BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT
NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG NUÔI TÔM THẺ
CHÂN TRẮNG TRÊN VÙNG ĐẤT CÁT
Ở TỈNH QUẢNG NGÃI
NGÀNH: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
KHÓA: 2001 – 2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN ĐẠI TOÀN
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Văn Tư THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
09/2005
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
ii TÓM TẮT Đánh giá tiềm năng nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát ở Quảng Ngãi.
Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát ở Quảng Ngãi đang phát triển tại xã
Đức Phong (huyện Mộ Đức), xã Phổ An và Phổ Quang (huyện Đức Phổ) và đang mở
rộng diện tích nuôi ở xã Phổ Vinh và xã Phổ Khánh (huyện Đức Phổ). Khu vực nuôi
là những bãi cát ven biển, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nghề nuôi thủy sản
nước lợ, đặc biệt là nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh. Các khu vực nuôi đều Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
iii CẢM TẠ Chúng tôi xin chân thành cảm tạ:
Ban giám hiệu trường đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí minh.
Qúi thầy cô Khoa Thủy Sản Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh đã
tận tình hướng dẫn và truyền đạt nhiều kiến thức quý báu trong các năm học vừa qua.
Xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến:
Thầy Nguyễn Văn Tư, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành tốt
luận văn tốt nghiệp này.
Lòng cảm ơn đến:
Các anh chò công tác tại các phòng ban, Sở Thủy Sản, Trung Tâm Khuyến
TÊN ĐỀ TÀI i
TÓM TẮT TIẾNG VIỆT ii
TÓM TẮT TIẾNG ANH iii
CẢM TẠ iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC BẢNG vii
DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH viii
I.
GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt Vấn Đề 1
1.2 Mục Tiêu Đề Tài 1
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
2.1 Vài Nét về Tỉnh Quảng Ngãi 2
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 2
2.1.2 Tình hình kinh tế- xã hội của tỉnh Quảng Ngãi 3
2.1.3 Đònh hướng phát triển nuôi thủy sản tại Quảng Ngãi 4
2.2 Lòch Sử Phát Triển Nghề Nuôi Tôm Trên Cát 6
2.2.1 Khái niệm về nuôi tôm trên cát 6
2.2.2 Lòch sử phát triển nghề nuôi tôm trên cát 6
2.2.3 Đặc điểm của vùng cát ven biển tỉnh Quảng Ngãi 6
2.3 Đặc Điểm Sinh Học của Tôm Thẻ Chân Trắng 7
2.3.1 Phân loại 7
2.3.2 Phân bố 7
2.3.3 Các yếu tố môi trường sống 7
2.3.4 Tính thích ứng với môi trường sống 8
4.4.5 Các nguồn học hỏi kỹ thuật nuôi 20
4.4.6 Hoạt động khuyến nông – khuyến ngư 20
4.5 Công Trình Ao Nuôi 21
4.5.1 Thiết kế và xây dựng ao nuôi 21
4.5.2 Hệ thống cấp và thoát nước 28
4.5.3 Hệ thống quạt nước 30
4.6 Qui Trình Kỹ Thuật Nuôi 31
4.6.1 Cải tạo ao 31
4.6.2 Khử trùng và gây màu nước 33
4.6.3 Vấn đề con giống 34
4.6.4 Chế độ thay nước 38
4.6.5 Quản lý các yếu tố môi trường 40
4.6.6 Thức ăn và cách cho ăn 41
4.6.7 Tình hình dòch bệnh 42
4.6.8 Thu hoạch 43
4.7 Phân Tích Hiệu Qủa Kinh Tế 43
4.8 Những Trở Ngại Từ Ý Kiến của Các Chủ Hộ Nuôi Tôm 45
4.9 Vấn Đề về Môi Trường 46
4.10 Đánh Gía Chung về Mô Hình Nuôi Tôm TCT Trên Cát Tại QN 47
4.10.1 Thuận Lợi 47
4.10.2 Khó khăn 48
