KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VDSL CHƯƠNG 1_1 pot - Pdf 20

ĐỒ ÁN HỆ THỐNG MẠNG
Đề tài:
KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
VDSL

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ MẠNG VIỄN THÔNG VÀ
MẠNG TRUY NHẬP
1.1 Xu hướng phát triển mạng viễn thông hiện nay
1.1.1 Xu hướng phát triển ở Việt Nam
Những năm gần đây, mạng lưới viễn thông Việt Nam đã có bước phát triển
vượt bậc. 100% tỉnh, thành phố đã có tổng đài điện tử kỹ thuật số; 88,1% xã đã có
điện thoại với trên 6 triệu thuê bao điện thoại, đạt mức độ 6 máy/100 dân.
Về mạng truyền dẫn, ngoài mạng liên tỉnh và nội tỉnh, còn có mạng đường
trục Bắc – Nam sử dụng cáp quang và vi ba số. Mạng viễn thông quốc tế có 8 trạm
mặt đất thông tin vệ tinh Intersputnik, Intersat và 3 tổng đài quốc tế đặt tại Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Hiện nay, mạng này kết nối với mạng cáp
quang biển quốc tế TVH (Thái Lan – Việt Nam – Hồng Kông) và mạng cáp quang
SCS (Trung Quốc – Việt Nam – Lào – Thái Lan – Malaysia - Singapore). Đồng
thời, Việt Nam cũng được tham gia khai thác tuyến cáp quang biển SEA-ME-WE3
nối từ Châu Âu sang Châu Á.
Về thông tin di động, hai mạng VinaPhone và Mobifone phủ sóng 64/64 tỉnh,
thành phố với tổng số hơn 3 triệu thuê bao đã thực hiện roaming và ứng dụng công
nghệ mạng thông minh (Intelligent Network) để gia tăng các loại hình dịch vụ.
Về mạng truyền dữ liệu, có 2 tổng đài Frame Relay Gateway quốc tế đặt tại
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Về mạng báo hiệu, hiện nay trên mạng viễn thông Việt Nam sử dụng cả hai
loại báo hiệu R2 và SS7. Mạng báo hiệu số 7 (SS7) được đưa vào khai thác tại
Việt Nam theo chiến lược triển khai từ trên xuống dưới theo tiêu chuẩn của ITU
(khai thác thử nghiệm từ năm 1995 tại VTN và VTI). Cho đến nay, mạng báo hiệu
số 7 đã hình thành với một cấp STP (Điểm chuyển mạch báo hiệu) tại 3 trung tâm
(Hà Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh) của 3 khu vực (Bắc, Trung, Nam) và đã phục vụ

dụng và dịch vụ, lớp điều khiển, lớp truyền tải và lớp truy nhập.
1.1.2 Xu hướng phát triển trên thế giới
Thế giới đang bước vào kỷ nguyên thông tin mới bắt nguồn từ công nghệ, đa
phương tiện, những biến động xã hội, toàn cầu hoá trong kinh doanh và giải trí,
phát triển ngày càng nhiều khách hàng sử dụng phương tiện điện tử. Biểu hiện đầu
tiên của xa lộ thông tin là Internet, sự phát triển của nó là minh hoạ sinh động cho
những động thái hướng tới xã hội thông tin.
Nền tảng cho xã hội thông tin chính là sự phát triển của các dịch vụ viễn
thông. Mềm dẻo, linh hoạt và gần gũi với người sử dụng là mục tiêu hướng tới của
chúng. Nhiều loại hình dịch vụ viễn thông mới đã ra đời đáp ứng nhu cầu thông tin
ngày càng cao của khách hàng. Dịch vụ ngày nay đã có những thay đổi về căn bản
so với dịch vụ truyền thống trước đây (chẳng hạn như thoại). Lưu lượng thông tin
cuộc gọi là sự hoà trộn của các dịch vụ thoại và phi thoại. Lưu lượng phi thoại liên
tục gia tăng và biến động rất nhiều. Hơn nữa cuộc gọi số liệu diễn ra trong khoảng
thời gian tương đối dài so với thoại thông thường (chỉ vài phút). Chính những điều
này đã gây một áp lực cho mạng viễn thông hiện nay, phải đảm bảo truyền tải
thông tin tốc độ cao với giá thành hạ. Ở một góc độ khác, sự ra đời của những dịch
vụ mới này đòi hỏi phải có công nghệ thực thi tiên tiến. Việc chuyển đổi từ công
nghệ tương tự sang công nghệ số đã đem lại sức sống mới cho mạng viễn thông.
Tuy nhiên, những loại hình dịch vụ trên luôn đòi hỏi nhà khai thác phải đầu tư
nghiên cứu những công nghệ viễn thông mới ở cả lĩnh vực mạng và chế tạo thiết
bị. Cấu hình mạng hợp lí và sử dụng các công nghệ chuyển giao thông tin tiên tiến
là thử thách đối với nhà khai thác cũng như sản xuất thiết bị.
Có thể khẳng định giai đoạn hiện nay là giai đoạn chuyển dịch giữa công nghệ
thế hệ cũ (chuyển mạch kênh) sang dần công nghệ mới (chuyển mạch gói), điều đó
không chỉ diễn ra trong hạ tầng cơ sở thông tin mà còn diễn ra trong các công ty
khai thác dịch vụ, trong cách tiếp cận của các nhà khai thác khi cung cấp dịch vụ
cho khách hàng.
1.2 Tổng quan về mạng truy nhập
1.2.1 Giới thiệu chung

