đánh giá tiềm năng nuôi tôm thẻ chân trắng trên vùng đất cát ở tỉnh Quảng Ngãi - Pdf 20

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT
NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG NUÔI TÔM THẺ
CHÂN TRẮNG TRÊN VÙNG ĐẤT CÁT
Ở TỈNH QUẢNG NGÃI
NGÀNH: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
KHÓA: 2001 – 2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN ĐẠI TOÀN
THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH
O9/2005
i
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
TRÊN CÁT Ở TỈNH QUẢNG NGÃI
Thực hiện bởi
Nguyễn Đại Toàn
Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Văn Tư
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
09/2005
ii
TÓM TẮT
Đánh giá tiềm năng nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát ở Quảng Ngãi.
Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát ở Quảng Ngãi đang phát triển tại xã
Đức Phong (huyện Mộ Đức), xã Phổ An và Phổ Quang (huyện Đức Phổ) và đang mở
rộng diện tích nuôi ở xã Phổ Vinh và xã Phổ Khánh (huyện Đức Phổ). Khu vực nuôi
là những bãi cát ven biển, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nghề nuôi thủy sản
nước lợ, đặc biệt là nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh. Các khu vực nuôi đều xa

Xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến:
Thầy Nguyễn Văn Tư, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành tốt
luận văn tốt nghiệp này.
Lòng cảm ơn đến:
Các anh chò công tác tại các phòng ban, Sở Thủy Sản, Trung Tâm Khuyến
Ngư, Sở Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường tỉnh Quảng Ngãi; Phòng Thủy Sản, y
Ban Nhân Dân huyện Đức Phổ đã hỗ trợ chúng tôi trong suốt thời gian điều tra tại đòa
phương.
Gia đình các hộ nuôi tôm trên cát thuộc đòa bàn xã Phổ An và Phổ Quang
(huyện Đức Phổ) đã tận tình cung cấp các số liệu để chúng tôi hình thành tốt đề tài.
Các bạn bè trong và ngoài lớp đã động viên, giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời
gian học tập và thực hiện đề tài.
Do thời gian thực hiên đề tài ngắn, trình độ còn hạn chế và bước đầu làm quen
với công tác nghiên cứu khoa học, mặc dù có nhiều tâm huyết với đề tài nhưng chúng
tôi không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự đóng góp nhiệt tình
của quý thầy cô và các bạn để luận văn của chúng tôi hoàn chỉnh hơn.
iv
MỤC LỤC
ĐỀ MỤC
TRANG
TÊN ĐỀ TÀI i
TÓM TẮT TIẾNG VIỆT ii
TÓM TẮT TIẾNG ANH iii
CẢM TẠ iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC BẢNG vii
DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH viii
I. GIỚI THIỆU 1
I.1 Đặt Vấn Đề 1
I.2 Mục Tiêu Đề Tài 1

4.1 Tình Hình Nuôi Tôm Tại Quảng Ngãi Từ Năm 2000 – 2004 14
4.2 Tiềm Năng Đất Cát Ven Biển Tỉnh QN Có Thể Đưa Vào Nuôi Tôm 15
4.3 Hiện Trạng Nghề Nuôi Tôm Trên Cát Tại Quảng Ngãi 16
4.4 Đặc Điểm Kinh Tế – Xã Hội Của Các Hộ Nuôi Tôm Trên Cát 17
4.4.1 Trình độ học vấn 17
4.4.2 Độ tuổi và giới tính của chủ hộ 18
4.4.3 Kinh nghiệm nuôi tôm 18
4.4.4 Lao động thuê trong nông hộ 19
4.4.5 Các nguồn học hỏi kỹ thuật nuôi 20
4.4.6 Hoạt động khuyến nông – khuyến ngư 20
4.5 Công Trình Ao Nuôi 21
4.5.1 Thiết kế và xây dựng ao nuôi 21
4.5.2 Hệ thống cấp và thoát nước 28
4.5.3 Hệ thống quạt nước 30
4.6 Qui Trình Kỹ Thuật Nuôi 31
4.6.1 Cải tạo ao 31
4.6.2 Khử trùng và gây màu nước 33
4.6.3 Vấn đề con giống 34
4.6.4 Chế độ thay nước 38
4.6.5 Quản lý các yếu tố môi trường 40
4.6.6 Thức ăn và cách cho ăn 41
4.6.7 Tình hình dòch bệnh 42
4.6.8 Thu hoạch 43
4.7 Phân Tích Hiệu Qủa Kinh Tế 43
4.8 Những Trở Ngại Từ Ý Kiến của Các Chủ Hộ Nuôi Tôm 45
4.9 Vấn Đề về Môi Trường 46
4.10 Đánh Gía Chung về Mô Hình Nuôi Tôm TCT Trên Cát Tại QN 47
4.10.1 Thuận Lợi 47
4.10.2 Khó khăn 48
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49