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1
Kết Luận 49
5.2 Đề Nghò 49
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
vi
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
vii DANH SÁCH BẢN ĐỒ VÀ H
ÌNH ẢNH HÌNH NỘI DUNG
TRANG Hình 4.1 Mặt bằng và mặt cắt ao nuôi 23
Hình 4.2 Bắt đầu múc cát tạo hình da 24
Hình 4.3 i đất từ giữa ao về bờ ao 24
1.1 Đặt Vấn Đề
Trong những năm qua ngành nuôi trồng thủy sản nước ta, đặc biệt là nuôi tôm
sú xuất khẩu, phát triển rất mạnh mẽ và trở thành một ngành kinh tế quan trọng, có
động lực lớn trong việc thúc đẩy và phát triển nền kinh tế. Do lợi nhuận lớn từ nghề
nuôi tôm sú đem lại dẫn đến diện tích nuôi trồng ngày càng tăng, diện tích sử dụng
đất nông nghiệp ngày càng hẹp dần; đồng thời, giá đất ngày càng nâng cao gây rất
nhiều khó khăn cho các hộ nuôi tôm nếu không có nguồn vốn mạnh. Đi đôi với việc
tìm đất nuôi tôm thì cần phải có nguồn nước thích hợp để nuôi. Bên cạnh việc tìm đất
để nuôi và do sự phát triển nuôi tôm quá nhanh, nằm ngoài sự quản lý của các cơ
quan chức năng, làm cho các nguồn nước (mặn, ngọt) ngày càng bò ô nhiễm và mang
nhiều mầm bệnh dễ dàng lây lan giữa các hộ nuôi. Nhận thức được các điều đó các
người nuôi tôm ở các tỉnh miền trung đã chuyển sang hướng nuôi tôm sú trên vùng
đất cát hoang hoá bạc màu từ nhiều năm nay.
Trong vài năm gần đây nghề nuôi tôm sú ở tỉnh Quảng ngãi hầu như không
còn hiệu quả do dòch bệnh, môi trường bò ô nhiễm, con giống kém chất lượng,… nên
một số người dân vùng ven biển của tỉnh đã chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng
trên vùng đất cát đã mang lại hiệu quả; từ đó mà diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng
trên cát dần tăng lên (chủ yếu tập trung tại các xã ven biển hai huyện Mộ Đức và
Đức Phổ). Tôm thẻ chân trắng mới được du nhập để nuôi ở nước ta nên là đối tượng
tương đối còn mới mẻ so với người dân, cần được nghiên cứu kỹ. Trước yêu cầu đó, được sự chấp thuận của Khoa Thuỷ Sản Trường Đại học
Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh chúng tôi thực hiện đề tài:
“
2.1.1.1 Vò trí đòa lý và đòa hình
Quảng Ngãi là một trong những tỉnh duyên hải miền trung Trung bộ có vò trí
giới hạn trong khoảng vó độ từ 14
0
31’B – 15
0
26’B, kinh độ 108
0
13’Đ –109
0
05’Đ.
Phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp tỉnh Bình Đònh, phía tây giáp tỉnh
Kontum, phía đông giáp biển Đông.
Đòa hình của Quảng Ngãi nói chung độ dốc lớn từ tây sang đông. Phần lớn
diện tích của tỉnh là đồi núi và trung du, các con sông đều ngắn và dốc cho nên đồng
bằng châu thổ không rộng, lại bò chia cắt mạnh bởi các con sông dài, đồi núi và cồn
cát cao chạy sát dọc theo ven biển.
2.1.1.2 Điều kiện khí hậu và môi trường
Tỉnh Quảng Ngãi nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai
mùa rõ rệt. Mùa nắng từ tháng 1 –8, thời tiết nóng kéo dài; mùa mưa từ tháng 9-12,
thời tiết lạnh ẩm ướt
a/ Nhiệt độ
Biên độ nhiệt độ không khí thay đổi không lớn, nhiệt độ trung bình cả năm
25,8
d/ Chế độ thủy triều
Quảng Ngãi nằm trong vùng nhật triều không đều. Trong tháng có 18-22 ngày
nhật triều, số còn lại là bán nhật triều. Thời gian triều dâng dài hơn thời gian triều
rút. Độ lớn trung bình kỳ nước cường 1,2 –2 m, độ lớn trung bình kỳ nước kém 0,5 m.
