Luận văn: Ngân hàng tại các vùng duyên hải chuyên về tín dụng phát triển kinh tế biển và du lịch - Pdf 20

TRƯỜNG………………………
KHOA…………………… Luận văn: Ngân hàng tại các vùng duyên
hải chuyên về tín dụng phát triển kinh tế
biển và du lịch

LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý cua Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thực hiện chủ trương trên, từ Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12 - 1990) đến
nay, Đảng và Nhà nước đã ban hàng một số chủ trương, chính sách nhằm khuyến
khích tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển. Từ đó, các loại hình
doanh nghiệp như doanh nghiêp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần đã phát
triển nhanh chóng, đang trở thành lực lượng đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội ở nước ta.
Song nhìn chung quy mô hoạt động của các doanh nghiệp đến nay ở nước ta

- Hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên quan đến nhiều đối tượng khách
hàng mà những khách hàng này hoạt động trên những lĩnh vực khác nhau. Do đo
ngân hàng có thể phân tán rủi ro trong đầu tư và chịu nhiều rủi ro về sự đa dạng
cũng như mức độ.
- Hoạt động ngân hàng chịu nhiều sự kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ của nhà
nước và pháp luật.
- Hoạt động ngân hàng diễn ra một cách liên tục, các hoạt động có liên hệ bổ
sung lẫn nhau. Vì vậy, việc xác định kết quả của một hoạt động nào đó thì khó
chính xác.
3. Các nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại:
3.1 Nghiệp vụ tài sản nợ:
Huy động các nguồn vốn trong xã hội để hoạt động là lẽ sống quan trọng nhất của
các ngânhàng thương mại. Bằng những công cụ cần thiết mà pháp luật cho phép
NHTM đã huy động vốn từ các nguồn tiền trong xã hội làm nguồn vốn để cho vay
đối với các thành phần kinh tế. Kết quả của nghiệp vụ này là tạo ra nguồn vốn để
đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.
Thành phần nguồn vốn của NHTM gồm:
- Vốn điều lệ: là số vốn ban đầu khi thành lập ngân hàng được ghi vào điều lệ
của ngân hàng. Vốn điều lệ it nhất phải bằng vốn pháp định do Chính phu íqui
định.
- Các quỹ dự trữ: đây là quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và
phát triển của ngan hàng. Gồm có các quỹ sau:
+ Quỹ dự trữ
+ Quỹ dự phòng rủi ro
+ Quỹ khen thưởng phúc lợi
+ Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ
- Vốn huy động: đây là nguồn vốn chủ yếu của NHTM, gồm có:
+ Tiền gửi không kỳ hạn của đơn vị, cá nhân
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

này NHTM sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư dưới
các hình thức như: Góp vốn, mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty; Mua trái phiếu
Chính phủ, chính quyền địa phương; mua trái phiếu công ty
- Tài sản có khác: Là khoản mục còn lại của tài sản Có, trong đó chủ yếu là tài
sản lưu động và cơ sở vật chất để tiến hành các hoạt động ngân hàng, Bao gồm:
+ Xây dựng hoặc mua thêm nhà cửa làm trụ sở, văn phòng, hệ thống kho quỹ.
+ Mua sắm trang thiết bị, máy móc dụng cụ làm việc.
+ Mua sắm các phương tiện vận chuyển.
+ Các khoản phải thu, các khoản khác
3.3 Nghiệp vụ trung gian: NHTM thực hiện các nghiệp vụ trung gian nhằm đem
lại sự tiện ích cho khách hàng để thu phí dịch vụ và hoa hồng dịch vụ. Có những
loại dịch vụ sau:
- Các dịch vụ thanh toán, thu chi hộ cho khách hàng.
- Bảo quản các tài sản quý giá, giấy tờ, chứng thư quan trọng của công chúng.
- Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo ủy nhiệm của khách hàng.
- Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng bạc, đá quý
- Tư vấn tài chính, giúp đỡ các Công ty phát hành cổ phiếu, trái phiếu
II. TÍN DỤNG VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1. Khái niệm tín dụng:
Tín dụng được hiểu là sự chuyển nhượng việc sử dụng một lượng giá trị dưới
dạng tiền tệ hoặc tài sản phi tiền tệ từ người cho vay sang người đi vay với những
điều kiện nhất định để sau một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận vốn sẽ
được hoàn trả với một lượng giá trị danh nghĩa lớn hơn ban đầu.(Theo quan điểm
Mác).
2. Khái niệm Tín dụng Ngân hàng:
TDNH là một giao dịch về tài sản(tiền) giữa bên cho vay( ngân hàng ) và bên đi vay
(cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài
sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay
có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện với gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn
thanh toán.

