Tài liệu: Updatebook.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
MỤC LỤC
Mở đầu: lý do chọn đề tài.................................................................3
Nội dung ............................................................................5
I. Khái quát chung..............................................................................5
1.1. Khái niệm về chất thải và phân loại chất thải.............................5
1.1.1. Khái niệm về chất thải.............................................................5
1.1.2. Các cách phân loại chất thải....................................................5
1.2. Rác thải sinh hoạt 6
1.2.1. Khái niệm rác thải sinh hoạt 6
1.2.2. Thành phần của rác thải sinh hoạt 7
1.2.3. Tác động của rác thải đến môi trường và con người 7
1.2.3.1. Ô nhiễm do rác 7
1.2.3.2. Hiện trạng rác thải sinh hoạt ở Việt Nam 8
1.2.3.3.Các giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu chất thải rắn 9
1.2.3.4. Công tác quản lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay 10
1.2.3.5. Một số biện pháp cụ thể trong việc xử lý, phòng ngừa và giảm
thiểu rác thải sinh hoạt trên thế giới..................................................12
1.2.3.5.1. Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh....................................12
1.2.3.5.2. Công nghệ thiêu hủy..........................................................13
1.2.3.5.3. Công nghệ xử lý rác bằng công nghệ vi sinh (sinh học). ..13
1.2.3.5.4.Tái chế rác thải....................................................................14
1.2.3.5.5. Hiện trạng xử lý rác thải tại một số nước trên thế giới......16
1.3. Tình hình năng lượng – khí đốt hiện nay....................................19
II. Sản xuất khí đốt từ rác thải sinh hoạt............................................20
2.1. Phương pháp Popov....................................................................21
2.2. Phương pháp nhiệt hóa học........................................................21
2.3. Công nghệ biogas.......................................................................22
2.3.1. Khái niệm.................................................................................22
2.3.2. Cơ sở lý thuyết của công nghệ Biogas.....................................22
2.3.3. Thiết kế hầm Biogas................................................................24
cần thiết. Hơn nữa, việc sử dụng dầu mỏ, than đá làm khí đốt cũng tạo
một lượng lớn các khí độc hại ra ngoài môi trường.
Để giải quyết hai vấn đề này một lúc là một bài toán rất khó
nhưng nếu giải quyết tốt sẽ mang lại những lợi ích to lớn đối với con
người. Các nước đang cố gắng hết sức để tìm ra các biện pháp để giải
3
quyết vấn đề này. Một trong những biện pháp được coi là tối ưu đã và
đang được sử dụng ưa chuộng ở nhiều nước, đó là sản xuất khí đốt từ
rác thải sinh hoạt. Phương pháp này không những tận dụng được
lượng rác thải giúp môi trường xanh sạch đẹp mà nó còn giải quyết
được vấn đề năng lượng cho con người.
Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nước phát triển thành tựu này
của khoa học kỹ thuật vào trong đời sống và đạt được nhiều thành
công .Nước ta là một nước còn nghèo, thực trạng xử lý rác thải còn
chưa tốt, xăng dầu và chất đốt gây khó khăn lớn cho nhân dân.Tình
hình sản xuất khí đốt từ rác thải chưa phát triển, mới bắt đầu phát triển
công nghệ sản xuất biogas từ phân hữu cơ, chưa tận dụng được nhiều
nguồn rác thải, bởi vậy rác thải còn tràn lan gây ô nhiễm môi trường.
Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “sản xuất khí đốt từ rác thải
sinh hoạt” với mong muốn qua đề tài này, mọi người sẽ hiểu sâu hơn
về ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường, công nghệ xử lý rác thải,
áp dụng có hiệu quả trong đời sống, làm cho đời sống con người ngày
càng phát triển, ngày càng văn minh, hiện đại hơn.