 Nhìn từ khía cạnh công nghệ, mạng truy nhập có một số công nghệ chính như
sau:
 Công nghệ sử dụng ISDN và B-ISDN.
 Công nghệ sử dụng modem băng tần thoại.
 Công nghệ truy xuất T1/E1sử dụng cáp thuê bao nội hạt.
 Công nghệ sử dụng modem cáp.
 Công nghệ phân phối dịch vụ đa điểm đa kênh (MMDS).
 Công nghệ phân phối dịch vụ nội hạt (LMDS).
 Công nghệ sử dụng qua vệ tinh.
 Công nghệ truy nhập xDSL.
Mạng truy nhập ngày nay là một thực thể phức tạp, nó là mạng phối hợp của
nhiều môi trường truyền dẫn và công nghệ truy nhập khác nhau để phục vụ cho
nhiều loại khách hàng với nhu cầu khác nhau trong một khu vực rộng lớn và không
đồng nhất.Môi trường truyền dẫn chính trong mạng truy nhập hiện nay là cáp đồng
(Chiếm khoảng 94% toàn bộ môi trường mạng), việc tận dụng cơ sở hạ tầng rất lớn
này là rất cần thiết và có lợi mà công nghệ truy nhập đường dây thuê bao số xDSL
chính là giải pháp cho vấn đề này. Mạng truy nhập quang là mục tiêu hướng tới của
mạng truy nhập trong tương lai để cung cấp cho khách hàng các dịch vụ đa dạng
với tốc độ và chất lượng cao. Ngoài ra, phương thức truy nhập vô tuyến cũng phát
triển rất mạnh với hàng trăm triệu thuê bao trên khắp thế giới ở các mạng GSM,
CDMA, mạng truy xuất qua vệ tinh…Để tận dụng ưu điểm của phương thức này
cùng với cơ sở hạ tầng sẵn có phương thức truy nhập cố định vô tuyến ra đời và
đang được phát triển ở cả các vùng đô thị lớn đến các khu vực có địa hình hiểm
trở.
Ngày nay khi mà cơ cấu dịch vụ thay đổi, yêu cầu của khách hàng không chỉ
đơn thuần là các dịch vụ thoại/fax truyền thống mà cả các dịch vụ số tích hợp với
yêu cầu băng thông lớn, chất lượng cao đã thúc đẩy các công nghệ và thiết bị truy
nhập liên tiếp ra đời với tốc độ chóng mặt. Thậm chí nhiều dòng sản phẩm chưa
kịp thương mại hoá đã trở nên lỗi thời. Hình 1.2 cho chúng ta thấy tiến trình phát
triển của các thiết bị truy nhập trong mạng Viễn Thông.

Năm 1970
V5 DLC
Giữa thập kỷ 90
NG DLC
Cuối thập kỷ 90
Truy nhập IP

Đầu thế kỉ 21

 Cung cấp giải pháp truy nhập băng rộng tạm thời qua mạng lõi ATM.
 Sử dụng công nghệ xDSL để truy nhập dữ liệu tốc độ cao.
 Chuẩn V5.x để giao diện với mạng PSTN.
 Kết nối ATM với mạng đường trục hay qua mạng IP.
 Hỗ trợ các dịch vụ thoại/fax, ISDN và dữ liệu băng rộng.


 Băng thông/ Dung lượng hầu như không hạn chế (Trên thực tế hầu như
không tắc nghẽn với băng thông trong khoảng 1-10Gbps).
 Truy nhập băng rộng IP.
 Dễ dàng mở rộng và tích hợp với mạng NGN (Trên nền mạng chuyển
mạch mềm).
 Cung cấp tất cả các dịch vụ qua một mạng Ip duy nhất mặc dù hệ thống
này vẫn hỗ trợ các đầu cuối tương tự truyền thống. Thiết bị này phối hợp
hoạt động với mạng IP qua media gateway.
 Giá thành tính cho từng thuê bao và chi phí vận hành mạng thấp.
 Kiến trúc đơn giản (IP over SDH).

