TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ề ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI doc - Pdf 20

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ề ĐỘC LẬP DÂN TỘC
GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, KẾT HỢP
SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI

I. Quá trình hình thành tư tưởng yêu nước, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
của Hồ Chí Minh.
1. Vượt qua tư tưởng yêu nước, độc lập dân tộc theo lập trường phong kiến,
tư sản.
- Ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã nhận thấy sự bất cập của tư tưởng
yêu nước trong khuôn khổ ý thức hệ phong kiến: “trung quân, ái quốc”, chống Pháp
giúp vua (cần vương), để đi đến quan niệm mới: dân là dân nước, nước là nước dân.
- Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được nguyên nhân hất bại của chủ trương cứu nước dựa
vào sự giúp đỡ của Trung Quốc, Nhật Bản, những nước “cùng máu đỏ da vàng”, do Phan
bội Châu và các chí sĩ yêu nước trong “Phong trào Đông Du” tiến hành.
Đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã tiếp cận với tư tưởng dân chủ tư sản của Trung Quốc
trong Cách mạng Tân Hợi (năm 1911), tập trung ở chủ nghĩa Tam dân (dân tộc độc lập,
dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) của Tôn Trung Sơn. Người đã rất kính trọng Tôn
Dật Tiên, sau này người đã chắt lọc những nhân tố hợp lý, những quan điểm tiến bộ của
Tôn Trung Sơn. Nhưng qua việc quyết định ra đi tìm đường cứu nước bằng cách đến
nước Pháp, đến phương Tây, cái nôi của chủ nghĩa tư bản, chứng tỏ Người chưa tin vào
tư tưởng yêu nước và con đường cứu nước đó.
2. Bước ngoặt lớn khi Hồ Chí Minh đọc sơ thảo lần thứ nhất những Luận
cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lê.
Từ đây Người nhận thức được sâu sắc vấn đề cách mạng giải phóng dân tộc trong thời
đại mới được mở ra sau thắng lợi Cách mạng Tháng Mười: thời đại quá độ từ chủ nghĩa
tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Do đó, cách mạng giải phóng dân tộc phải đặt trong quỹ đạo
của cách mạng vô sản. Người đã chỉ ra: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải tiến
hành cách mạng vô sản.
Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường duy nhất đúng đắn để cứu nước, cứu dân. Đó là con
đường cách mạng vô sản, giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc
gắn với chủ nghĩ xã hội, giai cấp vô sản phải nắm lấy ngọn cờ giải phóng dân tộc, gắn

triển tự do của mỗi người là điều kiện tự do cho tất cả mọi người”. Khi đến nước Nga,
Người đã thấy “Chính sách kinh tế mới” của Lênin và những thành tựu bước đầu của
nhân dân Xô Viết trên con đường xây dựng một chế độ xã hội mới.
Đó là những cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần hình thành nên tư tưởng Hồ Chí
Minh về chủ nghĩa xã hội Việt Nam.
- Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ lập trường yêu nước và khát vọng giải
phóng dân tộc. Người đã tìm thấy trong học thuyết khoa học và cách mạng của Mác con
đường chân chính để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng loài người.
Người đã viết: “ chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được
các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế gíơi”.
- Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ phương diện đạo đức. Theo Hồ Chí
Minh “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân
đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa”. Từ đó,
Người tin tưởng cổ vũ “Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để
góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài
người”(
- Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ truyền thống lịch sử, văn hóa và con
người Việt Nam.
Văn hóa Việt Nam lấy nhân nghĩa làm gốc, có truyền thống trọng dân, khoan
dung, hòa mục để hòa đồng. Văn hóa Việt Nam là văn hóa trọng trí thức, hiến tài.
Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội mang trong bản thân nó bản chất nhân
văn và văn hóa; chủ nghĩa xã hội là giai đoạn phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản về mặt
văn hóa và giải phóng con người.
b. Tư tưởng Hồ Chí Minh về những đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội.
- Chủ nghĩa xã hội là một chế độ do nhân dân làm chủ, Nhà nước phải phát huy
quyền làm chủ của nhân dân để huy động được tính tích cực và sáng tạo của nhân dân
vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện
đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu, nhằm không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động.