4
NỘI DUNG
I. Khái quát chung
1.1. Khái niệm về chất thải và phân loại chất thải
1.1.1. Khái niệm về chất thải
Chất thải là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong
các hoạt động kinh tế- xã hội, bao gồm các hoạt động sản xuất và hoạt
các hợp chất có các tính chất nguy hại. Thường là các chất thải phát
sinh trong gia đình, đô thị…
- Phân loại theo trạng thái chất thải:
+ Chất thải theo trạng thái rắn: bao gồm các chất thải sinh hoạt,
chất thải từ các cơ sở chế tạo máy, xây dựng( kim loại, da, hóa chất
sơn, nhựa thủy tinh, vật liệu xây dựng…)
+ Chất thải ở trạng thải lỏng: phân bùn từ cống rắn, bể phốt,
nước thải từ nhà máy lọc dầu, rượu bia, nước từ nhà máy sản xuất
giấy, dệt nhuộm và vệ sinh công nghiệp…
+ Chất thải ở trạng thái khí: bao gồm khí thải các động cơ đốt
trong các máy động lực, giao thông, ô tô, máy kéo, tàu hỏa, nhà máy
nhiệt điện, sản xuất vật liệu…
1.2. Rác thải sinh hoạt
1.2.1. Khái niệm rác thải sinh hoạt
Chất thải rắn( còn gọi là rác) là các chất rắn bị loại ra trong quá
trình sống, sinh hoạt, sản xuất của con người và động vật. Rác phát
sinh từ các gia đình, khu công cộng, khu thương mại, khu xây dựng,
bệnh viện, khu xử lý chất thải…Trong đó, rác thải sinh hoạt chiếm tỉ
lệ cao nhất. Số lượng, thành phần, chất lượng rác thải ở từng khu vực,
từng quốc gia là rất khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển khoa
học, kĩ thuật.
6
Bất kì hoạt động sống của con người, tại nhà, công sở, trên đường
đi, tại nơi công cộng…đều sinh ra một lượng rác đáng kể. Thành phần
chủ yếu của chúng là các chất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại môi
trường sống. Cho nên rác thải sinh hoạt có thể định nghĩa là các thành
phần tàn tích hữu cơ phục vụ cho hoạt động sống của con người,
chúng không còn được sử dụng và vứt trả lại môi trường sống.
1.2.2. Thành phần của rác thải sinh hoạt
- Rau, thực phẩm thừa, chất hữu cơ dễ phân hủy chiếm khoảng 64.7
nhiễm không khí.
Rác hữu cơ dễ phân hủy sinh học. Trong môi trường hiếu khí, kị
khí có độ ẩm cao, rác phân hủy sinh ra CO
2
, SO
2
, CO, H
2
S, NH
3
…
ngay từ khâu thu gom đến chôn lấp. CH
4
là chất thải thứ cấp gây cháy
nổ.
• Ô nhiễm đất:
Nước rò rỉ trong các bãi rác gây ô nhiễm đất.
Những nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm do rác thải sinh hoạt:
o Trình độ hiểu biết của nguời dân còn thấp (không thấy rõ tác hại của
việc vứt rác thải bừa bãi và tầm quan trọng trong việc bảo vệ môi
trường, không biết tận dụng phế phẩm thừa làm phân bón).
o Ý thức, trách nhiệm còn kém (không bỏ rác đúng nơi quy định, bảo
thủ không muốn thực hiện theo những chủ trương về bảo vệ môi
trường đã đề ra vì sợ tốn tiền).
o Các cấp chính quyền địa phương còn lơ là đối với việc quản lý môi
trường.
o Ở khu vực đô thị, quá trình đô thị hóa hiện nay kéo theo một số lượng
người dân ở nông thôn ra thành phố sống đã gây nên những xáo trộn
lớn lao trong sinh hoạt ở các vùng dân cư và vấn đề rác thải đang có
nguy cơ ngày càng tăng, đặc biệt là trong các đô thị mới, khu kinh tế
- Dự báo tổng lượng rác thải rắn sinh hoạt đô thị đến 2010 là vào
khoảng hơn 12tr tấn/năm và đến 2020 khoảng 22tr tấn/năm.
Như vậy với lượng gia tăng lượng chất thải rắn như trên thì nguy cơ ô
nhiễm môi trường và tác động tới sức khỏe cộng đồng do chất thải rắn
gây ra đang trở thành một trong những vấn đề cấp bách của công tác
bảo vệ môi trường ở nước ta.
1.2.3.3. Các giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu chất thải rắn
• Triển khai rộng rãi công tác phân loại rác thải ngay tại nguồn phát
sinh sẽ góp phần giảm bớt gánh nặng cho thu gom và xử lý chất thải
9
đô thị.
