TRƯỜNG ĐẠI KINH TẾ TP. HCM
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
MÔN: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Đề tài:
Chi phí đại diện trong các công ty cổ phần và
doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam
GVHD: TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
SVTH : Trịnh Thị Ngọc Giang
Phạm Hồng Ngự
Nguyễn Thị Thùy Trang
Lớp : TCDN 4 - K32 Tp. HCM, tháng 01, năm 2009
1
MỤC LỤC
Lời mở đầu..........................................................................................................4
Phần 1- Những vấn đề cơ bản về chi phí đại diện ..............................................5
1.. Khái niệm về chi phí đại diện .......................................................................5
2. Phân loại .......................................................................................................7
2.1.
Chi phí đại diện của vốn cổ phần ............................................................7
....................................................................................
....................................................................................
....................................................................................
....................................................................................
....................................................................................
3
LỜI MỞ ĐẦU
Trong một nền kinh tế đầy biến động và phức tạp, quy mô của doanh nghiệp
càng lớn và sự cạnh tranh càng gay gắt, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải luôn tìm tòi
và phát triển một cơ cấu tổ chức hoàn thiện và hợp lý. Ở đó vai trò của người quản
trị là cực kỳ quan trọng và quyết định mức độ tồn tại và phát triển của công ty.
Không phải ngẫu nhiên mà trong các công ty lớn, sự phân định giữa quyền sở hữu
và quyền quản lý là điều hết sức cần thiết. Có một số nguyên nhân dẫn tới điều này
và tất cả cũng đều nhằm mục đích giúp cho doanh nghiệp phát triển tốt hơn và
nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.
Việc tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa chi phí, tối thiểu hóa rủi ro là mục tiêu
của bất cứ doanh nghiệp nào cũng hướng tới. Nói về tối thiểu hóa chi phí, có nhiều
loại chi phí khác nhau, bài viết này muốn đề cập đến vấn đề chi phí đại diện- một
loại chi phí không nhìn thấy được nhưng làm cho doanh nghiệp cũng gặp phải
nhiều khó khăn. Trong điều kiện kinh tế như hiện nay thì các doanh nghiệp phải
gánh chịu chi phí đại diện ở mức độ cao, việc khắc phục hay làm giảm chi phí đại
diện đòi hỏi sự nghiên cứu kĩ lưỡng.
Trong phạm vi một bài viết nhỏ, chúng tôi xin nêu ra những lý luận khái quát, tình
hình thực tiễn và một vài giải pháp cho vấn đề chi phí đại diện ở Việt Nam.
Xin được sự đóng góp ý kiến từ cô và các bạn để bài viết của chúng tôi được hoàn
chỉnh hơn. Chân thành cảm ơn!
tối đa hoá lợi ích của mình thông qua việc tăng giá trị của doanh nghiệp, còn lợi
ích của nhà quản lý thường gắn trực tiếp với thu nhập nhận được. Do nhà quản lý
là người trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệp nên họ có thể thực hiện
những hành vi hay quyết định nhằm tối đa hoá lơi ích cho cá nhân mình nhưng lại
làm tổn hại đến lợi ích của nhà đầu tư. Những tổn thất gây ra trong trường hợp này
được gọi là tổn thất do phân quyền hay chi phí đại diện (agency costs).
Agency costs - chi phí đại diện là vấn đề thường được nghe nhắc hoặc nói đến
nhiều trong kinh doanh khi mà người chủ và người quản lý không gặp nhau ở mục
đích của mình và vấn đế thông tin bất cân xứng (tình trạng thông tin bất cân xứng
phát sinh khi trong một giao dịch, một trong các bên tham gia có nhiều thông tin
hơn hoặc có thông tin tốt hơn các bên còn lại. Hoặc cũng có thể là trường hợp một
bên tham gia có khả năng áp đặt, tác động hoặc phản ứng lại một hoặc một số
điều khỏan bị phá vỡ trong thỏa thuận mà các bên còn lại không có năng lực đó).
Sự mâu thuẫn giữa mục tiêu của người chủ và người đại diện đã tạo nên mâu
thuẫn giữa người chủ - người đại diện. Các cổ đông là người chủ còn các nhà
quản lý chuyên ngiệp là người đại diện cho họ. Các cổ đông sẽ yêu cầu các nhà
quản lý làm sao để tăng giá trị của công ty nhưng các nhà quản lý có thể tự rút lui
khỏi những công vịêc nặng nhọc này hoặc có thể thu vén cho cá nhân để làm giàu.
Chi phí đại diện xuất hiện khi các nhà quản lý không cố gắng thực hiện nhiệm vụ
tối đa hóa giá trị công ty và các người chủ sẽ gánh chịu phí tổn để kiểm soát ban
quản lý và do đó ảnh hưởng đến công việc của họ.