Thủy triều đưa nước mặn vào sâu trong vùng hạ lưu các con sông Trà Bồng, Trà
Khúc, Châu Me, Sông Vệ, Sông Thoa; hình thành những tiềm năng nuôi trồng thủy
sản nước lợ.
e/ Độ mặn nước biển
Nước biển có độ mặn ổn đònh ở mức cao 33-34
0
/
00
gần các cửa sông và vào
trong sông độ mặn giảm dần. Độ mặn cũng thay đổi theo mùa, mùa khô độ mặn ở
mức cao, mùa mưa độ mặn giảm. Thời gian xuất hiện độ mặn từng vùng trong năm
thường chi phối thời gian mùa vụ nuôi tôm của từng vùng.
2.1.2 Tình hình kinh tế- xã hội của tỉnh Quảng Ngãi
2.1.2.1 Tình hình kinh kế- xã hội nói chung của tỉnh
- Trong những năm qua tình hình kinh tế –xã hội tỉnh Quảng Ngãi đã có
những bước chuyển biến đáng kể. Tốc độ tăng GDP trong thời kỳ 1996-2000 cao hơn
trung bình toàn quốc, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt. Tuy vậy, do đi lên từ
điểm xuất phát thấp nên tổng giá trò thu nhập của tỉnh vẫn còn thấp; GDP bình quân
đầu người (giá so sánh năm 1994) mới đạt 162,4 USD, bằng khoảng 41% mức bình
2.500 lao động chế biến vào khoảng 30.000 lao động dòch vụ. Các huyện thò khác,
đặc biệt ở vùng trung du miền núi, có nhiều điều kiện để phát triển nuôi trồng thủy
sản nước ngọt.
Nhìn chung độ tuổi của người tham gia nuôi trồng thủy sản khoảng từ 32 đến
50 tuổi, trình độ học vấn và công nghệ sản xuất còn thấp; bù lại họ có thực tiễn và bề
dày kinh nghiệm nghề nghiệp, nhất là cư dân làm nghề đánh bắt thủy sản. Riêng cư
dân làm nghề nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm sú, có kinh nghiệm ít nhất từ 5
năm trở lên và có trình độ học vấn tương đối cao vì thế mà việc tiếp nhận khoa học-
kỹ thuật có nhiều thuận lợi hơn.
2.1.3 Đònh hướng phát triển nuôi thủy sản tại Quảng Ngãi
2.1.3.1 Đònh hướng phát triển chung
Phát triển nuôi trồng thủy sản gắn với phát triển kinh tế-xã hội, chuyển đổi cơ
cấu kinh tế nông nghiệp, tạo nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu
tiêu thụ nội đòa, tạo việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống nhân dân, góp
phần ổn đònh chính trò xã hội, bảo vệ an ninh vùng biển.
Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững gắn với bảo vệ môi trường
sinh thái, phòng chống dòch bệnh cho các đối tương nuôi. Sử dụng có hiệu quả các
loại mặt nước vùng triều, đất nhiễm mặn, bãi bồi ven sông, đất cát bãi ngang ven
biển, đầm nước mặn, hồ chứa nước thủy lợi, ao hồ nhỏ ở cả vùng đồng bằng, ven
biển, trung du, miền núi.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
5
nước biển, khoảng cách vùng nuôi đến mép nước biển khá lớn phải xây dựng trạm
bơm công suất lớn đẩy nước biển theo đường ống vào hồ xử lý trước khi đưa vào các
ao nuôi.
+ Xây dựng ao xử lý nước thải tập trung bằng các phương pháp hoá học, sinh
học trước khi thải ra biển.