• Xây dựng hướng dẫn về công tác quản lý chất thải rắn nói chung,
chất thải nguy hại nói riêng và phổ biến rộng rãi các hướng dẫn này.
• Tăng cường khung thể chế, kể cả phát triển hệ thống thu phí chất
thải để cân bằng chi phí cho quản lý chất thải rắn;
• Mở rộng chương trình nâng cao nhận thức về quản lý chất thải rắn
cho cộng đồng, đặc biệt là đối với các công ty là chủ nguồn thải.
• Tăng cường đáng kể nguồn lực giám sát và cưỡng chế thực hiện quy
chế quản lý chất thải rắn.
• Đầu tư cơ sở vật chất để xử lý và tiêu huỷ chất thải rắn theo phương
thức hợp vệ sinh. Cụ thể là đầu tư hệ thống xử lý chất thải nguy hại và
bãi chôn lấp an toàn cho các loại chất thải rắn.
• Nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc quản lý chất thải rắn và
huy động cộng đồng tự giác tham gia giải quyết vấn đề chất thải rắn.
1.2.3.4. Công tác quản lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay
- Hiện nay việc thu gom và xử lý rác thải vẫn đang còn ở tình trạng
chưa đáp ứng yêu cầu, đây là nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm
môi trường nước, không khí, đất, vệ sinh đô thị và ảnh hưởng xấu đến
cảnh quan đô thị và sức khoẻ cộng đồng.
- Việc xử lý chất thải rắn đô thị cho đến nay chủ yếu vẫn là đổ ở các
nhập cao nhất ở các vùng nông thôn được thu gom rác. Ở các vùng đô
thị, dịch vụ thu gom chất thải thường cũng chưa cung cấp được cho
các khu định cư, các khu nhà ở tạm và ngoại ô thành phố là nơi sinh
sống chủ yếu của các hộ dân có thu nhập thấp. Nhiều sáng kiến mới
đang được thực hiện nhằm khắc phục tình trạng thiếu các dịch vụ thu
gom chất thải sinh hoạt.
Cũng giống như nhiều nước khác trong khu vực Nam và Đông Nam
Á, tiêu huỷ chất thải ở các bãi rác lộ thiên hoặc các bãi rác có kiểm
soát là những hình thức xử lý chủ yếu ở Việt Nam. Theo Quyết định
số 64/2003/QĐ-TTg, ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ, đến
năm 2007, trong số 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
trên cả nước có 49 bãi rác lộ thiên hoặc các khu chôn lấp vận hành
không hợp vệ sinh có nguy cơ gây rủi ro cho môi trường và sức khoẻ
người dân cao phải được tiến hành xử lý triệt để, tuy nhiên, cần tìm
nguồn kinh phí cho các hoạt động xử lý này. Tuy đã có nhiều nỗ lực
11
nhằm nâng cao chất lượng quản lý chất thải sinh hoạt nhưng các thông
tin về việc xử lý chất thải nguy hại, đặc biệt là chất thải nguy hại từ
công nghiệp còn có rất ít, do đó cần phải quản lý tốt hơn.
Hiện nay, Chính phủ đang rất ưu tiên cho việc xây dựng các hệ
thống xử lý và tiêu huỷ chất thải, bao gồm cả các bãi chôn lấp. Tuy
nhiên, do thiếu nguồn tài chính nên hầu hết các bãi chôn lấp hợp vệ
sinh đều được xây dựng bằng nguồn vốn ODA. Tự tiêu huỷ là hình
thức khá phổ biến ở các vùng không có dịch vụ thu gom và tiêu huỷ
chất thải. Các hộ gia đình không được sử dụng các dịch vụ thu gom và
tiêu huỷ chất thải buộc phải áp dụng các biện pháp tiêu huỷ của riêng
gia đình mình, thường là đem đổ bỏ ở các sông, hồ gần nhà họ, hoặc
là vứt bừa bãi ở một nơi nào đó gần nhà.
Một số phương pháp tự tiêu huỷ khác là đốt hoặc chôn lấp. Tất cả
các phương pháp này đều có thể huỷ hoại môi trường một cách