tài sản hình thành từ vốn vay hoặc sự bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
- Tín dụng không có đảm bảo : là hình thức cho vay mà cơ sở để hình thành
tín dụng chủ yếu dựa vào uy tín của của bản thân khách hàng Từng ngân hàng có
cách xác định và lựa chọn, tuy nhiên các ngân hàng thường dựa vào: uy tín, năng
lực tài chính, tính khả thi và hiệu quả mục đích sử dụng vốn
4.3 Phân loại theo mục đích sử dụng vốn:
- Tín dụng tiêu dùng: cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt của
các cá nhân, gia đình trong xã hội: cán bộ công chức, viên chức, công nhân, hưu trí
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá : cho vay đối với các doanh nghiệp
và cá thể khác để tiến hành đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh
4.4 Phân loại theo hình thái giá trị tín dụng;
- Tín dụng bằng tiền: là loại cho vay mà hình thái giá trị tín dụng được cung
cấp bằng tiền.
- Tín dụng bằng tài sản: là loại cho vay mà hình thái giá trị tín dụng được cung
cấp bằng một loại tài sản nhất dịnh nào đó.
4.5 Phân loại theo thành phần kinh tế:
- Tín dụng thành phàn kinh tê úquốc doanh: là loại tín dụng được cấp cho các
thành phần kinh tế thuộc sở hửu nhà nước để bổ sung vốn lưu động và vốn cố định
đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, cải tạo đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật của đất
nước nhằm phục vụ cho nhu cầu của xã hội.
- Tín dụng thành phần kinh tế ngoài quốc doanh:là loại tín dụngđược cấp
phátcho các thành phần kinh te úkhông thuộc sở hửu nhà nước để bổ sung vốn lưu
động và cố định phục vụ cho nhu càu sản xuất kinh doanh của họ.
5. Vai trò của tín dụng ngân hàng:
- Tín dụng Ngân hàng là một hoạt động không thể thiếu đối với bất kỳ quốc
gia nào, nó có vai tro ìrất quan trọng trong nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy được
sử dụng một cách linh hoạt đối với mọi thành phần kinh tế .Điều này thể hiện rõ qua
vai trò của Tín dụng Ngân hàng.
- Tín dụng ngân hàng giúp thúc đẩy sản xuất phát triển : Tín dụng Ngân hàng
là công cụ tích tụ tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư, nó cung ứng kịp thời

