lý do và chưa hiểu hết giá trị nhiều mặt của hệ sinh
thái rừng ngập mặn, hoặc do những lợi ích kinh tế trước mắt, đặc biệt là nguồn lợi
từ tôm nuôi xuất khẩu nên diện tích rừng ngập mặn suy giảm mạnh gây ra nhiều
đột biến bất lợi cho môi trường sinh thái về kinh tế - xã hội của xã Tam Hải nói
riêng và huyện Núi Thành nói chung.
Để chấm dứt tình trạng phá rừng như hiện nay đồng thời, bảo vệ và khôi
phục diện tích RNM là một việc làm khó khăn, tốn kém, mất thời gian. Đòi hỏi
phải có nhiều nghành, nhiều cấp nhiều người tham gia theo một chương trình
thống nhất mới giải quyết được vấn đề bức xúc này.

còn có những vai trò quan trọng khác như :
RNM là “lá phổi xanh” rất quan trọng trong việc làm giảm thiểu ô nhiễm
môi trường, nó giúp tiêu thụ một lượng đáng kể các khí thải độc hại và làm tăng
lượng Oxi cho chúng ta. Nhằm giúp giảm bớt hiện tượng nóng lên của trái đất và
ngăn ngừa tình trạng dâng lên của nước biển gây ảnh hưởng đến đời sống của
những người dân ven biển.
RNM đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, cung cấp chất
hữu cơ để tăng năng suất nuôi trồng, phát triển kinh tế vùng ven biển.
Rừng ngập mặn ổn định bờ biển và thúc đẩy quá trình bồi đắp phù sa, phân
tán bớt năng lượng của sóng, gió và thuỷ triều. Giúp bảo vệ động vật khi nước triều
lên cao và sóng lớn ví dụ nhiều loài động vật sống trong hang hoặc trên mặt bùn
khi điều kiện thời tiết bất lợi, nước triều cao, sóng lớn đã trèo lên cây để tránh sóng
như cá Lác, các loại Còng, Cáy, Ốc. Giúp cho tính đa dạng trong hệ sinh thái rừng
ngập mặn tương đối ổn định.
Nhờ bộ rễ nó còn giúp cản các loài trầm tích lắng đọng, giữ hoa lá, cành
rụng trên mặt bùn và phân hủy tại chỗ giúp tăng chất dinh dưỡng cho đất.
Tóm lại, rừng ngập mặn có vai trò hết sức to lớn đối với tự nhiên. Vì vậy,
bảo vệ rừng ngập mặn là nhiệm vụ quan trọng trong mỗi con người chúng ta.
2.1.2. Đối với con người
Rừng ngập mặn đóng một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của hàng
triệu người dân nghèo ven biển Việt Nam. Rừng ngập mặn (RNM) cung cấp cho
con người rất nhiều hàng hoá và dịch vụ môi trường. RNM được sử dụng làm củi
đốt, vật liệu làm nhà ở nông thôn, và quan trọng đây chính là nơi sinh sản, nuôi
dưỡng, và nó đem lại lợi nhuận kinh tế rất cao, cung cấp nguồn hải sản phong phú
để sử dụng trong nước và xuất khẩu (Lee, 1995; Rasolofo, 1997; Slim et al., 1997;
Athithan & Ramadhas, 2000).
Ngoài ra, ta có thể thu nhập từ các nguồn khác như : nuôi ong lấy mật, bán
cây giống, khai thác măng tre, khai thác gỗ cốp pha từ cây phi lao và số lượng lớn
than củi… Trong số 51 loại cây rừng có 30 loài cung cấp gỗ, củi, than, 14 loại
cung cấp tannin, 24 loài có thể sử dụng làm phân xanh nông nghiệp, 15 loài có thể

