Các nghệp vụ kiểm sóat tiền tệ hiện đại và xu thế sử dụng các công cụ đó hiện nay - Pdf 20

Mở đầu
Việt nam đã chuyển sang thời kỳ đổi mới kinh tế từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp sang nên kinh tế thị trường được hơn 10 năm. trong việc góp phần đạt được các
mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, chính sách tiền tệ của Ngân
hàng nhà nước Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc điều tiết lượng tiền cung
ứng, kìm chế lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền. Chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà
nước Việt Nam trong những năm gần đây đã có sự phát triển đúng hướng và phù hợp
với chính sách kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, bên cạnh đó việc điều hành chính sách tiền tệ
quốc gia còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa tỏ ra nhạy bén và các chính sách của Ngân
hàng nhà nước chưa linh thoạt. Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế ngày càng sôi
động thì việc điều hành chính sách tiền tệ từ các công cụ trực tiếp chuyển sang các
công cụ gián tiếp trong đó có việc áp dụng nghiệp vụ thị trường mở ngày càng trở nên
cấp bách. Điều này là phù hợp với quá trình cải cách hệ thống Ngân hàng, với việc
hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ trong giai đoạn mới. Nghiệp vụ thị
trường mở cho tới nay mới được thực hiện ở Việt Nam do các điều kiện khách quan
và chủ quan vừa chín muồi. Vì vậy đề tài “ áp dụng nghiệp vụ thị trường mở trong
thực hiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam” là một đề tài hết sức cần thiết cả về mặt lý
luận và thực tiễn để góp phần nâng cao hiệu qủa chính sách tiền tệ. Đây cũng là một đề
tài giúp cho các tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại, các sinh viên kinh tế
trong việc tiếp cận nghiệp vụ thị trường mở.
Chính vì những lý do trên mà em đã chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả hoạt động nghiệp
vụ thị trường mở của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam và giải pháp” với mong muốn
đóng góp tiếng nói của mình vào việc sử dụng Nghiệp vụ thị trường mở để ngày càng
hoàn thiện chính sách tiền tệ quốc gia. Đây là một vấn đề đang còn mới, do đó không
thể tránh khỏi những khiếm khuyết và hạn chế, em mong được sự giúp đỡ chỉ bảo của
các thầy cô.
Đề tài này đưa ra một số cơ sở lý luận và thực tiễn về thị trường mở để vận dụng
Nghiệp vụ thị trường mở – một công cụ gián tiếp có hiệu qủa của chính sách tiền tệ –
vào tình hình thực tế ở Việt Nam, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách
tiền tệ ở Việt Nam hiện nay.
Chương I:

thị trường mở ngày càng tăng lên, nó được sử dụng như công cụ chính sách tiền tệ ở ba
nước ban đầu này và sau đó trở thành xu hướng ở hầu hết NHTW các nước khác.
Điều này suất phát từ: hạn chế chính sách tái chiết khấu; sự mở rộng và hoàn
thiện của hệ thống thị trường tái chính; sự tăng lên của lượng chứng khoán chính phủ
và các chứng khoán có tính thanh khoản cao.
Cho đến nay Nghiệp vụ thị trường mở được sử dụng như một công cụ Chính sách tiền
tệ hiệu quả nhất ở hầu hết các NHTW của các nước.
2. Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở.
Theo nghĩa gốc thì cụm từ “Nghiệp vụ thị trường mở” chỉ các hoạt động giao
dịch chứng khoá của các NHTW trên thị trường mở. Thông qua hành vi mua , bán
chứng khoán này, NHTW có thể tác động trực tiếp đến dự trữ của hệ thống Ngân hàng
và gián tiếp đến lãi suất thị trường, từ đó mà có thể ảnh hưởng đến lượng tiền cung
ứng thông qua tác động cả về mặt lượng và về mặt giá. Về lý thuyết, các chứng khoán
là đối tượng giao dịch của NHTW, có thể là chứng khoán chính phủ, các chứng khoán
được phát hành bởi các doanh nghiệp hoặc Ngân hàng gồm cả chứng khoán ngắn hạn
và dài hạn. Các chủ thể trong giao dịch Nghiệp vụ thị trường mở có thể là Ngân hàng,
các doanh nghiệp hoặc các tổ chức phi tài chính khác.