pháp luật về DNVVN, Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày
23/11/2001 quy định về việc trợ giúp phát triển DNVVN đã có định nghĩa:
“DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp
luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình
hàng năm không quá 300 người”. Với tiêu chí xác định như trên thì tỷ trọng
DNVVN hiện nay đã tăng lên đáng kể với số lượng trên 100.000 doanh nghiệp,
chiếm khoảng 90% tổng số doanh nghiệp trong cả nước. Đa phần các DNVVN hoạt
động trong các lĩnh vực Thương mại dịch vụ, công nghiệp chế biến, xây dựng và
vận tải với mức đóng góp đáng kể trong cơ cấu GDP hằng năm.
2. Ưu thế của DNVVN
2.1. DNVVN năng động, nhạy bén và dể thích ứng với sự thay đổi của thị trường.
Đây là một ưu thế nổi trội của DNVVN. Với quy mô nhỏ và vừa, bộ máy quản lý
gọn nhẹ, DNVVN dể dàng tìm kiếm và đáp ứng những yêu cầu có hạn trong những
thị trường chuyên môn hóa. Mặt khác, DNVVN thường có mối liện hệ trực tiếp với
thị trường và người tiêu thụ nên có phản ứng nhanh nhạy với sự biến động của thị
trường. Với cơ sở vật chất kỷ thuật không lớn, DNVVN đổi mới linh hoạt hơn, dể
dàng chuyển đổi sản xuất hoặc thu hẹp quy mô mà không gây ra những hậu quả
nặng nề cho xã hội.
2.2. DNVVN tạo lập dể dàng, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp.
Để thành lập một DNVVN chỉ cần một số vốn đầu tư ban đầu tương đối ít, mặt
bằng sản suất nhỏ, quy mô nhà xưởng không lớn. Với ưu thế nhỏ gọn, năng động,
dể quản lý, không cần nhiều vốn như vậy, các DNVVN vừa rất linh hoạt trong việc
học hỏi, phát triển và tránh những thiệt hại to lớn do môi trường khách quan tác
động lên. Mặt khác, do một số Doanh nghiệp vừa và nhỏ được thành lập mang tính
gia đình, bè bạn nên mối khi gặp khó khăn, công nhân và chủ DN dể dàng tự hạ
thấp tiền lương, có tinh thần nỗ lực vượt bậc để vượt qua khó khăn. Điều đó làm
cho DNVVN giảm được chi phí cố định, tận dụng lao động để thay thế vốn bằng
tiền
2.3. DNVVN tạo điều kiện duy trì tự do cạnh tranh, hạn chế độc quyền.
Khác với các DN lớn, cần thị trường lớn, đòi hỏi phải có sự bảo hộ của Chính phủ,

Với ưu thế tạo lập dể dàng do chỉ cần một lượng vốn ít, các Doanh nghiệp vừa và
nhỏ gặp phải hạn chế là năng lực tài chính thấp, từ đó dẫn đến một loạt bất lợi cho
DNVVN trong sản xuất kinh doanh.
Trước hết, vốn chủ sở hữu ít nên khả năng vay vốn vủa DNVVN rất hạn chế. Các
DNVVN thường thiếu tài sản thế chấp cho khoản tiền dự định vay. Tiếp đến, do khả
năng tài chính hạn chế, quy mô kinh doanh không lớn, cũng rất khó khăn và ít có
khả năng huy động được vốn trên thị trường. Chính vì thế, các DNVVN luôn ở
trong tình trạng thiếu vốn. Điều đó khiến cho khả năng thu lợi nhuận của DNVVN
bị giới hạn ngay cả khi có cơ hội kinh doanh và có yêu cầu mở rộng sản xuất. Với
tình trạng đó, khả năng tự tích lũy của các DNVVN cũng bị hạn chế.
3.2. DNVVN thiếu thông tin, trình độ quản lý, điều hành thường bị hạn chế.
Trong thời đại ngày nay, thông tin cũng là yếu tố một đầu vào vô cùng quan trọng
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ do khả năng tài chính hạn chế mà DNVVN thường khó
khăn trong việc tiếp cận thông tin thị trường, tiếp cận công nghệ sản xuất cũng như
công nghệ quản lý tiên tiến Do đó, trình độ quản lý của đội ngũ điều hành trong
các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng bị hạn chế.
3.3. DNVVN bị bất lợi trong việc mua nguyên vật liệu, trang bị máy móc thiết bị và
tiêu thụ sản phẩm.
Với quy mô kinh doanh không lớn, khả năng tài chính hạn hẹp, DNVVN cũng
thường không được hưởng các khoản chiết khấu hay giảm giá do mua với số lượng
ít. Trong trường hợp cần phải nhập máy móc, thiết bị của nước ngoài, DNVVN
thường thiếu ngoại tệ và không mua được trực tiếp mà thường qua đại lý trong nước
nên giá cả bị đắt hơn. Bên cạnh đó, cũng do khả năng tài chính hạn hẹp nên
DNVVN khó có thể dành ra một khoản tiền đủ lớn để thực hiện chiến lược
marketing, và do đó khïo có khả năng vươn ra thị trường thế giới.
3.4. DNVVN ít có khả năng thu hút được các nhà quản lý và lao động giỏi.
Với quy mô sản xuất kinh doanh không lớn, sản phẩm tiêu thụ không nhiều, Doanh
nghiệp vừa và nhỏ khó có thể trả lương cao cho người lao động. Và cùng với sự
thiếu vững chắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh, DNVVN vừa khó có khả