Tóm lại, qua những nguyên cứu trên ta thấy được vai trò quan trọng của hệ
sinh thái rừng ngập mặn. Vì vậy bảo vệ được hệ sinh thái này là bảo vệ được độ ổn
định, cân bằng của cả hệ thống kinh tế và hệ thống môi trường trong quá trình phát
triển khu vực .
2.2. TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG RNM TRÊN THẾ GIỚI VÀ
VIỆT NAM
2.2.1. Tình hình khai thác và sử dụng RNM trên Thế Giới
Rừng ngập mặn là một trong những hệ sinh thái rất quan trọng ở vùng ven
biển nhiệt đới và á nhiệt đới. Thế giới có khoảng 18 triệu ha, các nước Đông Nam
Á chiếm 35% diện tích (Spalding, 1997). Trong đó, vùng Ấn Độ Dương có rừng
ngập mặn đa dạng nhất với trên 50 loài cây.
Rừng ngập mặn đã và đang đối mặt với nhiều thách thức như diện tích rừng
ngập mặn trên thế giới liên tục suy giảm. Trong 5 năm 1990 đến 1995, đã có 13,7
triệu ha rừng bị mất đi (FAO (1997). Rừng mất do các yếu tố thiên nhiên, tác động
của con người (nuôi thuỷ sản, nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, đô thị hoá…… ,)
Trong vài thập kỷ gần đây, rất nhiều khu vực ven biển này đã chịu sức ép
ngày càng tăng của việc phát triển đô thị và công nghiệp. Hơn 50% diện tích rừng
ngập mặn đã mất đi vì những nguyên nhân do con người gây ra. Rừng ngập mặn đã
bị khai thác quá mức hoặc chuyển sang nhiều dạng sử dụng đất khác trong đó có
nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối, trồng rừng trên cạn, phát triển đô thị
và công nghiệp. Đó là còn chưa kể hết rừng bị phá để làm đường xây dựng đê,
mương. Diện tích rừng ngập mặn đã bị giảm từ 20 đến 75% ở nhiều nước châu Á
đang phát triển và vùng biển Caribê [10].
Dựa vào việc tính toán trên bản đồ ảnh vệ tinh và các số liệu thu thập được
gần đây Spalding và cs (1997) đã lập bảng thóng kê tổng diện tích rừng ngập mặn
các vùng trên thế giới là 181.077 km2.
Bảng 2.1: Diện tích RNM trên thế giới

Vùng Diện tích rừng
ngập mặn(km2)

Việt Nam và Malaysia lại trải qua thời kỳ phá rừng tăng lên và nằm trong số năm
quốc gia đứng đầu về diện tích rừng bị mất trong thập niên 1990 và giai đoạn
2000-2005. FAO (Tổ chức nông lương thế giới) chỉ ra rằng áp lực dân số cao, sự
chuyển đổi quy mô lớn một diện tích rừng ngập mặn sang nuôi trồng tôm cá, nông
nghiệp, cơ sở hạ tầng và du lịch, cũng như ô nhiễm và các thảm họa tự nhiên là
những nguyên nhân chính dẫn đến tàn phá rừng ngập mặn [20].
Như vậy, do áp lực vấn đề dân số và quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá
con người đang ngày càng tác động đến RNM. Vì vậy, diện tích RNM suy giảm
đáng kể.
2.2.2. Tình hình khai thác và sử dụng RNM tại Việt Nam
Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển kéo dài, có điều kiện tự nhiên phù
hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài cây ngập mặn. Tổng diện tích
rừng ngập mặn của nước ta là 400.000 ha. Tuy nhiên, trong những năm qua do
nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan đã tác động vào hệ sinh thái RNM làm
cho diện tích RNM của nước ta bị suy giảm đáng kể.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp&Phát triển Nông thôn (NN - PTNT) cho
thấy, năm 1943 diện tích RNM Việt Nam trên 400.000 ha, đến năm 1996 giảm còn
290.000 ha và 279.000 ha vào năm 2006. Như vậy, diện tích RNM nước ta bị suy
giảm rất lớn gần 50 %.
Bảng 2.2: Diện tích RNM trên lãnh thổ Việt Nam
Phân bố các tỉnh,thành phố Diện tích RNM Tỷ lệ (%)
Ven biển Bắc Bộ 43.811 ha 28.1%
Ven biển Trung Bộ 3.000 ha 2%
Ven biển Nam Bộ 82.387 ha 53%
(Nguồn: Paul Maurand, 1943; Rollet, 1962; Viện điều tra Quy hoạch rừng,
1982, 1999)
Qua bảng 2.2 ta thấy lượng rừng ngập mặn tại ven biển Nam Bộ là rất lớn và
lớn hơn rất nhiều so với rừng ngập mặn ven biển Trung Bộ, trong khi đó rừng ngập
mặn tại ven biển Bắc Bộ bằng một phần hai diện tích rừng ngập mặn tại ven biển
Nam Bộ.