+ Xây dựng trạm bơm nước ngầm phân tán trong vùng nuôi vì trữ lượng nước
ngầm ven biển hạn chế.
+ Xây dựng trạm bơm, kênh dẫn nước ngọt từ hệ thống thủy lợi nông nghiệp
để phục vụ nuôi tôm trên đất cát.
- Dự kiến thu hoạch toàn vùng: (dự kiến cho tôm sú)
+ Năm 2005: diện tích 400 ha, năng suất 3 tấn/ha/năm, sản lượng 1.200 tấn.
+ Năm 2010: diện tích 1.082 ha, năng suất 3,9 tấn/ha/năm, sản lượng 4.259
tấn.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
6
- Dự kiến bố trí cơ sở hạ tầng phục vụ cho vùng nuôi:
+ Tổng diện tích xây dựng mới: 1.079 ha.
+ Số lượng trạm bơm nước biển 7: Đức Phổ 3 trạm, Mộ Đức 4 trạm.
+ Trạm bơm nước ngọt 7 trạm: Đức Phổ 3 trạm, Mộ Đức 4 trạm.
+ Tổng chiều dài kênh mương: 130.704 m.
+ Tổng diện tích hồ xử lý nước nuôi và xử lý nước thải: 233 ha.
+ Tổng nhu cầu điện: 7002 KW.
+ Đường giao thông: 21.500 m.
Mặc dù vậy tiến độ thực hiện các dự án đầu tư trong những năm qua rất chậm;
đẹp, mở ra triển vọng lớn cho nghề nuôi tôm trên vùng đất cát ven biển của tỉnh. Đến
nay diện tích nuôi tôm trên cát tăng lên rất nhiều.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
7
2.2.3 Đặc điểm của vùng cát ven biển tỉnh Quảng Ngãi
Đây là vùng đất cát đã được hình thành trong nhiều năm, từ bờ biển trở vào
đất liền vài km, chạy dọc theo đường bờ biển các xã Phổ An, Phổ Quang, Phổ Vinh,
Phổ Khánh (huyện Đức Phổ), Đức Thắng, Đức Chánh, Đức Minh, Đức Phong (huyện
Mộ Đức) khoảng hơn 130 km, đất có tầng cát dày 7-10 m, có nhiều cồn cát nhấp nhô,
trên cát có ít cây bụi thấp, các loại thực vật đặc chủng là cỏ nhiệt đới thân thấp, chòu
hạn và chòu mặn, khi gió mạnh tạo nên hiện tượng cát bay. Đây là yếu tố bất lợi của
loại hình nuôi trên cát, đặc biệt là trong quá trình thi công công trình.
.
2.3 Đặc Điểm Sinh Học của Tôm Thẻ Chân Trắng
2.3.1 Phân loại
Ngành: Arthropoda
Lớp: Crustacea
Bộ: Decapoda
Họ: Penaeidae
2.3.3 Các yếu tố môi trường sống
Theo Brockj và Main (1994), một số yếu tố môi trường phù hợp với nuôi
thương phẩm tôm thẻ chân trắng:
- Độ mặn: 15-28‰
- Nhiệt độ nước: 26-30
0
C
- pH: 7-9
- Độ trong: 25-50 cm
- Lượng oxy hoà tan: >3 mg/L
-Nitrite: < 0,1 mg/L
-Độ sâu: 1-2 m
-H
2
S: < 0,001 mg/L2.3.4 Tính thích ứng với môi trường sống
Tôm thẻ chân trắng có sự thích nghi rất mạnh đối với sự thay đổi đột ngột của
môi trường sống. Lên khỏi mặt nước khá lâu vẫn không chết. Các thử nghiệm cho
thấy: gói tôm con cỡ 2-7 cm trong một khăn ướt (độ ẩm trên 80%, nhiệt độ 27
0
C) để
sau 24 giờ vẫn sống 100%. Sức chòu dựng hàm lượng oxy thấp nhất của tôm là
1,2 mg/L.