Hình 4.6 Cuốc đất bỏ lên bạt 26
Hình 4.7 Lót bạt xong trang bằng 27
Hình 4.8 Ao nuôi hoàn chỉnh 27
Hình 4.9 Máy bơm nước vào gắn với giếng nước ngọt 28
Hình 4.10 Giếng nước mặn 29
Hình 4.11 Ống nhựa đặt trực tiếp ngoài biển bơm nước mặn vào 29
Hình 4.12 Ống xả nước thải trực tiếp ra biển 30
Hình 4.13 Cải tạo ao xong bơm nước vào chuẩn bò gây màu 32
Hình 4.14 Bón phân gây màu cho ao nuôi 34
Hình 4.15 Thả giống 38
Hình 4.16 Thay nước khi tảo phát triển quá mức và chết 40
Hình 4.17 Bón vôi, phân gây màu lại khi mất màu nước 41
Hình 4.18 Tôm bò bệnh đỏ thân chết hàng loạt 43
BẢN ĐỒ
Bản đồ 1 Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ngãi 11
1
I. GIỚI THIỆU
1.1 Đặt Vấn Đề
Trong những năm qua ngành nuôi trồng thủy sản nước ta, đặc biệt là nuôi tôm
sú xuất khẩu, phát triển rất mạnh mẽ và trở thành một ngành kinh tế quan trọng, có
động lực lớn trong việc thúc đẩy và phát triển nền kinh tế. Do lợi nhuận lớn từ nghề
nuôi tôm sú đem lại dẫn đến diện tích nuôi trồng ngày càng tăng, diện tích sử dụng
đất nông nghiệp ngày càng hẹp dần; đồng thời, giá đất ngày càng nâng cao gây rất
nhiều khó khăn cho các hộ nuôi tôm nếu không có nguồn vốn mạnh. Đi đôi với việc
tìm đất nuôi tôm thì cần phải có nguồn nước thích hợp để nuôi. Bên cạnh việc tìm đất
để nuôi và do sự phát triển nuôi tôm quá nhanh, nằm ngoài sự quản lý của các cơ
quan chức năng, làm cho các nguồn nước (mặn, ngọt) ngày càng bò ô nhiễm và mang
nhiều mầm bệnh dễ dàng lây lan giữa các hộ nuôi. Nhận thức được các điều đó các
người nuôi tôm ở các tỉnh miền trung đã chuyển sang hướng nuôi tôm sú trên vùng đất
cát hoang hoá bạc màu từ nhiều năm nay.

26’B, kinh độ 108
0
13’Đ –109
0
05’Đ. Phía
bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp tỉnh Bình Đònh, phía tây giáp tỉnh Kontum,
phía đông giáp biển Đông.
Đòa hình của Quảng Ngãi nói chung độ dốc lớn từ tây sang đông. Phần lớn
diện tích của tỉnh là đồi núi và trung du, các con sông đều ngắn và dốc cho nên đồng
bằng châu thổ không rộng, lại bò chia cắt mạnh bởi các con sông dài, đồi núi và cồn
cát cao chạy sát dọc theo ven biển.