Về mặt thực tế, Nghiệp vụ thị trường mở là hành vi giao dịch của NHTW trên
thị trường mở. Xét về hình thức thì thị trường mở là thị trường giao dịch các chứng
khoán nợ ngắn và dài hạn. Tuy nhiên, khác với các khái niệm có phạm vi và công cụ
giao dịch rõ ràng như thị trường chứng khoán hay thị trường tiền tệ, thị trường mở ở
các nước khác nhau về phạm vi, về loại hình công cụ và thời hạn của các công cụ giao
dịch trên thị trường.
Chẳng hạn, thị trường mở của Nhật Bản chỉ bao gồm các chứng khoán nợ ngắn hạn và
những người tham gia chỉ gồm các tổ chức tín dụng. Như vậy, ở Nhật thị trường mở là
một bộ phận của thị trường tiền tệ. Ngược lại ở Mỹ hoặc Đức cho phép giao dịch cả
các chứng khoán dài hạn trên thị trường mở . Xét theo thời hạn của chứng khoán nợ thì
thị trường mở ở những nước này bao gồm cả một phần của thị trường chứng khoán.
Theo cách này, khái niệm “ Nghiệp vụ thị trường mở” có ý nghĩa kinh tế khi nó gắn
với cụm từ “Nghiệp vụ thị trường mở”. Có nghĩa là, các giới hạn khác nhau về đối

trở lại đến lãi suất thị trường, tổng cầu AD và sản lượng.
Cơ chế tác động qua lãi suất khi NHTW bán tín phiếu kho bạc
III. Cơ chế hoạt động của Nghiệp vụ thị trường mở.
1. Các Nghiệp vụ thị trường mở.
Trong Nghiệp vụ thị trường mở phải có sự tham gia của NHTW bởi vì nếu không có
sự tham gia của NHTW thì khối lượng tiền tệ nói chung sẽ không thay đổi. Một
NHTW bản chứng khoán cho NHTM khác xét trong toàn cục chỉ là sự dịch chuyển
chứng khoán và di chuyển ngược lại của một phần dự trữ dư thừa từ NHTM này sang
NHTM khác đang thiếu vốn mà thôi.
Có hai loại Nghiệp vụ thị trường mở: Nghiệp vụ thị trường mở năng động nhằm thay
đổi mức dự trữ và cơ số tiền tệ, và Nghiệp vụ thị trường mở thụ động nhằm bụ lại
những chuyển động của nhân tố khác đã ảnh hưởng tới cơ số tiền tệ.
1.1 Giao dịch giấy tờ có giá
a. Các giao dịch không hoàn lại (hay các giao dịch muabán hẳn).
Các giao dịch này bao gồm các nghiệp vụ mua, bán các giấy tờ có giá của NHTW trên
thị trường theo phương thức mua đứt, bán đoạn trên cơ sở giá thị trường. Hình thức
giao dịch này làm chuyển hắn quyền sở hữu đối với các chứng khoán là đối tượng giao
dịch. Vì vậy ảnh hưởng của nó đối với dự trữ các Ngân hàng là dài hạn các giấy tờ đó
phải là các công cụ nợ có mức rủi ro thấp và phải được phát hành bởi các tổ chức đủ
điều kiện theo quy định
b. Các giao dịch có hoàn lại (giao dịch có kỳ hạn).
Phương pháp này chủ yếu được sử dụng cho mục đích giao dịch tạm thời là các hợp
đồng mua lại. Hợp đồng mua lại được sử dụng khi NHTW thực hiện một giao dịch
theo hợp đồng mua lại, có nghĩa là nó mua chứng khoán từ người môi giới trên thị
trường, người đồng ý sẽ mua lại vào một ngày trong tương lai.
Giao dich mua mua bán có kỳ hạn tồn tại dưới dạng:
Thứ nhất: Mua bán theo hợp đồng mua lại: Là việc NHTW ký hợp đồng mua bán
với người giao dịch và ngươi giao dịch đồng ý mua lại các giấy tờ có giá của NHTW
vào một ngày xác định trong tương lai.