phong phú và giàu tiềm năng nhưng trong nhiều năm qua, do việc khai thác thiếu
kế hoạch và khoa học đã làm cho hệ sinh thái ở đây đã bị phá vỡ và suy giảm
nghiêm trọng ... , gần đây đã bị gần 100 gia đình phá rừng để làm đầm tôm nên
diện tích rừng ngập mặn hiện nay chỉ còn 5ha [16].
Theo số liệu của ngành Nông nghiệp, đến năm 2000, toàn tỉnh Khánh Hoà
chỉ còn 11,5 ha rừng ngập mặn, trong đó huyện Vạn Ninh còn 11 ha, Cam Ranh
0,5 ha. Hiện nay, diện tích rừng ngập mặn ở Khánh Hoà đã thu hẹp rất nhiều.
Chính tình trạng đào đất, thay đổi diện mạo địa hình, ngăn dòng chảy đã triệt hạ
hàng loạt khu rừng ngập mặn mà khả năng tái tạo cực kỳ khó. Sự việc càng bi đát
hơn khi việc nuôi tôm thất bát, hàng nghìn ha đất đìa bị bỏ hoang khiến cả một
vùng ven biển trước đây xanh tươi, trù phú bây giờ tiêu điều [17].
Ở Đầm Nại (Ninh Thuận) hơn 200ha rừng ngập mặn tạo vành đai rộng hàng
trăm mét bảo vệ cho đầm không bị xói lở, nay đã thay thế bằng các đầm tôm bán
thâm canh, chỉ còn lại vài vệt đước và mắm chưa đầy 2ha [15].
Rừng ngập mặn ở Cần Giờ thuộc huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh.
Từ một vùng rừng ngập mặn trù phú với diện tích gần 40.000ha vào những năm
1940, do bị phá huỷ bằng thuốc diệt cỏ và chất làm rụng lá trong chiến tranh đã trở
thành một vùng đất hoang có diện tích 35.000ha và 4.500 ha chỉ toàn cây dương xỉ
(Acrostichum) sau năm 1970 (Dao. P.T.A. 2000).Bắt đầu từ năm 1978, đã tiến
hành trồng lại 20.000 ha rừng ngập mặn ở Cần Giờ và đến năm 1988 rừng ngập
mặn ở đây đã phát triển tốt và có thể khai thác được. Tiếp đó, từ năm 1993 đến
năm 2000, khoảng 64.000 ha rừng ngập mặn đã được trồng tại châu thổ sông
Hồng, chủ yếu là vùng ven biển các tỉnh Thái Bình, Nam Định và Hải Phòng. Kết
quả là đến năm 2000, UNESCO đã công nhận Rừng ngập mặn Cần Giờ là Khu dự
trữ sinh quyển, và đây cũng là Khu dự trữ sinh quyển đầu tiên ở nước ta [13].
Ở Cà Mau, trong vòng 12 năm (1983-1995), đã có 66.000 ha rừng bị chặt
phá để chuyển sang nuôi tôm (Hồng, 1999). Năm 1998, có đến 120.000 ha ao nuôi
nằm trong khu vực đất rừng (Bửu, 2000). Năm 1999, Cà Mau có 130.000 ha đất
rừng, tuy nhiên chỉ có 58.285 ha đất được phủ rừng (Bình, 1999)[12].
Tóm lại, diện tích rừng ngập mặn Việt Nam suy giảm rất đáng kể, hiện nay