2.1.1.2 Điều kiện khí hậu và môi trường
Tỉnh Quảng Ngãi nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai
mùa rõ rệt. Mùa nắng từ tháng 1 –8, thời tiết nóng kéo dài; mùa mưa từ tháng 9-12,
thời tiết lạnh ẩm ướt

a/ Nhiệt độ
Biên độ nhiệt độ không khí thay đổi không lớn, nhiệt độ trung bình cả năm
25,8
0
C; nhiệt độ nước biển khá cao, cao nhất là 30
0
C vào tháng 5-6 và thấp nhất là
24
0
C vào tháng 2.
b/ Chế độ gió mùa
- Gió mùa đông: hướng gió thònh hành từ tháng 9-2 là gió Đông Bắc và Bắc.
- Gió mùa hè: hướng gió thònh hành từ tháng 3-8 là gió Đông Nam và Nam.

bình toàn quốc, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt. Tuy vậy, do đi lên từ điểm
xuất phát thấp nên tổng giá trò thu nhập của tỉnh vẫn còn thấp; GDP bình quân đầu
người (giá so sánh năm 1994) mới đạt 162,4 USD, bằng khoảng 41% mức bình quân
cả nước.
- Nhìn chung Quãng Ngãi là một tỉnh có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu,
giá trò sản phẩm từ nông lâm ngư chiếm 43,42% GDP toàn tỉnh. Sản xuất nông nghiệp
vẫn bò chi phối bởi các điều kiện tự nhiên không thuận lợi, chưa thật sự trở thành nền
sản xuất hàng hoá. Sản xuất nông nghiệp còn nhỏ bé chiếm 20,6% GDP, chưa có cơ
sở nông nghiệp chủ lực có tác động mạnh để chuyển dòch cơ cấu kinh tế xã hội nhất là
đối với vùng nông thôn miền núi.
4
- Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng, đời sống văn hoá xã hội nói chung đã được
đầu tư, tiến bộ rất nhiều so với 10 năm trước đây nhưng chưa đủ đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời kỳ mới.
- Nghò quyết Đại hội Đảng Bộ tỉnh lần thứ XVI (2001-2005) đã đề ra những
mục tiêu nhiệm vụ và giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đòi hỏi
ngành thủy sản nói chung và lónh vực nuôi trồng thủy sản nói riêng phải có những
bước đột phá mạnh mẽ góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh.
2.1.2.2 Điều kiện kinh tế-xã hội của nông hộ vùng nuôi thủy sản

Quảng Ngãi có 13 huyện, thò xã; trong đó có 5 huyện ven biển (Bình Sơn, Sơn
Tònh, Tư Nghóa, Mộ Đức và Đức Phổ) và huyện hải đảo (Đảo Lý Sơn) là đòa bàn chủ
yếu để phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ. Năm 2000 số hộ tham gia ngư nghiệp
khoảng 40.000 hộ, 65.000 lao động nghề cá; trong đó có khoảng 26.000 lao động khai
thác, 250 lao động sửa chữa tàu thuyền, 3.500 lao động nuôi trồng thủy sản, 2.500 lao
động chế biến vào khoảng 30.000 lao động dòch vụ. Các huyện thò khác, đặc biệt ở
vùng trung du miền núi, có nhiều điều kiện để phát triển nuôi trồng thủy sản nước
ngọt.

Nhìn chung độ tuổi của người tham gia nuôi trồng thủy sản khoảng từ 32 đến

Ngày 11/12/2002 UBND Tỉnh Quảng Ngãi quyết đònh phê duyệt dự án tổng
thể nuôi trồng thủy sản đến năm 2010, có phần nội dung nuôi tôm trên cát cụ thể như
sau:
- Về giải pháp kỹ thuật cho toàn vùng:
+ Quy hoạch chi tiết cho từng vùng nuôi tôm trên đất cát ngay từ đầu.
+ Lựa vật liệu chống thấm phù hợp yêu cầu kỹ thuật và hiệu quả kinh tế.
+ Nguồn nước mặn và nước ngọt cung cấp độc lập và hoàn toàn chủ động để
có nồng độ muối phù hợp.
+ p dụng quy trình kỹ thuật nuôi thâm canh, phương pháp ít thay nước hay
không hoàn toàn.
* Nếu vùng đất cát nằm ngoài vùng phòng hộ tiếp giáp mép biển:
+ Dùng máy bơm nhỏ bơm trực tiếp nước biển vào ao xử lý hoặc ao nuôi.
+ Giếng bơm nhỏ cung cấp nước ngọt tại chỗ cho từng ao nuôi.
+ Nước thải sau khi đưa vào hố xử lý rồi thải ra biển.