Thứ hai : Mua bán theo hợp đồng mua lại đảo ngược : là việc NHTW bán các giấy tờ

số tiền trên cơ sở chấp nhận mức lãi suất cho trước. Việc phân phối thầu đối với một
phiên thầu có lãi suất cố định được tiến hành như sau: Nếu người giao dịch chấp nhận
mức lãi suất ma HNTW đưa ra và họ đặt mức khối lượng giao dịch.Sau đó toàn bộ số
đăng ký đặt thầu được cộng lại với nhau. Nếu tổng số đặt thầu nhỏ hơn khối lượng
HNTW cần can thiệp thì toàn bộ đơn đặt thầu đều được phân phối.Nếu ngược lại thì
phải phân bổ.
c.Đấu thầu lãi suất .
Các tổ chức tham gia đấu thầu tự đăng ký số tiền ứng với mức lãi suất mình chọn. Đối
với đấu thầu nhằm cung ứng thêm vốn khả dụng, các số lượng đặt thầu được
sắp sếp theo thứ tự và được phân phối theo các mức lãi suất cao sẽ được ưu tiên phân
phối trước cho đến khi số lượng phân phối được sử dụng hết .
Trong đấu thầu lãi suất, NHTW có thể áp dụng dưới hình thức một giá (phương thức
Hà Lan) hoặc nhiều giá(phương thức Mỹ)
3. Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở.
a. Tín phiếu kho bạc.(TB)
Tín phiếu kho bạc là giấy nhận nợ do chính phủ phát hành để bù đắp thiếu hụt tạm thời
trong năm tài chính. Thời hạn của tín phiếu thông thường là dưới 12 tháng. Đây là
công cụ chủ yếu của Nghiệp vụ thị trường mở của hầu hết NHTW các nước vì:
-Tín phiếu kho bạc có tính thanh khoản cao.
-Được phát hành định kỳ với khối lượng lớn và vì thế có thể thoả mãn nhu cầu
can thiệp của NHTW với liều lượng khác nhau.
Bộ tài chính là người có vai trò quan trọng trong việc xác định khối lượng phát hành,
thanh toán lãi và gốc của tín phiếu. Tín phiếu kho bạc được phát hành hàng tuần để chi
trả các khoản nợ ngắn hạn của chính phủ.
Vì vậy, khối lượng tín phiếu này thay đổi tuỳ theo nhu cầu vay mượn của chính phủ và
sự hạn chế tốc độ tăng trưởng của các nhà chức trách tiền tệ.
b. Chứng chỉ tiền gửi. (CD).
Chứng chỉ tiền gửi là giấy nhận nợ của Ngân hàng hay các định chế tài chính phi ngân
hàng, xác nhận món tiền đã được gửi vào ngân hàng trong một thời gian nhất định với
một mức lãi suất định trước. Thời hạn của chứng chỉ tiền gửi thường là ngắn hạn. Sự

Một là, do cạnh tranh trên thị trường tài chính ngày càng trở nên gay gắt, đặc biệt là
dưới ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hoá các hoạt động tài chính và sự xuất hiện nhiều
tổ chức cung cấp tài chính mới. Điều này đòi hỏi các tổ chức tài chính phải tìm kiếm
các công cụ mới thoả mãn nhu cầu thu hút vốn về các mặt: Thời hạn, mức độ rủi ro,
mức sinh lời, cách thức thanh toán nợ. Xu hướng này sẽ có ảnh hưởng đến sự thay đổi
cơ cấu hàng hoá trên thị trường mở.
4. Những người tham gia vào Nghiệp vụ thị trường mở.
Thị trường mở thực chất là thị trường tiền tệ mở rộng nên các chủ thể tham gia thị
trường này rất đông đảo, phong phú với nhiều mục đích khác nhau.
a. Các Ngân hàng thương mại.
Các NHTM tham gia thị trường mở nhằm điều hoà mức dự trữ ngân quỹ để duy trì khả
năng thanh toán, cho vay khoản vốn dư thừa để kiếm lãi. Đồng thời qua thị trường này
các NHTM thực hiện nghiệp cụ môi giới và kinh doanh chứng khoán.
Các NHTM đóng vai trò quan trọng trên thị trường mở vì:
NHTM là trung gian tài chính lớn nhất, nhận một số lượng khổng lồ vốn gửi và dùng
tiền gửi huy động được để cho khách hàng vay; NHTM là thành viên đặc biệt của thị
trường tiền tệ, vừa là người đi vay vừa là người cho vay.
b. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng .
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng bao gồm: Các công ty bảo hiểm, công ty tài chính,
quỹ đầu tư…Các tổ chức này coi thị trường mở như là nơi kiếm thu nhập qua việc sử
dụng vốn nhàn rỗi để mua, bán các chứng khoán có giá trị ngắn hạn hoặ dài hạn. Các
tổ chức này thường có khối lượng chứng khoán lớn và họ thường xuyên thay đổi cơ
cấu danh mục đầu tư nhằm đảm bảo mức sinh lời cao nhất và rủi ro dự tính thấp nhất.
Đó là động cơ của họ để tham gia vào Nghiệp vụ thị trường mở.
c. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lớn.
Các doanh nghiệp có nhu cầu bán chứng khoán để đổi ra tiền mặt hặc để kiếm lời
trong thời gian ngắn. Khi thừa vốn kinh doanh các doanh nghiệp có thể mua các loại
chứng khoán ngắ hạn như tín phiếu kho bạc, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi… để kiếm
lời.
d. Các hộ gia đình.

này là gián tiếp, không nhận được. Ví dụ trong nghịêp vụ chiết khấu, NHTW có thể
khuyến khích hoặc không khuyến khích các NHTM, chỉ thông báo lãi suất chiết khấu
mà không kiểm soát trực tiệp khối lượng cho vay chiết khấu.
Nghiệp vụ thị trường mở vừa linh hoạt vừa chính xác, có thể sử dụng ở bất kỳ quy mô
nào. Khi có yêu cầu thay đổi về dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ, dù ở mức nhỏ nào đi nữa,
Nghiệp vụ thị trường mở cũng có thể đạt đựơc bằng cách mua hoặc bán một lượng nhỏ
chứng khoán. Ngược lại, nếu có yêu cầu thay đổi dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ ở quy mô
lớn, NHTW cũng có đủ khả năng thực hiện đựơc thông qua việc mua hoặc bán một
khối lượng lớn tương ứng các chứng khoán.
Nghiệp vụ thị trường mở dễ dàng đảo chiều. Nếu NHTW có mắc phải sai sót nào đó
trong quá trình thưc hiện Nghiệp vụ thị trường mở thì có thể ngay tức khắc sửa chữa
sai sót đó. Ví dụ: Khi NHTW nhận thấy rằng, lãi suất trên thị trường tiền tệ (lãi suất
ngắn hạn) hiện đang quá thấp do vừa qua NHTW đã thực hiện việc mua quá nhiều trên
thị trường mở, thì có thể sửa chữa nó bằng cách bán ngay các giấy tờ có giá cho các
Ngân hàng.
Nghiệp vụ thị trường mở có tính an toàn cao: Giao dịch trên thị trường mở hầu như
không gặp rủi ro, đối với cả NHTW và NHTM, bởi vì cơ sở bảo đảm cho các giao dịch
trên thị trường mở đều là những giấy tờ có giá, có tính thanh toán cao, không có rủi ro
tài chính.
Nghiệp vụ thị trường mở có thể thực hiện một cách nhanh chóng không vấp phải sự
chậm chễ của các thủ tục hành chính. Khi NHTW quyết định muốn thay đổi dự trữ
hoặc cơ sở tiền tệ, NHTW chỉ cần đưa ra yêu cầu cho các nhà giao dịch chứng khoán
trên thị trường tiền tệ, và sau đó việc mua bán sẽ được thực thi ngay.
Chính vì các ưu điểm trên mà công cụ Nghiệp vụ thị trường mở đã được áp dụng vào
việc thực hiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam bắt đầu từ ngày 12-7-2000.
Chương II:THựC TRạNG Và GIảI PHáP PHáT TRIểN
NGHIệP Vụ THị TRƯờNG Mở ở VIệT NAM
I. Sự phát triển của các loại giấy tờ có giá ngắn hạn ở Việt Nam.
Cho đến nay các công cụ ngắn hạn ở Việt Nam còn rất đơn giản, đang ở giai đoạn đầu
và chưa thể hiện tính chất đầy đủ vốn có của nó. Nổi trội hơn cả là các loại tín phiếu

lượng TPKB phát hành.