2.3.4.1 Thích nghi với sự thay đổi độ mặn
ao bể có nhiệt độ 12-28
0
C chúng vẫn sống 100%; dưới 9
0
C thì tôm chết dần, tăng lên
41
0
C cỡ tôm dưới 4 cm và trên 4 cm thì chỉ chòu được tối đa là 12 giờ rồi chết hết.
2.3.5 Tập tính ăn của tôm thẻ chân trắng
Tôm thẻ chân trắng là loài tôm ăn tạp, tôm ăn cả thức ăn có nguồn gốc động
vật và thực vật. Trong quá trình nuôi người ta phát hiện thấy tôm chân trắng ăn cả
mảnh vụn thực vật và mùn bã hữu cơ. Khi bắt tôm lên kiểm tra, ruột lúc nào cũng
thấy đầy thức ăn kể cả sau khi ăn vài giờ. Chúng không chỉ ăn thức ăn do con người
cung cấp mà còn ăn cả thức ăn tự nhiên sẵn có trong ao như tảo, sinh vật phù du, sinh
vật đáy. Có thể nhìn thấy thức ăn trong ruột tôm. Sau nhiều giờ cho ăn, thức ăn trong
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
9 ruột tôm thường có màu đen hoặc tối vì sắc tố từ tảo và các sinh vật đáy khác mà
chúng ăn. Khi nhiệt độ lên đến 33
0
C vào buổi chiều tôm thường ăn ít. Vào lúc này
nên giảm lượng thức ăn và nên cho ăn vào lúc sáng sớm và chiều mát. Khi nhiệt độ
xuống thấp tôm cũng ăn ít nên vào mùa lạnh tránh cho tôm ăn vào lúc quá sớm.
Giống như các loài tôm thẻ khác thức ăn của nó cũng cần các thành phần: protein,
lipid, glucid, vitamin và muối khoáng… nhưng không đòi hỏi hàm lượng protein cao
- Có sức kháng bệnh virút đốm trắng khoẻ hơn.
- Tôm ăn mảnh vụn và mùn bã hữu cơ trong ao, có hệ số chuyển đổi thức ăn
thấp 1,2 – 1,5 (tôm sú 1,6 – 1,8), vả lại hàm lượng protein sử dụng trong thức ăn thấp
30% so với tôm sú là 40% nên thức ăn có giá rẻ hơn.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
10 2.3.9 Khía cạnh cần xem xét khi du nhập và mở rộng diện tích nuôi ở Việt
Nam
- Các nước Nam Mỹ nuôi tôm thẻ chân trắng rất phổ biến do tôm có các ưu
thế nói trên; ngoài ra do không còn có nguồn tôm sú phân bố tự nhiên đã hạn chế sự
lựa chọn đối tượng nuôi của các nước ở khu vực này. Tôm thẻ chân trắng đã được du
nhập vào nuôi ở một số nước không thuộc vùng phân bố tự nhiên của chúng như
Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Ở Trung Quốc tôm thẻ chân trắng là đối
tượng chính thay thế cho tôm thẻ Trung Quốc, năm 2001 tôm thẻ chân trắng của
Trung Quốc đã xuất khẩu sang Mỹ với khối lượng lớn và giá rất rẻ.
- Từ đầu năm 1990 đến nay nuôi tôm thẻ chân trắng bò đe doạ nghiêm trọng
bởi bệnh Taura do virut gây ra. Bệnh Taura được phát hiện lần đầu tiên tại Vònh
Guayaquil (Êcuor) năm 1992. Tôm bò bệnh Taura có màu đỏ ở đuôi và các phần
phụ, tỷ lệ tôm chết đến 80 – 85%. Gần đây virut gây bệnh Taura đã phát hiện ở Châu
Á, đặc biệt ở Đài Loan và Trung Quốc, nơi đã du nhập tôm thẻ chân trắng trong năm
1990. Cuối năm 1999, bệnh Taura du nhập cùng tôm giống và tôm bố mẹ gây bệnh
hàng loạt ở tôm thẻ chân trắng làm sản lượng của tôm của Đài Loan chỉ còn 10% sản
lượng của năm 1998. Nay bệnh Taura đã phát hiện thấy ở tôm sú ở những nước có
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
12 III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời Điểm và Đòa Điểm Điều Tra
Chúng tôi tiến hành khảo sát nuôi tôm trên cát tại hai xã Phổ An và Phổ
Quang – huyện Đức Phổ – tỉnh Quảng Ngãi. Thời gian khảo sát từ 25/3 – 30/6 năm
2005.