Chi phí đại diện là chi phí phát sinh gồm:
9 Chi phí theo dõi bởi người chủ: Đây là những chi phí để giám sát
người đại diện để đảm bảo rằng người đại diện gắn với lợi ích của người
chủ. Đồng thời còn mở rộng hơn nữa là đối với các giám đốc, họ được các
cổ đông khuyến khích làm việc hiệu quả, thì bản thân họ- những nhà quản lý
6
cấp cao- lại phải tiếp tục suy nghĩ những biện pháp để khuyến khích các
nhân viên dưới quyền mình cũng nỗ lực làm việc- và tất cả những nhân viên
mức tối ưu hoặc tham gia vào những lĩnh vực kinh doanh mà công ty không có lợi
thế cạnh tranh. Với hành động như vậy, nhà quản lý mới có thể tăng quyền hạn của
mình bằng cách thâu tóm nhiều nguồn lực hơn, tăng thu nhập (do mức lương và
tiền thưởng được gắn với doanh số) hay giảm rủi ro mất việc.
2.2. Chi phí đại diện của nợ
Chi phí này phát sinh từ mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và chủ nợ. Trong tình
huống vốn cổ phần của một công ty có vay nợ là một quyền chọn mua đối với tài
sản của công ty, khi đó, cổ đông có thể chiếm hữu tài sản của chủ nợ bằng cách gia
tăng rủi ro đầu tư (Jensen và Meckling 1976). Myers (1977) gợi ý xa hơn là sự hiện
diện của nợ có thể khiến những dự án có NPV dương bị từ chối . Do nếu chấp nhận
dự án này thì rủi ro tài chính sẽ tăng (rủi ro phá sản) và giá trị sẽ chuyển từ cổ đông
sang trái chủ. Do đó, trái chủ sẽ đòi hỏi mức lãi suất cao hơn và kiên quyết áp dụng
những ràng buộc hạn chế vay vốn như khế ước vay nợ và sử dụng các công cụ
giám sát.
2.3. Chi phí đại diện do bất cân xứng thông tin giữa nhà đầu tư và nhà
quản lý
Nhà quản lý có những thông tin mà nhà đầu tư không thể có hoặc không muốn
có do chi phí để thu thập các thông tin đó là quá cao. Ví dụ, nhà quản lý có thể biết
được mức độ nỗ lực của mình trong khi nhà đầu tư không biết được; nhà quản lý
8
nhờ trực tiếp điều hành nên có được những thông tin nội bộ mà nhà đầu tư hoặc
không biết được hoặc biết nhưng không hiểu được đầy đủ.
Nhà quản lý có thể không nỗ lực với khả năng cao nhất của mình, do đó làm
giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (giám đốc, như bất kỳ một người bình
thường nào khác, có xu hướng thích nghỉ ngơi hơn là làm việc); nhà quản lý có thể
quyết định không đầu tư nguồn lực vào một dự án có khả năng sinh lời cao trong
tương lai vì làm như vậy sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận trong ngắn hạn (nếu thu nhập
của nhà quản lý được xác định dựa trên kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong
ngắn hạn); thậm chí nhà quản lý có thể báo cáo không trung thực về tình hình hoạt
10
PHẦN 2
CHI PHÍ ĐẠI DIỆN TRONG CÁC CÔNG TY CỔ
PHẦN VÀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1. Trong các công ty cổ phần
Mối quan hệ giữa cổ đông (người sở hữu vốn công ty) và giám đốc (người được
thuê quản trị vốn) và nhiều vấn đề của mối quan hệ này đã được các nhà nghiên
cứu tài chính ở các nước kinh tế thị trường nghiên cứu từ lâu. Lý thuyết về mối
quan hệ này cơ bản dựa trên sự chấp nhận rằng cổ đông và giám đốc luôn có
khuynh hướng cá nhân, tư lợi và cơ hội. Vì thế, mặc dù cùng trong một công ty
(công ty cổ phần), nhưng vì bản chất sở hữu vốn là khác nhau nên cổ đông và giám
đốc tuy về hình thức là cùng hướng đến lợi ích cho công ty, nhưng về bản chất thì
lại thường có đối kháng lợi ích. Lý thuyết này cho rằng khi giám đốc không sở hữu
cổ phiếu hoặc sở hữu không đáng kể cổ phiếu của công ty thì giám đốc thường
không cố gắng làm gia tăng lợi ích của cổ đông, cụ thể là làm gia tăng giá trị cổ
phiếu. Mà ngược lại, giám đốc sẵn sàng đeo đuổi những phương án kinh doanh,
đầu tư, chi tiêu... không mang đến hiệu quả cao nhất, thậm chí không hiệu quả nếu
các phương án, chi tiêu này là có lợi cho giám đốc về lợi ích vật chất, có thể là tiền
bạc, có thể là các kỳ nghỉ, có thể là phương tiện đi lại, phòng ốc làm việc xa xỉ... vì
những chi tiêu không hiệu quả này cụ thể hóa thành chi phí, cổ đông sẽ gánh chịu.
Tất cả các chi phí này gọi chung là chi phí đại diện - chi phí phát sinh do giám đốc
và cổ đông không đồng nhất về mục đích lợi ích.
11
Chấp nhận lý thuyết về mối quan hệ này trong cơ chế thị trường, có nghĩa là
chấp nhận khuynh hướng tư lợi của giám đốc, các công ty cổ phần đã có cách giải
quyết thực tế và hiệu quả hơn nạn tham nhũng trong công ty.