kiện sống và lao động của họ.
Học hỏi nhanh và tích cực bằng sự khám phá, sử dụng mềm dẻo các kỹ
thuật PRA, tạo cơ hội tham gia, tạo mối quan hệ tương tác và kiểm tra chéo.
Loại bỏ thành kiến bằng sự lắng nghe chứ không giảng dạy, bằng sự thăm dò
thay cho sự bất cần, quan tâm đến người nghèo, người bị thiệt thòi, phụ nữ và học
hỏi từ họ về những quan tâm và ưu tiên.
Sử dụng tối ưu các kỹ thuật và công cụ tức là phải cân nhắc giữa số lượng,
sự hợp lý, sự chính xác và thời gian.
Sử dụng phép kiểm tra chéo các thông tin.
Luôn tìm kiếm mọi mặt từ người dân, nghĩa là tìm tòi, học hỏi từ những
điểm không hợp lý, những người không ủng hộ, những người đứng ngoài cuộc …ở
mọi tình huống.
Hãy để cho dân tự làm, nghĩa là tạo điều kiện cho người dân tự điều tra, tự
đánh giá, tự phân tích, trình bày và học hỏi từ đó họ tự đưa ra kết quả và là chủ sở
hữu của các kết quả đó, vai trò của tác viên chỉ là hướng dẫn người dân cách làm,
thúc đẩy và tạo điều kiện cho họ tự làm, tự phân tích…
Hãy luôn tự vấn mình, nghĩa là tác viên cộng đồng hãy luôn tự kiểm tra
mình và tự phê bình về thái độ, phong cách, cách ứng xử khi cùng làm việc với
người dân.
Hãy chịu trách nhiệm cá nhân, nghĩa là mỗi tác viên cộng đồng phải tự chịu
trách nhiệm với chính công việc của mình làm, không đổ lỗi cho người khác.
Cùng chia sẻ, nghĩa là tạo cơ hội cùng làm việc, cùng chung sống, chia sẻ
suy nghĩ, tình cảm, tâm tư giữa người dân với nhau, giữa người dân với tác viên
cộng đồng.
Sử dụng các công cụ PRA một cách mềm dẻo, linh hoạt và sáng tạo, nghĩa
là không lựa chọn, sử dụng một cách máy móc tùy theo bối cảnh, điều kiện, đặc
tính con người của địa phương.
Dưới đây là những công cụ được áp dụng điều tra trong phương pháp PRA :
Quan sát trực tiếp
Quan sát trực tiếp được vận trong kỷ thuật PRA là quan sát một cách có hệ

SWOT là một công cụ để giúp cộng đồng xác định những thuận lợi và bất
lợi bằng cách phân tích những ảnh hưởng “bên trong” ( mặt mạnh, mặt yếu ) và
những ảnh hưởng “bên ngoài” (cơ hội, rủi ro) mà nó gây tác động đến tiến trình
phát triển.
Cây vấn đề
Cây vấn đề có thể được dùng để xác định cảm nhận của người dân về
nguyên nhân của các vấn đề / khó khăn mà người dân trong thôn gặp phải, cảm
nhận của người dân về tác động của các vấn đề / khó khăn mà người dân gặp phải,
mối liên kết giữa những nguyên nhân và tác động khác nhau của vấn đề / khó khăn.
Bảng hỏi
Bảng hỏi được dùng để lấy thông tin trực tiếp từ một cá nhân hoặc một
nhóm nhỏ, sử dụng những bộ câu hỏi có phạm vi rộng để hướng dẫn các cuộc trao
đổi, cho phép đưa ra những câu hỏi mới như là kết quả của cuộc thảo luận. Các
cuộc phỏng vấn bán cấu trúc có vai trò quan trọng, đặc biệt trong việc tăng cường
sự hiểu biết sâu về những vấn đề định tính. Vì những cuộc phỏng vấn có tính mở
(mặc dù được dẫn hướng thông qua một danh sách những điểm cần kiểm tra), nên
các cuộc phỏng vấn này rất hữu ích đối với việc đánh giá.
2.4. TỔNG QUAN VỀ HUYỆN NÚI THÀNH - TỈNH QUẢNG NAM