Máy điện thoại IP

PSTNGate
w
ay

POTS PSTN Hình 1.4 Thiết bị truy nhập IP cho thế hệ sau

Các nhà khai thác mạng cáp đồng trục đang tiến hành cải tiến hạ tầng mạng
cáp bằng cách đưa thêm mạng cáp quang vào mạng cáp đồng trục thay truyền dẫn
tương tự bằng truyền dẫn số được gọi là mạng lai ghép HFC: Mạng HFC cung cấp
gần 100 kênh truyền dẫn tốc độ cao (6 MHz) cho mỗi kênh phân phối các luồng
video tương tự, số, dữ liệu tới người sử dụng và có thể mở rộng các dịch vụ băng
rộng nhờ modem cáp. Tuy nhiên do đường truyền HFC là chung nên băng
thôngkhả dụng cho mỗi kênh khi có nhiều người sử dụng không cao bằng DSL.
1.2.2.2 Công nghệ truy nhập sử dụng cáp sợi quang
Cáp quang có nhiều ưu điểm mạnh hơn so với cáp đồng như sợi cáp quang
cho phép truyền tín hiệu có cự ly xa hơn, khả năng chống nhiễu và xuyên âm tốt,
băng tần truyền dẫn rất lớn đảm bảo cho việc cung cấp các dịch vụ băng rộng tới
khách hàng… Mạng cáp quang chính là đích cuối cùng của các nhà quản lý mạng
Viễn thông để mở rộng các dịch vụ băng hẹp sang các dịch vụ băng rộng. Tuy
nhiên, việc xây dựng một mạng truy nhập cáp quang đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu rất
lớn, trong khi mạng cáp đồng nội hạt vẫn chưa sử dụng hết khấu hao. Hơn nữa,
nhu cầu sử dụng của mỗi thuê bao hiện nay vẫn chưa tận dụng hết khả năng của
cáp quang nên sẽ gây lãng phí. Giải pháp ở đây là lắp đặt cáp quang tới tận cụm
dân cư hay tới các toà nhà, các trụ sở cơ quan lớn rồi từ đây sẽ sử dụng cáp đồng
để truyền tín hiệu tới từng thuê bao. Việc tồn tại đôi dây cáp đồng ở đoạn cuối này
cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy xDSL phát triển vì xDSL hoàn toàn có thể
cung cấp các giải pháp truy nhập cho các dịch vụ tốc độ cao từ các khối ONU của
cấu trúc mạng truy nhập nói trên. Như vậy, công nghệ xDSL là giải pháp trung
gian hữu hiệu để cung cấp dịch vụ tới khách hàng trước khi có thể quang hoá mạng
truy nhập.
1.2.2.3 Công nghệ truy nhập vô tuyến
Công nghệ truy nhập vô tuyến có nhiều loại khác nhau. Công nghệ dịch vụ
phân phối đa điểm đa kênh MMDS là hỗn hợp của các dịch vụ video và truyền số
liệu tốc độ cao (chiều xuống lên tới 54Mbps). Hệ thống này cho phép các nhà cung
cấp dịch vụ ở xa không có cơ sở hạ tầng có thể cung cấp các truy nhập hiệu quả tới
khách hàng. MMDS đang có điều kiện thuận lợi để phát triển do ngày nay thị

cuối tháng 12 2004.
 Những kĩ thuật truy nhập băng rộng khác tới 61,4 triệu, so với 54,5 triệu vào
cuối tháng 12 năm 2004.
 Tăng trong 6 tháng của năm 2005
 Tổng số thuê bao băng rộng tăng 24,5 triệu.
 Tổng số thuê bao DSL tăng 17,7 triệu.
 Những thuê bao băng rộng khác tăng 6,8 triệu.
Trong 12 tháng từ quí 2 2004, thuê bao DSL tăng 51%.
Liên minh Châu Âu là thị trường băng rộng lớn nhất và khu vực DSL lớn nhất
thế giới.
 Trong liên minh Châu Âu, DSL hiện diện 81% của tổng số thuê bao truy
nhập băng rộng.
 Trong khu vực Mỹ LaTinh và Trung Đông và Châu Phi, DSL chiếm dữ
tương ứng 83% và 79,56%.
 Toàn bộ DSL tham gia vào tổng số thị truờng băng rộng là 65,2%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status