3.2 Bố Trí Điều Tra
Chúng tôi điều tra ngẫu nhiên những hộ nuôi tôm trên cát ở xã Phổ An và Phổ
Quang.
3.3 Phương Pháp Điều Tra và Thu Thập Số Liệu
3.3.1 Số liệu thứ cấp
Các số liệu thứ cấp được thu nhập chủ yếu từ các phòng chức năng của Sở
3.4 Phương Pháp Phân Tích
3.4.1 Phân tích các yếu tố kinh tế – xã hội và kỹ thuật
Sử dụng thống kê mô tả để phân tích các yếu tố kinh tế – xã hội và kỹ thuật:
- Khảo sát độ tuổi, trình độ văn hóa, nguồn lao động và công tác khuyến ngư
của các chủ hộ nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát.
- Khảo sát qui trình kỹ thuật nuôi bao gồm: thiết kế và xây dựng ao, cải tạo
ao, cho ăn, chăm sóc và quản lý, v.v.
- Khảo sát ảnh hưởng của mô hình nuôi tôm trên cát đối với môi trường tự
nhiên của khu vực nuôi.
3.4.2 Phân tích các yếu tố kinh tế
3.4.2.1 Các loại chi phí đầu tư
- Chi phí đầu tư cơ bản: là những khoảng đầu tư ban đầu như xây dựng ao đìa,
mua máy móc, xây dựng nhà cửa…
- Chi phí sản xuất: là khoảng tiền bỏ ra chi tiêu cho một vụ nuôi như thức ăn,
thuốc và hóa chất, con giống, nhiên liệu, v. v.
3.4.2.2 Hiệu quả kinh tế
Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm trên cát bao gồm các yếu tố
như lợi nhuận, hệ số lãi trên vốn sản xuất, v. v. Từ đó đưa ra nhận xét cho mô hình
lũy, tiếp thu được nhiều kỹ thuật nên đã đầu tư nâng dần trình độ lên hình thức nuôi
bán thâm canh và thâm canh.
Bảng 4.1 Các chỉ tiêu về nuôi tôm từ năm 2000-2004 ở tỉnh Quảng Ngãi
Các chỉ tiêu ĐVT 2000 2001 2002 2003 2004
+ Diện tích nuôi tôm (ha) 550 601 657 700 684
- Nuôi vùng triều (ha) 550 601 610 615 582
- Nuôi trên cát (ha) - - 47
*
55
*
102
*
+ Sản lượng tôm nuôi (tấn) 800 1.000 1.100 900 1.300
- Nuôi vùng triều (tấn) 800 1.000 1.050 700 500
- Nuôi trên cát (tấn) - - 50
*
200
*
800
*
+ Năng suất bình quân (tấn/ha) 1,45 1,66 1,67 1,28 1,9
- Nuôi vùng triều (tấn/ha) 1,45 1,66 1,72 1,08 1,16
- Nuôi trên cát (tấn/ha) - - 1,06
*
3,6
*
7,8
*
+ Chưa chấp hành tốt qui trình cải tạo ao, xử lý ao.
+ Kiểm tra, kiểm dòch chất lượng con giống trước khi thả nuôi không tốt.
+ Người dân thả nuôi không đúng thời vụ hướng dẫn của Sở Thủy Sản, mật
độ nuôi không phù hợp.
4.2 Tiềm Năng Đất Cát Ven Biển Tỉnh Quảng Ngãi Có Thể Đưa Vào Nuôi
Tôm
Vùng đất cát ven biển tỉnh Quảng Ngãi trãi dọc ven biển các huyện từ Bình
Sơn đến Đức Phổ là vùng đất cát trên cao triều (không ảnh hưởng của thủy triều).