trồng thủy sản, cũng là nơi hội tụ tàu thuyền ra vào đánh bắt hải sản, tạo điều kiện
cho các ngành công nghiệp chế biến và ngư nghiệp phát triển và giao lưu với các
vùng lân cận.
Đồng thời huyện Núi Thành có tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua và các
tỉnh lộ thông suốt khác, giao thông đường biển cũng khá thuận lợi với một cảng
tương đối lớn là cảng Kỳ Hà, lại có thêm sân bay Chu Lai và khu kinh tế mở Chu
Lai thuận lợi cho việc thu hút đầu tư và xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng đầy
đủ. Do đó, vị trí của huyện đã hội tụ đủ các điều kiện về tự nhiên cũng như kinh tế
- xã hội thuận lợi chi việc nuôi trồng nhiều loài thủy sản và dễ dàng giao lưu buôn
bán với các khu vực lân cận. Đó là một tiền đề quan trọng để phát triển một Núi
Thành trong tương lai.
Tuy nhiên vị trí của huyện Núi Thành lại nằm trong khu vực chịu ảnh
hưởng của chế độ gió mùa, khí hậu nóng ẩm mưa nhiều và mưa theo mùa. Lưu vực
các sông thường nhỏ (50 – 100 km2) và độ dốc lớn, hằng năm thường bị ảnh
hưởng bởi những trận bão lớn kết hợp với lũ lụt gây xói lở, đất đai bị bào mòn, ảnh
hưởng lớn đến sản xuất và dân cư sinh sống trên địa bàn [1; 2; 4].
2.4.1.2. Địa chất
Khu vực nghiên cứu có hai hệ địa tầng:
Hệ tầng đá biến chất Cambri sớm: Đây là loại đá phiến kết tinh màu
xám sẫm phớt xanh. Loại đá này phân bố ở rìa Đông Bắc mũi An Hòa, rìa đảo Hòn
Dứa. Mặc dù hiện nay chưa tìm được hóa thạch và không có tài liệu định tuổi
nhưng các đặc điểm của loại đá này tương tự như đá của hệ tầng A Vương có tuổi
Cambri cho nên tuổi của đá này được giả định là tương đương với tuổi của hệ tầng
A Vương.
Hệ tầng đá phun trào bazan và đá trầm tích núi lửa Pliocen –
Pleixtocen hạ: Đây là đá bazan đã bị phong hóa. Phần trên đã bị biến thành đất sét
alit – feralit màu vàng loang lỗ. Bề dày của lớp đất phong hóa này có nơi tới gần
40 m. Dưới lớp đá phong hóa này là đá laterit với sỏi sạn màu nâu sẫm gắn kết
chắc. Lớp laterit này tại nhiều nơi lộ ra trên bề mặt do hoạt động của nước biển mài
mòn lớp đất phong hóa ở trên. Bề dày của lớp đá laterit này cho đến nay vẫn chưa

Hải, Tam Quang như đảo hòn Ngang, Hòn Dứa, Bàn Than...
Hệ thống sông ngòi chảy qua huyện gồm sông Tam Kỳ, sông Trường Giang,
sông Ba Túc, sông An Tân, sông Trâu. Các con sông này đều bắt nguồn từ phía
tây, tây bắc chảy về phía đông đỏ ra biển qua cửa An Hòa và cửa Lỡ.
Các sông đều có lưu vực nhỏ từ 50 đến 100km2, độ dốc lớn, chiều dài từ 20 đến 40
km, lưu lượng nước thay đổi theo mùa. Một số con sông được ngăn lại ở thượng
nguồn làm hồ chứa nước như : hồ Phú Ninh trên sông Tam Kỳ, hố Thái Xuân trên
sông Trầu. Các dòng sông của huyện đều hội tụ về phía đông tạo nên những vùng
xoáy bồi đắp nên những cồn cát và tạo ra các đầm phá ở các xã Tam Quang, Tam
Anh Nam, Tam Anh Bắc, Tam Hòa, Tam Giang, Tam Hải, Tam Tiến.
Địa hình ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành các loại đất, các thảm thực
vật, các tiểu vùng khí hậu, chế độ nước, độ ẩm, thành phần cơ giới đất. Ngoài ra
yếu tố địa hình còn ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy bề mặt gây nên bồi lắng hay
xói mòn rửa trôi. Vì vậy, địa hình có vai trò hết sức quan trọng trong việc hình
thành các vùng kinh tế.
Do đặc điểm địa hình của Huyện cao theo hướng Tây Nam, thấp dần về
hướng Đông Bắc nên hầu hết sông ngòi đều bắt nguồn từ phía Tây và Tây Bắc. Địa
hình chia cắt mạnh từ đó hình thành nên các vùng sản xuất theo những cơ cấu nhất
định.
Vùng sản xuất nông – lâm ở phá Tây gồm các xã Tâm Thạnh, Tam trà, Tam
Sơn, Tam Mỹ Đông, Tam Mỹ tây, Tam Thạnh.
Vùng sản xuất nông nghiệp và kết hợp nuôi thủy sản ở khu vực đồng bằng gồm các
xã Tam Xuân 1, Tam Xuân 2, Tam Anh Bắc, Tam Anh Nam, Tam Hiệp, Tam
Nghĩa. Khu vực này tương đối bằng, chủ yếu là các cánh đồng phù sa.
Vùng sản xuất nông, nuôi trồng thủy sản và ngư nghiệp thuộc khu vực đầm
phá và vùng ven biển gồm các xã Tam Tiến, Tam Hòa, Tam Hải, Tam Quang, Tam
Giang. Khu vực này nằm trong vùng đầm phá và của sông ven biển nên có địa hình
thấp hơn.
Vùng sản công- nông- thương mại-dịch vụ ở khu vực trung tâm huyện là
cảng Kỳ Hà gồm các xã Tam Quang thị trấn Núi Thành và Tam Nghĩa. Đây là khu