nghiệp thì trung bình mỗi DNVVN tạo việc làm cho khoảng 20 lao động, chiếm
49% lực lượng lao động cả nước. Từ đó giảm tỷ lệ thất nghiệp còn 5,8% năm 2002
so với tỷ lệ 7,4% năm 1999. (Theo Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ, ngày
1/3/2004)
Như vậy, vai trò trong công cuộc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội quốc gia của
các DNVVN là không thể phủ nhận. Song, hiện nay các doanh nghiệp này đang gặp
phải không ít trở ngại, khó khăn làm hạn chế sự phát triển của mình.
Đầu tiên và cũng là lớn nhất là khó khăn về vốn. Mặc dù số lượng DNVVN chiếm
tỷ lệ rất lớn trong tổng số doanh nghiệp của cả nước, song tổng số vốn cho sản xuất,
kinh doanh mới chỉ bằng 30% so với tổng số vốn của các doanh nghiệp. Số vốn
bình quân của một DNVVN không quá 1 tỷ đồng (Tạp chí Tài Chính Doanh nghiệp,
số 8/2003). Điều này một mặt phản ánh mức độ thu hút, tập trung vốn vào sản xuất,
kinh doanh của các DNVVN còn thấp; mặt khác phản ánh các DNVVN nhìn chung
đều gặp khó khăn, thiếu vốn để mở rộng quy mô hoạt động của mình.
Khó khăn về công nghệ, kỷ thuật. Bên cạnh thiếu vốn để sản xuất và mở rộng sản
xuất, các DNVVN còn ở trong tình trạng lạc hậu về công nghệ, trang thiết bị do
đó sản phẩm sản xuất ra thường là chất lượng thấp, rất khó cạnh tranh trong điều
kiện hội nhập khu vực và thế giới.
Trình độ quản lý doanh nghiệp và tay nghề người lao động. Hiện nay các DNVVN
đa phần thiếu vắng những nhà quản lý có trình độ cao, hội đủ năng lực để chỉ đạo
sản xuất, kinh doanh theo chiến lược mong muốn, do vậy không đủ sức chèo lái để
doanh nghiệp hoạt động khi gặp khó khăn trong sản xuất như: biến động thị trường,
giá cả, tỷ giá, lãi suất, nợ, xuất nhập khẩu và các mối quan hệ khác.
Trình độ tay nghề của người lao động trong các DNVVN hiện rất thấp. Số lao động
có tay nghề giản đơn, chưa qua đào tạo bình quân chiếm khoảng 60-70%. Đây thực
sự là một khó khăn lớn đối với việc phát triển của các DNVVN. Ngoài ra, các
DNVVN hiện nay còn gặp phải một số khó khăn khác như: thiếu mặt bằng sản xuất,
kinh doanh ổn định, lâu dài; thiếu thông tin, các phương tiện xử lý thông tin, Đó
là chưa kể đến một số khó khăn về cơ chế như: sự thiếu bình đẳng trong kinh doanh,
sự phân biệt đối xử