Lãi suất TPKB từng bước được hạ dần cho phù hợp lãi suất thị trường, góp phần giảm
nhẹ gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên mức lãi suất chưa thật hợp lý nên
nhiều khi lượng đăng ký dự thầu cao nhưng lượng trúng thầu thấp hơn nhiều so với dự
kiến phát hành.
Thị trường tín phiếu hiện có chủ yếu là thị trường sơ cấp, chưa phải là thị trường thứ
cấp phục vụ đông đảo cho các tầng lớp dân cư.
Xu hướng sắp tới cần phát hành đều đặn TPKB với các kỳ hạn khác nhau:TPKB kỳ
hạn 91 ngày được phát hành trong tuần, TPKB kỳ hạn 182 ngày phát hành 2 tuần 1
lần, kỳ hạn 273 ngày phát hành 3 tuần 1 lần, kỳ hạn 364 ngày phát hành 4 tuần 1 lần,
mục đích là tăng hàng hoá cho thị trường tiền tệ.
2. Tín phiếu Ngân hàng nhà nước.
Tín phiếu Ngân hàng nhà nước là giấy nhận nợ ngắn hạn, có lãi suất do Ngân hàng nhà
nước phát hành nhằm tạo ra công cụ để điều hành thị trường tiền tệ theo mục tiêu
Chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Đây là tín phiếu chiết khấu được Ngân hàng nhà
nước bán thấp hơn là mệnh giá, giá bán được hình thành theo quan hệ cung-cầu về vốn
trên thị trường tiền tệ. Thời hạn của tín phiếu được xác định là 1,3,6 hoặc 9 tháng;
mệnh giá có nhiều loại mà tối thiểu là 500 triệu VND, tối đa là 10000 triệu VND.
Tổng giá trị phát hành từng đợt và mệnh giá cụ thể do thống đốc Ngân hàng nhà nước
công bố trước mỗi đợt phát hành. Các tín phiếu được bán dưới hình thức đấu giá theo
1 trong 2 phương thức: đấu giá khối lượng và đấu giá bán. Người mua tín phiếu là các
tài chính tín dụng có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước.
Trong những năm qua, số lượng tín phiếu Ngân hàng nhà nước được phát hành rất ít,
phát hành không thường xuyên. Các TCTD tham gia mua tín phiếu chủ yếu là NHTM
quốc doanh. Để trở thành công cụ điều hành thị trường tiền tệ có hiệu quả thì tín phiếu
Ngân hàng nhà nước phải đáp ứng hơn nữa cả về số lượng và chất lượng. Theo quy
chế phát hành tín phiếu Ngân hàng nhà nước số 362/1999 QĐ-NHNN đến ngày
8/10/1999 thì tín phiếu đựơc tự do mua bán chuyển nhượng, cẩm cố giữa các TCTD ,
được cầm cố để vay vốn hoặc chiết khấu tại Ngân hàng nhà nước, được sử dụng làm
công cụ nghiệp vụ thị trường mở. Thời hạn tín phiếu là dưới 1 năm, mệnh giá tối thiều

Đầu năm 2001, ban điều hành Nghiệp vụ thị trường mở quyết định tiến hành giao dịch
thường xuyên hàng tuần vào ngày thứ tư, từ đó giúp cho các thành viên chủ động theo
dõi, nắm bắt kịp thời thông tin về thị trường. Từ 1/10/2001 đến 15/2/2001, lượng vốn
khả dụng tiếp tục thiếu hụt do nhu cầu tiền mặt tăng NHNN tiến hành mua vào giấy tờ
có giá, chủ yếu là mua kỳ hạn. Từ 21/2 đến 14/3/2001, lượng vốn khả dụng có biểu
hiện dư thừa, NHNN thực hiện bán hẳn giấy tờ có giá đạt 470 tỷ đồng. Từ 21/3 đến
30/5/2001, do nhu cầu vốn khả dụng tăng, NHNN đã thực hiện mua có kỳ hạn giấy tờ
có giá với tổng giả trị đạt 745 tỷ đồng. Qua những diễn biến của thị trường mở trong
năm 2001 ta thấy hoạt động của Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện tương đối
linh hoạt đã đáp ứng phần nào nhu cầu về vốn khả dụng, cũng như giải quyết được 1
phần lượng vốn khả dụng dư thừa của các tổ chức tín dụng trong 1 số thời kỳ, từ đó
góp phần thực hiện các mục tiêu mà NHNN đặt ra, ổn định thị trường tiền tệ và hoạt
động ngân hàng.