Bảng 4.2 Tiềm năng đất cát ven biển có thể đưa vào nuôi tôm
Huyện Đất cát nằm Đất cát hoang Tổng
trong RPH (ha) sát ven biển (ha) (ha)
Huyện Bình Sơn 160 0 160
(Bình Hải, Bình Phú, Bình Châu)
Huyện Sơn Tònh (Tònh Khê) 0 35 35
Huyện Mộ Đức 1.022 162 1.184
(Đức Thắng, Đức Chánh,
Đức Minh, Đức Phong)
Huyện Đức Phổ 777 281 1.058
(Phổ An, Phổ Quang,
Phổ Vinh, Phổ Khánh)
Huyện Lý Sơn 0 20 20
Tổng 1.959 498 2.457
Ghi chú: RPH (rừng phòng hộ)
cho kết quả đáng kể cả về sản lượng, năng suất và hiệu quả kinh tế. Từ sự thành công
của đối tượng này mà diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát đã được nhân rộng ra
các xã khác như xã Phổ An (huyện Đức Phổ) bắt đầu nuôi năm 2004 và các xã Phổ
Vinh, Phổ Khánh (huyện Đức Phổ) hiện nay đang tiến hành nuôi.
Bảng 4.3 Tình hình sử dụng đất cát hiện nay để nuôi tôm tại Quảng Ngãi
Đòa phương Diện tích đất (PGM) Diện tích đất
có khả năng nuôi (ha) đã sử dụng (%)
1. Xã Tònh Khê 35 0
2. Xã Đức Thắng 20 0
3. Xã Đức Chánh 10 0
4. Xã Đức Minh 74 0
5. Xã Đức Phong 58 100
6. Xã Phổ An 60 26,67
7. Xã Phổ Quang 57 100
8. Xã Phổ Vinh 60 0
9. Xã Phổ Khánh 104 0
10. Huyện Lý Sơn 20 0
Tổng cộng 498 26,3
Ghi chu: PGMB (phần gần mép biển)
Vùng nuôi tôm trên cát hiện nay là khu vực đất cát gần mép biển hoang hoá,
đang chuyển dần sang nuôi tôm nhằm tận dụng khả năng sản xuất của vùng này. Đất
đai ở đây hầu như không có độ kết dính, rời rạc nên khả năng giữ nước rất kém nên
người dân nuôi bằng cách lót bạt đáy và bạt bờ để chống thấm lậu nước trong suốt
quá trình nuôi.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
17
Nam Nữ Cấp I Cấp II Cấp III ĐH < 30 30 – 50 > 50
Số hộ 30 0 3 14 12 1 0 24 6
Tỷ lệ (%) 100 0 10 46,6 40,1 3,3 0 80 20
Có thể nhận thấy người nuôi tôm ở đây đa số là những người có trình độ cấp II
và cấp III. Người có trình độ tư đại học tương đối thấp chiếm khoảng 3,3% tổng số hộ
điều tra, nhưng số người có trình độ cấp II - cấp III chiếm khá cao; cao nhất là cấp II
chiếm 46,6%, kế đến là cấp III chiếm 40,1%, còn lại là cấp I tương đối thấp chỉ có
10% .
Dù đối tượng nuôi là tôm thẻ chân trắng còn khá mới mẻ nhưng đa số hộ nuôi
tôm đều không thuê kỹ sư tư vấn về kỹ thuật. Khi được hỏi tại sao thì người nuôi cho
rằng họ không tin tưởng vào khả năng của người kỹ sư, người kỹ sư chỉ nắm phần lý
thuyết chứ kinh nghiệm nuôi không có; mà nghề nuôi tôm ngoài việc nắm bắt lý
thuyết ra đòi hỏi phải có kinh nghiệm nuôi để xử lý những tình huống xảy ra nhanh
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.