* Nếu vùng đất cát nằm phía sau rừng phòng hộ:
Do quy mô diện tích lớn cao trình vùng nuôi cao hơn nhiều so với mặt
nước biển, khoảng cách vùng nuôi đến mép nước biển khá lớn phải xây dựng trạm
bơm công suất lớn đẩy nước biển theo đường ống vào hồ xử lý trước khi đưa vào các
ao nuôi.
+ Xây dựng ao xử lý nước thải tập trung bằng các phương pháp hoá học, sinh
học trước khi thải ra biển.
+ Xây dựng trạm bơm nước ngầm phân tán trong vùng nuôi vì trữ lượng nước
ngầm ven biển hạn chế.
+ Xây dựng trạm bơm, kênh dẫn nước ngọt từ hệ thống thủy lợi nông nghiệp
để phục vụ nuôi tôm trên đất cát.
- Dự kiến thu hoạch toàn vùng: (dự kiến cho tôm sú)
+ Năm 2005: diện tích 400 ha, năng suất 3 tấn/ha/năm, sản lượng 1.200 tấn.
+ Năm 2010: diện tích 1.082 ha, năng suất 3,9 tấn/ha/năm, sản lượng 4.259 tấn.
6

Năm 1999 nuôi tôm trên cát được bắt đầu từ một gia đình ở huyện Ninh Phước,
tỉnh Ninh Thuận với diện tích 0,5 ha, đến năm 2002 diện tích nuôi tôm lên tới 300 ha
trong tổng số 14000 ha bãi cát có thể nuôi ở Ninh Thuận.
Quảng Ngãi bắt đầu nuôi tôm trên cát trong năm 2000 –2001, được ngành thủy
sản đưa vào thực nghiệm và khuyến khích nông dân cùng làm đã thành công tốt đẹp,
mở ra triển vọng lớn cho nghề nuôi tôm trên vùng đất cát ven biển của tỉnh. Đến nay
diện tích nuôi tôm trên cát tăng lên rất nhiều.
7
2.2.3 Đặc điểm của vùng cát ven biển tỉnh Quảng Ngãi
Đây là vùng đất cát đã được hình thành trong nhiều năm, từ bờ biển trở vào
đất liền vài km, chạy dọc theo đường bờ biển các xã Phổ An, Phổ Quang, Phổ Vinh,
Phổ Khánh (huyện Đức Phổ), Đức Thắng, Đức Chánh, Đức Minh, Đức Phong (huyện
Mộ Đức) khoảng hơn 130 km, đất có tầng cát dày 7-10 m, có nhiều cồn cát nhấp nhô,
trên cát có ít cây bụi thấp, các loại thực vật đặc chủng là cỏ nhiệt đới thân thấp, chòu
hạn và chòu mặn, khi gió mạnh tạo nên hiện tượng cát bay. Đây là yếu tố bất lợi của
loại hình nuôi trên cát, đặc biệt là trong quá trình thi công công trình.
.
2.3 Đặc Điểm Sinh Học của Tôm Thẻ Chân Trắng
2.3.1 Phân loại
Ngành: Arthropoda
Lớp: Crustacea
Bộ: Decapoda
Họ: Penaeidae
Giống: Penaeus
Loài: Penaeus vannamei
Tên Việt Nam: Tôm thẻ chân trắng
Tên tiếng Anh: White leg shrimp
2.3.2 Phân bố

Tôm thẻ chân trắng có nguồn gốc chủ yếu ở ven biển tây Thái Bình Dương,

Tôm thẻ chân trắng có sự thích nghi rất mạnh đối với sự thay đổi đột ngột của
môi trường sống. Lên khỏi mặt nước khá lâu vẫn không chết. Các thử nghiệm cho
thấy: gói tôm con cỡ 2-7 cm trong một khăn ướt (độ ẩm trên 80%, nhiệt độ 27
0
C) để
sau 24 giờ vẫn sống 100%. Sức chòu dựng hàm lượng oxy thấp nhất của tôm là 1,2
mg/L.
2.3.4.1 Thích nghi với sự thay đổi độ mặn
Ở tôm 1-6 cm đang sống ở độ mặn 20
0
/
00
trong bể ương khi chuyển vào các ao
nuôi chúng có thể sống trong phạm vi 5-50
0
/
00
, thích hợp nhất là 10-40
0
/
00
, khi dưới
5‰ hoặc trên 50
0
/
00
tôm bắt đầu chết dần; những con tôm cỡ 5 cm có sức chòu đựng
tốt hơn con 2 cm.
2.3.4.2 Thích nghi với nhiệt độ nước
Tôm sống tự nhiên ở biển có nhiệt độ nước ổn đònh từ 25-32