Trong năm 2002, tính đến ngày 5/9, Ngân hàng nhà nước đã tổ chức 52 phiên giao
dịch. Tháng 5/2002, thị trường mở đã được tăng từ 1 phiên / tuần lên 2 phiên / tuần
vào ngày thứ ba và thứ năm. Trong 52 phiên giao dịch có 9 phiên thực hiện bán hẳn,
với tổng khối lượng trúng thầu là 900 tỷ đồng. Trong 43 phiên giao dịch mua, có 20
phiên không có tổ chức tín dụng(TCTD ) nào trúng thầu. Tổng khối lượng trúng thầu
của các phiên giao dịch mua có kỳ hạn từ đầu năm đến 5/9/2002 là 5771,53 tỷ đồng.
Trong tháng 9/2002 thời gian thanh toán các phiên giao dịch thị trường mở được rút
xuống từ thực hiện 1 ngày sau đấu thầu xuống thực hiện trong ngày đấu thầu. Trong
năm 2002, doanh số giao dịch Nghiệp vụ thị trường mở tăng mạnh so với 2001, doanh
số mua đạt trên 7200 tỷ đồng bằng khoảng 218% tổng doanh số mua của cả năm 2001,
doanh số bán đạt 1700 tỷ đồng bằng khoảng 274% doanh số bán năm 2001.
Như vậy kể từ khi khai trương đến ngày 5/9/2002, NHNN đã tổ chức được 118 phiên
giao dịch thị trường mở, với tổng khối lượng trúng thầu đạt 7671,53 tỷ đồng với tất cả
các hình thức giao dịch của thị trường mở như: bán hắn, bán có kỳ hạn, mua hẳn , mua
có kỳ hạn.
Hoạt động thị trường mở trong thời gian qua đã đạt được những kết qủa sau:
Một là, đã góp phần củng cố thêm vị thế, vai trò quản lý của NHNN trong nền kinh tế

thị trường tài chính và thị trường tiền tệ chưa phát triển, môi trường hoạt động của các
tổ chức tín dụng còn chứa đựng nhiều rủi ro.
Thứ hai, hoạt động của thị trường mở chưa thực sự sôi động. Thể hiện trong mỗi phiên
giao dịch của thị trường mở chỉ có từ 1 đến 4 thành viên tham gia, chiếm tỷ lệ thấp
(15%) so với tổng số thành viên tham gia Nghiệp vụ thị trường mở và chiếm tỷ lệ nhỏ
trong tổng số tổ chức tín dụng. Các thành viên tham gia thị trường mở chủ yếu là các
NHTM NN. Nguyên nhân là do lượng hàng hoá mà chủ yểu là tín phiếu kho bạc tập
trung chủ yếu ở các NH này. Các tổ chức tín dụng khác nhìn chung không có đủ điều
kiện cạnh tranh tại các phiên đấu thầu trên thị trường sơ cấp và thứ cấp. Do vậy trong
các phiên giao dịch của thị trường mở gần như không có một NHTM cổ phần nào
tham gia. Các ngân hàng TMCP ít tham gia thị trường sơ cấp đấu thầu tín phiếu kho
bạc vì ít có vốn nhàn rỗi hoặc vốn nhàn rỗi với thời hạn ngắn trong khi đó thời hạn
của tín phiếu kho bạc hiện nay chỉ duy nhất một loại kỳ hạn 364 ngày. Đồng thời do
lãi suất huy động vốn của các NH này thường là cao hơn so với lãi suất huy động vốn
của NHTM NN. Mặt khác trong các phiên đấu thầu tín phiếu kho bạc là đấu thầu lãi
suất với cơ chế Bộ tài chính chỉ đạo lãi suất cho từng phiên đấu thầu, do vậy lãi suất
trúng thầu trong các phiên chưa phản ánh lãi suất thị trường mà thường là thấp hơn lãi
suất thị trường. Trong khi các NHTM NN thường có vốn dư thừa, để kinh doanh có
hiệu quả các ngân hàng này chấp nhận cả mức lãi suất thấp của tín phiếu, trái phiếu
kho bạc còn cao hơn lãi suất tiền gửi tại NHNN. Tại thị trường mua, bán tín phiếu, các
tổ chức tín dụng đã nắm giữ tín phiếu, trái phiếu kho bạc chỉ bán ra khi họ thiếu vốn
khả dụng hoặc thấy có thể thu lại lợi nhuận hơn là nắm giữ tín, trái phiếu.