giao cho việc hạch toán báp sổ.
Dần dần, cùng với sự phát triển và ổn định kinh tế của đất nước và do tình
hình thực tế là khu vực trọng điểm lớn của Nhà nước và thành phố đang xây dựng,
hình thành và phát triển.
Trước tình hình kinh tế chung của đất nước khi đó hoạt động tài chính tiền tệ gặp
nhiều khó khăn, đặc biệt từ năm 1985 - 1988 do những ảnh hưởng xấu của việc bội
chi ngân sách, với số lượng tiền mặt lưu thông lớn, lạm phát tăng nhanh. Để thích
ứng với tình hình trên, ngày 06/03/1988 Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ ban
hành Nghị định số 53/HĐBT về tổ chức NHNN Việt Nam và hệ thống NH Việt
Nam chuyển sang hệ thống ngân hàng hai cấp.
NH ĐT&PT ĐN dưới sự điều tiết của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
(NH ĐT&PT VN), mọi kế hoạch cân đối tín dụng của Ngân hàng đều được NH
ĐT&PT VN phê duyệt, thông báo cụ thể, NH ĐT&PT ĐN có nhiệm vụ điện báo
hàng ngày và định kỳ hoạt động kinh doanh về NH ĐT&PT VN.
Là một tổ chức kinh doanh tiền tệ hoạt động thường xuyên, chủ yếu là nhận tiền gửi
của khách hàng và có trách nhiệm hoàn trả và sử dụng nguồn vốn đó để cho vay với
mục đích kinh doanh có lãi và giúp đỡ về vốn với các tổ chức kinh tế trên địa bàn
quận góp phần mở rộng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận nói
riêng vàThành phố Đà Nẵng nói chung. Với tổng số trên 100 cán bộ công nhân
viên, ngân hàng tổ chức các phòng ban như:phòng kế toán, phồng nguồn vốn,phòng
tín dụng, phồng thanh toán quốc tế, phòng giao dịch các bộ phận này được chuyên
môn hoá theo nghiệp vụ ngân hàng nhưng nó luôn có quan hệ với nhau tạo điếu
kiện nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng.
Nhìn chung với sự cố gắng của mình, Ngân hàng luôn khơi tăng nguồn vốn tín
dụng, phát triển cơ câu nguồn tiền gửi lãi suất thấp tạo điều kiện phát triển kinh tế
và kinh doanh ngân hàng. Tăng cường nguồn thu tiền mặt đáp ứng kịp thời và thoả
mãn nhu cầu cho tiền của doanh nghiệp, tư nhân cá thể. Tổ chức thanh toán không
dùng tiền mặt kịp thời, chính xác góp phần tăng tốc độ chu chuyển vốn cho nền
kinh tế. Đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng, tạo môi trường phát triển kinh tế và đời
sống xã hội.

tăng trưởng mạnh là do trong bối cảnh cạnh tranh Ngân hàng đã bám sát tình hình
thực tế trên địa bàn, linh hoạt trong chính sách lãi suất, được khách hàng tín nhiệm.
- Trong cơ cấu nguồn vốn huy động của chi nhánh cho thấy, nguồn huy động
từ các tổ chức kinh tế năm 2004 tăng 27,47% so với cùng kỳ năm 2003. Sự tăng lên
của nguồn vốn này phần lớn là từ nguồn tiền gửi không kỳ hạn còn nguồn tiên gửi
có kỳ là không đáng kể. Có được điều này là do những năm vừa qua NH ĐT&PT
Đà Nẵng đã thiết lập mối quan hệ đáng tin cậy với các doanh nghiệp trên địa bàn
nên ngày càng có nhièu doanh nghiệp tham gia giao dịch với Ngân hàng và luôn có
số dư lớn. Đây là một lợi thế trong hoạt động kinh doanh hiện nay của chi nhánh do
nguồn tiền gửi không kỳ hạn được xem là nguồn vốn có chi phí thấp nhất . Tuy
nhiên, tính chất nguồn vốn này mức độ ổn định không cao, thường tuỳ vào nhu cầu
sử dụng vốn của các tổ chức trong nền kinh tế và chi phí cho việc sử lý các giao
dịch tiền gửi không kỳ hạn ngay càng cao.
- Tiền gửi tiết dân cư năm 2004 làü tăng 25,57% so với năm 2003 .Vì Ngân
hàng đã có những biện pháp thích đáng để khơi dậy nguồn vốn tai chỗ nhằm đảm
bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của NH.
- Nguồn huy động ngắn hạn và dài hạn có tăng nhưng chủ yếu là nguồn dài
hạn còn nguồn ngắn hạn tăng không đấng kể :nguồn ngắn hạn năm 2004 đạt 1.1274
tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng 16,55%.
Nguồn vốn huy động qua 2 năm có tăng không đáp ứng nhu cầu vay vốn
ngày càng tăng của khách hàng nên bên cạnh nguồn vốn huy động được NH
ĐT&PT Đà Nẵng phải vay vốn điều từ NHTƯ vào năm 2003 là 545 tỷ đồng, năm
2004 là 845 tỷ đồng.
Nhìn chung, năm 2004 đánh dấu một năm khá thành công của NH ĐT&PT
Đà Nẵng trong công tác huy động vốn, tuy nhiên so với quy mô hoạt động ngày
càng mở rộng, nguồn vốn huy động tại chỗù vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vốn
vay của các đơn vị, tổ chức trên đại bàn. Trong năm tới, Ban lãnh đạo chi nhánh sẽ
có những biện pháp tăng cường nguồn huy động, điều chỉnh cơ cấu huy động để
đảm bảo sự chủ động trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh trong những năm
tới.