2.3.6 Sinh trưởng
Tôm thẻ chân trắng nhỏ hơn tôm sú. Tôm nhỏ thay vỏ cần vài giờ, tôm lớn cần
1 – 2 ngày. Nhưng tôm thẻ chân trắng lớn nhanh hơn tôm sú trong 60 ngày nuôi đầu.
Sau đó tôm thẻ chân trắng phát triển chậm lại và lâu lớn. Tốc độ lớn thời gian đầu là
3 g/ tuần lễ, tới cỡ 30 g tôm lớn chậm dần khoảng 1 g/ tuần lễ. Tôm thẻ chân trắng
nuôi 60 ngày có thể đạt kích cỡ thương phẩm. Tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực.
2.3.7 Sinh sản
Tôm thẻ chân trắng thuộc loại hình sinh sản túi chứa tinh mở khác với loại
hình túi chứa tinh kín như của tôm sú và tôm thẻ Nhật Bản.
Tôm thẻ chân trắng có thể thành thục sinh dục trong ao nuôi và đây là một ưu
điểm của loài tôm này so với các loài tôm khác trong việc chủ động về nguồn tôm bố
mẹ và giống thả nuôi.

2.3.8 Ưu điểm của tôm thẻ chân trắng so với tôm sú
- Lớn nhanh hơn trong khoảng hai tháng đầu, do đó có thể nuôi nhiều vụ trong
một năm, giảm được rủi ro.
- Thích nghi với biên độ nhiệt độ nước và độ mặn rộng hơn, có thể thuần hóa
nuôi hoàn toàn ở nước ngọt, có sức chòu đựng với sự thay đổi đột ngột về nhiệt độ.
- Chủ động về nguồn tôm bố mẹ và giống thả nuôi.
- Có sức kháng bệnh virút đốm trắng khoẻ hơn.
- Tôm ăn mảnh vụn và mùn bã hữu cơ trong ao, có hệ số chuyển đổi thức ăn
thấp 1,2 – 1,5 (tôm sú 1,6 – 1,8), vả lại hàm lượng protein sử dụng trong thức ăn thấp
30% so với tôm sú là 40% nên thức ăn có giá rẻ hơn.
2.3.9 Khía cạnh cần xem xét khi du nhập và mở rộng diện tích nuôi ở Việt
Nam
10
- Các nước Nam Mỹ nuôi tôm thẻ chân trắng rất phổ biến do tôm có các ưu thế
nói trên; ngoài ra do không còn có nguồn tôm sú phân bố tự nhiên đã hạn chế sự lựa
chọn đối tượng nuôi của các nước ở khu vực này. Tôm thẻ chân trắng đã được du nhập
vào nuôi ở một số nước không thuộc vùng phân bố tự nhiên của chúng như Trung

3.3.1 Số liệu thứ cấp

Các số liệu thứ cấp được thu nhập chủ yếu từ các phòng chức năng của Sở
Thủy Sản, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trung tâm khuyến ngư, Trạm
khuyến ngư,…
Các số liệu thu thập gồm có:
- Điều kiện tự nhiên: bản đồ đòa giới hành chính, điều kiện khí hậu, thời tiết
(t
0
C, lượng mưa,…) và các điều kiện thủy văn (sông, suối, mạch nước ngầm, biển, ao
hồ,…)…
- Điều kiện kinh tế – xã hội: quy mô hộ nuôi, quyền sở hữu và sử dụng diện
tích đất nuôi (mua, thuê mướn), trình độ văn hoá, nguồn vốn và thò trường tiêu thụ…
- Quy hoạch phát triển nuôi tôm của tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2005 và đến
năm 2010.
3.3.2 Số liệu sơ cấp
Các số liệu sơ cấp được thu thập bằng việc quan sát và phỏng vấn trực tiếp từ
các nông hộ có mô hình nuôi tôm trên cát thông qua bảng câu hỏi soạn sẳn.
Nội dung thu thập gồm: điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế – xã hội và các
yếu tố kỹ thuật nuôi của vùng nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát ở xã Phổ An và Phổ
Quang.
13
3.4 Phương Pháp Phân Tích
3.4.1 Phân tích các yếu tố kinh tế – xã hội và kỹ thuật
Sử dụng thống kê mô tả để phân tích các yếu tố kinh tế – xã hội và kỹ thuật:
- Khảo sát độ tuổi, trình độ văn hóa, nguồn lao động và công tác khuyến ngư
của các chủ hộ nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát.
- Khảo sát qui trình kỹ thuật nuôi bao gồm: thiết kế và xây dựng ao, cải tạo
ao, cho ăn, chăm sóc và quản lý, v.v.
- Khảo sát ảnh hưởng của mô hình nuôi tôm trên cát đối với môi trường tự