Thứ ba, hàng hoá còn nghèo nàn không đa dạng về chủng loại và thời hạn Luật
NHNN quy định chỉ có các loại giấy tờ có giá ngắn hạn mới được giao dịch trên thị
trường mở , do vậy đã giới hạn phạm vi hoạt động của thị trường mở . Cụ thể là sau 2
năm hoạt động của thị trường mở , NHNN đã đưa vào thị trường mở chủ yếu là 2 công
cụ: Tín phiếu kho bạc và tín phiếu NHNN, kỳ hạn của các công cụ này đã được thay
đổi trong phạm vi từ 60 ngày đến 364 ngày. Tuy vậy các công cụ khác như chứng chỉ
tiền gửi, thương phiếu, chấp phiếu ngân hàng vẫn chưa được đưa vào giao dịch trên thị
trường mở.

chỉ định nên có nhiều lợi thế trong giao dịch trên thị trường mở nhờ được vay với giá
rẻ để mua giấy tờ có giá, có lãi suất lớn hơn. các NHTM cổ phần, NH liên doanh , quỹ
tín dụng ít có ưu thế này. điều này không kích cầu tín dụng tạo sự phân biệt đáng kể
trên thị trường. Như thế, để cho các TCTD ngoài quốc doanh tham gia vào thị trường
mở một cách thực sự thì hủ đạo của No cho họ sự bình đẳng, tức là giảm cho vay theo
chỉ định, phân biệt rõ ràng tín dụng chính sách và tín dụng thương mại.
NHNN cần phải có sự phối hợp giữa các công cụ và biện pháp điều hành Chính sách
tiền tệ khác với Nghiệp vụ thị trường mở. Để cho Nghiệp vụ thị trường mở trở thành
một công cụ Chính sách tiền tệ chủ yểu đương nhiên các công cụ khác phải đóng vai
trò kém quan trọng hơn, đặc biệt là cửa sổ chiết khấu, nơi các NHTM có thể chủ động
có được tiền cơ bản thông qua việc vay NHNN. Do vậy, cửa sổ chiết khấu cần được
thiết kế nhằm làm cho việc vay NHNN qua cửa sổ này kém hấp dẫn, có thể bằng cách
áp dụng lãi suất phạt (cao hơn qua thị trường mở )hoặc đưa ra hạn mức cho vay qua
cửa sổ này thấp. Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới là áp dụng cơ cấu lãi suất
kép bao gồm lãi suất chiết khấu cơ bản cộng với lãi suất phạt để khuyến khích các
NHTM vay vốn qua kênh này. Tuy nhiên phải thận trọng khi đưa ra các biện pháp hạn
chế vay vốn qua các cửa sổ chiết khấu,vì nếu lãi suất quá cao so với điều kiện hiện có
của thị trường thì thị trường không phản ứng kịp thời với nhu cầu thanh khoản bất
thường. Hạn chế này phải đảm bảo được sự điều chỉnh cần thiết khi thiếu hụt khả năng
thanh toán tạm thời.
Tại Việt Nam, lãi suất chiết khấu và tải cấp vốn thường thấp hơn lãi suất trên
thị trường mở. NHNN cần nghiên cứu để điều chỉnh các mức lãi suất trên thị trường
mở, lãi suất chiết khấu, lãi suất tải cấp vốn hài hoà hơn, NHNN cần hạn chế khả năng
vay vốn của NHTM qua cửa sổ chiết khấu. Nếu không có hạn chế đối với cửa sổ chiết
khấu thì Nghiệp vụ thị trường mở không thể trở thành công cụ chính sách chủ yếu để
kiểm soát tiền cung ứng được.
Bên cạnh đó NHNN cũng phải có biện pháp để củng cố và phát triển thị trường tiền tệ,
đặc biệt cần phải hỗ trợ cho sự phát triển thị trường tiền tệliên NH, nghiệp vụ đấu thầu
tín phiếu kho bạc, hoạt động mua bán giấy tờ giả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status