Qua bảng trên cho thấy lợi nhuận kinh doanh năm 2004 đã tăng trưởng khá
mạnh, do hoạt động kinh doanh hiệu quả tổng thu nhập tăng11,50% làm lợi nhuận
giảm tăng 15,43% tương ứng 2.382 tỷ đồng, từ đó phần nào ảnh hưởng tốt đến hoạt
động của chi nhánh trong năm vừa qua. Mặc dù chỉ tiêu lợi nhuận vẫn chưa đánh
giá được thực chất tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nhưng nó cũng
nói lên đựoc đến chất lượng dịch vụ của Ngân hàng.
Qua tìm hiểu khái quát về tình hình chung của NH ĐT&PT Đà Nẵng trong
năm 2003-2004, với những thuận lợi như vậy trong năm hy vọng trong năm tới chi
nhánh sẽ tiếp tục duy trì, đạt được những thành tích lớn và phát huy những thế
mạnh vốn có để NH ĐT&PT Đà Nẵng ngày càng là chỗ dựa vững chắc và đáng tin
cậy của các doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn.
II. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DNVVN TẠI TP ĐÀ NẴNG.
Thành phố Đà Nẵng - một trong 4 đô thị lớn nhất cả nước, là trung tâm kinh tế,
chính trị, thương mại, văn hoá, xã hội và là cửa ngõ giao thương quốc tế của cả khu
vực Miền Trung-Tây Nguyên. Trong những năm qua, bộ mặt thành phố đã có nhiều
thay đổi với nhiều thành tựu to lớn trong tất cả các lĩnh vực.
Trong năm 2003 vừa qua, tốc độ tăng trưởng GDP toàn thành phố đạt đến 48.325 tỷ
đồng, tăng 12,62% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, GTSX ngành công nghiệp
đạt 5.858 tỷ đồng, tăng 21,67%; GTSX ngành Nông-Lâm Thuỷ sản tăng 5,86%;
tổng mức bán lẻ hàng hoá dịch vụ đạt 5.881 tỷ đồng, tăng 8,59%; kim ngạch XNK
đạt 328,7 triệu USD, tăng 16,56%; vốn đầu tư phát triển tăng 14,65%; thu nhập bình
quân đầu người đạt 980 USD/người/năm (Báo cáo tình hình KT-XH TP Đà Nẵng
Năm 2003, Cục Thống Kê TP Đà Nẵng). Hàng trăm dự án, công trình trọng điểm
phục vụ công cuộc phát triển chỉnh trang đô thị từ Hầm đường bộ qua Đèo Hải Vân
(quy mô nhất khu vực Đông Nam Á), các tuyến đường Nguyễn Tất Thành, Phạm
Văn Đồng, Bạch Đằng, dự án đường cao tốc Đà Nẵng-Dung Quốc, đến mở rộng
sân bay Quốc tế, nâng cấp Cảng Tiên Sa, công trình cầu Tuyên Sơn, Cầu Thuận
Phước đã đang và sẽ tiếp tục hoàn thành.
Năm 2004 , Thành phố Đà Nẵng đã chứng kiến nhiều sự kiện chính trị quan trọng
trong quá trình đổi mới, phát triển của mình: Được Chính phủ chính thức công nhận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status