- Nuôi trên cát (ha) - - 47
*
55
*
102
*
+ Sản lượng tôm nuôi (tấn) 800 1.000 1.100 900 1.300
- Nuôi vùng triều (tấn) 800 1.000 1.050 700 500
- Nuôi trên cát (tấn) - - 50
*
200
*
800
*
+ Năng suất bình quân (tấn/ha) 1,45 1,66 1,67 1,28 1,9
- Nuôi vùng triều (tấn/ha) 1,45 1,66 1,72 1,08 1,16
- Nuôi trên cát (tấn/ha) - - 1,06
*
3,6
*
7,8
*
Ghi chú:
*
Tôm thẻ chân trắng
- Nhìn chung diện tích nuôi tôm qua các năm 2000 đến năm 2003 đều tăng
(tăng bình quân mỗi năm khoảng 50 ha). Từ năm 2000 – 2001 diện tích nuôi tôm toàn
tỉnh tăng nhanh từ 550 ha lên 601 ha. Riêng diện tích nuôi tôm năm 2004 giảm hơn so
với năm 2003, chỉ còn 684 ha. Diện tích nuôi tôm sú vùng triều giảm do các nguyên
nhân sau: tôm bò dòch bệnh đốm trắng, phân trắng, đường ruột, đen mang, v.v, xảy ra

(Bình Hải, Bình Phú, Bình Châu)
Huyện Sơn Tònh (Tònh Khê) 0 35 35
Huyện Mộ Đức 1.022 162 1.184
(Đức Thắng, Đức Chánh,
Đức Minh, Đức Phong)
Huyện Đức Phổ 777 281 1.058
(Phổ An, Phổ Quang,
Phổ Vinh, Phổ Khánh)
Huyện Lý Sơn 0 20 20
Tổng 1.959 498 2.457
Ghi chú: RPH (rừng phòng hộ)

Diện tích đất cát có thể đưa vào nuôi tôm là 2.457 ha, chia làm hai vùng riêng
biệt như sau :

+ Vùng đất cát hoang hoá nằm phía ngoài rừng phòng hộ (gần mép biển) có
chiều ngang từ 50- 200 m tới sát mép biển, có diện tích tiềm năng là 498 ha. Vì là
vùng nằm sát mép biển nên việc nuôi tôm cũng thuận lợi hơn, chỉ cần dùng bơm nhỏ
bơm trực tiếp nước biển vào ao nuôi, với nước ngọt dùng máy bơm nhỏ cung cấp tại
chỗ cho từng ao nuôi . Đây là vùng cát mà người dân đang tiến hành nuôi .

16
+ Vùng đất cát nằm phía trong rừng phòng hộ, chủ yếu là đất rừng trồng sản
xuất, phi lao, đào, mía, mì kém hiệu quả tập trung chủ yếu ở Huyện Mộ Đức và Đức
Phổ có diện tích tiềm năng là 1.959 ha. Đây là vùng cách mép biển khá xa vì vậy để
nuôi tôm cần phải xây dựng những trạm bơm có công suất lớn đẩy nước biển theo
đường ống vào từng ao nuôi. Vùng này cũng đã có nhiều dự án lớn nhưng do nhiều
nguyên nhân khách quan khác nhau đến nay chưa thực hiện được.

4.3 Hiện Trạng Nghề Nuôi Tôm Trên Cát Tại Quảng Ngãi

trình nuôi.

Trích đoạn Chế độ thay nước Thức ăn và cách cho ăn Phân Tích Hiệu Qủa Kinh Tế Vấn Đề về Mơi Trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status