b. Số giờ nắng
Tổng số giờ nắng trong năm là 2203 giờ, tập trung từ tháng II đến tháng VIII
hằng năm Tháng có nắng ít nhất là tháng X, XI, XII và tháng có nhiều nắng nhất là
tháng V, VI, VII, XIII. Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng XII (độ ẩm tương đối
90%). Tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng VII (độ ẩm tương đối 76%).
Tổng lượt bốc hơi trung bình năm là 1.361 mm. Những tháng có lượng bốc hơi cao
nhất là tháng V, VI, VII, VIII, tháng có lượng bốc hơi thấp nhất là tháng XI, XII, I.
c. Chế độ mưa
Mùa mưa kéo dài từ tháng IX đến tháng XII, tháng X có lượng mưa cao
nhất (720 mm). Tổng lượng mưa trung bình năm 2531,5 mm. Số ngày mưa trung
bình trong năm là 140 ngày, lượng mưa tháng X và tháng XI chiếm đếm 50,4%
lượng mưa cả năm. Trong một năm trung bình có 140 - 145 ngày mưa, tháng có số
ngày mưa nhiều nhất là tháng X, XI và XII, mỗi tháng có từ 20 - 21 ngày mưa.
Tháng có số ngày mưa ít nhất là các tháng III, IV, mỗi tháng có 5 - 6 ngày mưa.
Mùa khô kéo dài từ tháng I đến tháng VIII, lượng mưa thấp nhất là vào
tháng III (trung bình 38 mm). Tổng lượng mưa vào mùa khô chỉ chiếm 30 đến 35%
lượng mưa năm. Trong mùa khô vào các tháng V, tháng VI thường có những đợt
mưa tiểu mãn, bổ sung lượng nước đáng kể cho mùa khô.
Lượng mưa năm lớn lại tập trung dẫn đến hiện tượng lũ, lụt vào mùa mưa
nên vào thời điểm này cần đặc biệt chú ý đến mùa vụ nuôi tôm đặc biệt là ở các xã
nằm ở hạ lưu các con sông.
Bảng 2.3: Các yếu đặc trưng cho chế độ khí hậu ở huyện Núi Thành

Tháng

Số giờ
nắng
(giờ)
Nhiệt độ
TB

d. Chế độ gió
Chế độ gió ở huyện Núi Thành phân thành 2 mùa rõ rệt:
- Mùa gió Tây Nam: Hoạt động từ tháng III đến tháng VII, có năm mùa gió
Tây Nam bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn bình thường. Hướng gió thịnh
hành là Tây, Tây Nam.
- Mùa gió Đông Bắc: Hoạt động từ tháng X đến tháng II năm sau, có khi
kéo dài đến tháng III nhưng ổn định nhất là từ tháng XII đến tháng II năm sau.
Hướng gió thịnh hành là Bắc và Tây Bắc.
Ngoài ra, xen giữa hai hướng gió thịnh hành trên là gió Đông, Đông Nam.
Còn tùy theo địa hình mà gió phân bố thêm một số hướng khác nhưng tần suất
không lớn.
Tốc độ gió trung bình năm ở khu vực dự án trung bình từ 1,6 – 2,0 m/s, gió
lớn thường xuất hiện trong bão, áp thấp nhiệt đới hoặc khi có gió lốc.
Ngoài ra trong năm còn có gió Tây Nam hoạt động gây khô nóng trong khu
vực. Trong ngày đêm cũng có sự thay đổi hướng gió do quá trình hấp thụ và bức
xạ tạo nên chênh lệch áp suất ở khu vực đồng bằng và ven biển. Song yếu tố này
không ảnh hưởng lớn đến việc bố trí sản xuất.
e. Thời tiết đặc biệt
Dông: Dông xuất hiện sớm nhất vào cuối tháng III, muộn nhất vào cuối
tháng XI. Dông thường xảy ra nhiều nhất từ tháng V đến tháng IX. Đáng chú ý là
các cơn dông trong những tháng này thường gây nên gió giật mạnh (có khi lên đến
cấp 10 cấp 11) và mưa dữ dội. Hàng năm có khoảng 75 - 80 ngày có dông.
Bão: Bão thường xuất hiện từ tháng IX đến tháng XII, xuất hiện nhiều nhất
vào tháng X và tháng XI thường kèm theo mưa lớn gây ra hiện tượng lũ lụt. Trung
bình hằng năm thường xuất hiện 1 - 2 cơn bão đổ bộ trực tiếp và 2 - 3 cơn bão hoặc
áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến khu vực. Loại thời tiết này đặc biệt ảnh hưởng rất
lớn đến hoạt động sản xuất của huyện đặc biệt là hoạt động nuôi thủy sản nói
chung và nuôi tôm nói riêng. Do diễn biến bất thường của thời tiết, có những năm
xuất hiện bão và và áp thấp nhiệt đới trái mùa ảnh hưởng đến khu vực từ rất sớm
vào các tháng V, tháng VI. Những cơn bão hay những trận lụt lớn đến sớm sẽ gây

Tam Trà huyện Núi Thành, rồi theo hướng Tây Bắc – Đông Nam chảy ra cửa An
Hòa. Diện tích lưu vực khoảng 800 km 2. Do trong năm, vùng này có nhiều mưa
nhưng rừng đầu nguồn ít bị tàn phá nên dòng chảy tương đối điều hòa theo mùa.
Lưu lượng lớn nhất của sông Tam Kỳ là 20,7 m3/s.
Các dòng sông của huyện đều hội tụ về phía Đông tạo nên những vùng xoáy
bồi đắp nên những cồn cát và tạo ra các đầm ở các xã Tam Quang, Tam Anh Nam,
Tam Anh Bắc, Tam Hòa, Tam Giang, Tam Hải, Tam Tiến. Nhật triều xảy ra trong
tháng X khoảng 15 ngày, còn lại đều là bán nhật triều không đều. Mức nước trung
bình 1,2 m, cường độ triều lớn là 1,2 – 2 m, triều kém là 0,5 m. Tốc độ dòng chảy
trung bình 0,2 - 0,3 m/s, tốc độ cực đại 2,5 m/s. Nước dâng khi có gió bão lên tới
1,5 - 3m.
Do đặc điểm của khí hậu khu vực nên lượng nước của các sông thay đổi theo
mùa và được ngăn lại ở thượng nguồn làm cho lượng nước ở hạ lưu bị hạ thấp,
đồng thời chịu tác động của thủy triều gây nhiễm mặn ở vùng cửa sông và đầm
phá.
Các sông trong huyện nối với nhau và đổ ra biển. Chính vì vậy mà các sông
này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ thủy triều, hàng năm triều ảnh hưởng rất
sâu vào các sông mang theo một lượng muối rất lớn đã tạo cho các sông đi qua
huyện có độ mặn tương đối thích hợp cho nuôi trồng thủy sản nước lợ.
Chế độ thủy triều ở huyện Núi Thành là bán nhật triều không đều. Mỗi ngày
có hai lần nước lên xuống với hai đỉnh triều: một đỉnh cao và một đỉnh thấp. Mỗi
tháng có hai lượt triều cường và thời điểm đầu và giữa tháng âm lịch. Đỉnh triều
cao nhất khoảng 1,5 m, biên độ triều cao nhất là 0,8 m, số ngày có con nước cường
trong tháng trung bình khoảng 7 – 10 ngày. Tuy nhiên chế độ bán nhật triều không
đều gây ảnh hưởng không tốt đến quá trình cấp thoát nước trong ao nuôi, làm cho
người nuôi khó dự đoán được chế độ nước để có thể quyết định xả nước trong ao ra
hay lấy thêm nước vào sao cho vừa có đủ lượng nước cần thiết lại vừa không gây ô
nhiễm môi trường. Bởi vì nếu lúc xả nước mà triều lên thì các chất bẩn từ trong ao
sẽ không được chuyển đi xa vậy thì hiệu quả xả nước sẽ không đạt. Vì vậy, người
nuôi tôm cần chú ý đến sự thất thường của thủy triều.

nông nghiệp chiếm tỉ lệ khá lớn (65,4 %). Tuy nhiên, nếu tính diện tích đất nông
nghiệp bình quân cho một hộ thì lại quá thấp chỉ khoảng 1,04 ha/hộ. Mặt khác, đất
ở đây chủ yếu là đất cát pha, đất bạc màu nghèo dinh dưỡng, tỉ lệ mùn trong đất
thấp nên rất không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây lúa
nước. Phần lớn các nhóm đất được hình thành ven sông, biển điều thích hợp cho
nuôi tôm nước lợ.
Diện tích đất mặt nước nuôi trồng thủy sản là 1.885,41 ha chiếm gần 5,4%
đất nông nghiệp. Trong đó, hơn 92,6% được dùng cho nuôi thủy sản nước lợ. Diện
tích đất chưa sử dụng toàn huyện là 7.313,06 ha chiếm 13,7% diện tích đất tự
nhiên. Diện tích này chủ yếu là đất hoang hóa, đất ngập mặn, đất kém dinh dưỡng.
Ngoài ra đất trong khu vực này là đất chua mặn có thành phần sét vật lý
thấp nên độ thấm nước cao, kết cấu rời rạc do đó khi cải tạo thành hồ nuôi tôm cần
gia cố xử lý chống thấm nước lỡ bờ cũng như bón vôi, cải tạo pH đất trước khi đưa
vào sử dụng. Với cơ cấu và đặc điểm đất đai Huyện như vậy, để nâng cao hiệu quả
sử dụng đất thì chính quyền địa phương cần phải có những phương án cụ thể như:
phối hợp với nhân dân nghiên cứu chuyển đổi một số diện tích đất trồng trọt kém
hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản hoặc các mục đích khác có hiệu quả hơn. Cần
nghiên cứu sử dụng triệt để diện tích đất chưa sử dụng, đầu tư đất đai theo chiều
sâu.
Nhóm đất phù sa: Nhóm đất này chiếm 3,59% diện tích các loại đất. Đất
phù sa được hình thành ven sông suối do quá trình bồi đắp sản phẩm từ đồi núi cao
đưa xuống phủ lên nền mà trước đây là cát biển có dạng hình lượn sóng do đó độ
dày mỏng phụ thuộc vào lượn sóng ấy. Thuộc nhóm này gồm có: Đất phù sa loang
lỗ đỏ vàng có glây (Pg), đất phù sa sông suối (Py), đất phù sa cổ (Pc). Nhóm đất
này được khai thác chủ yếu cho mục đích lâm nghiệp và lâm nghiệp.
Nhóm đất cát biển (Cc): Nhóm đất này chiếm diện tích khá lớn (22,23%)
diện tích các loại đất được hình thành ở ven biển và cửa sông, do hoạt động cửa
biển tạo thành các dải cát chạy dọc bờ biển. Có nơi được gió vun lên thành cồn cát
nổi ổn định. Đất này thường nghèo dinh dưỡng, giữ nước kém, khó sử dụng vào
mục đích nông nghiệp. Nhóm đất này phân bố chủ yếu dọc theo quốc lộ 1A về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status