Về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Trước hết, Hồ Chí Minh đã lưu ý chúng ta cần nhận thức rõ tính quy luật chung
và đặc điểm lịch sử cụ thể của mỗi nước khi bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Tùy
hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau Có nước thì đi thẳng
lên con đường chủ nghĩa xã hội, có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến
lên chủ nghĩa xã hội”. Hồ Chí Minh đã chỉ ra hai phương thức quá độ chủ yếu: phương
thức quá độ trực tiếp (từ chủ nghĩa tư bản phát triển lên chủ nghĩa xã hội) và phương thức
quá độ gián tiếp (từ nghèo nàn, lạc hậu, tiền tư bản chủ nghĩa, qua dân chủ nhân dân đi
lên chủ nghĩa xã hội).
- Hồ Chí Minh đã chỉ ra những đặc điểm và mâu thuẫn của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, nhưng bao trùm, “to nhất” là đặc điểm “từ một nước nông
nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đạon phát triển
tư bản chủ nghĩa”.
- Về độ dài và thời kỳ quá độ, Người nói “Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc
đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài”.
- Về nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ, Người chỉ rõ: “ phải xây dựng nền
tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội , có công nghiệp và nông nghiệp hiện
đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa,
chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm
vụ chủ chốt và lâu dài”.
- Về những nhân tố bảo đảm thực hiện thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Hồ
Chí Minh chỉ rõ phải:
+ Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng.
+ Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước.
+ Phát huy tính tích cực, chủ động của các tổ chức chính trị - xã hội.
+ Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức và tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách
mạng xã hội chủ nghĩa.
- Về bước đi của thời kỳ quá độ, Người đã chỉ rõ: “Ta xây dựng chủ nghĩa xã hội
từ hai bàn tay trắng đi lên thì khó khăn còn nhiều và lâu dài”. “phải làm dần dần”,
“không thể một sớm, một chiều”, “ai nói dễ là chủ quan và sẽ thất bại”. Tư tưởng chủ

- Điểm xuất phát để ra đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh là nhận thức rõ
và có niềm tin mạnh liệt vào sức mạnh của dân tộc. Đó là sức mạnh của chủ nghĩa yêu
nước; tinh thần đoàn kết; ý chí độc lập, tự lực, tư cường, truyền thống đấu tranh anh
dũng, bất khuất cho độc lập, tự do.
+ Hồ Chí Minh là người đã nói công khai về chủ nghĩa dân tộc. Người viết “Chủ
nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế
năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn
luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó
đã thúc giục thanh niên bãi khóa làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật bản và
làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1971”.
+ Chủ nghĩa dân tộc của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc
chân chính của nhân dân ta, đồng thời cũng là của nhân dân các nước thuộc địa đấu tranh
với chủ nghĩa thực dân giảnh độc lập, tự do cho dân tộc.
- Nhận thức của Hồ Chí Minh về sức mạnh của thời đại được hình thành từng
bước, thông qua hoạt động thực tiễn và được tổng kết thành lý luận.
+ Ra đi tìm đường cứu nước với thân phận người lao động, Hồ Chí Minh đã phát
hiện ra mối tương đồng giữa các dân tộc bị áp bức: “Dù màu da có khác nhau, trên đời
này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”. Vì vậy từ rất
sớm, người đã kêu gọi: “Vì nền hòa bình thế giới, vì tự do và ấm no, những người bị bóc
lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống bọn áp bức”.
+ Kảo sát chủ nghĩa đế quốc ngay tại sào huyệt của nó, Hồ Chí Minh đã phát hiện
và chỉ ra rằng: “cả công nhân ở chính quốc lẫn binh lính ở thuộc địa, họ đều là anh em
cùng một giai cấp và khi tới lúc phải chiến đấu, thì cả hai bên đều phải cùng đánh bọn
chủ chung của mình ”
+ Sau khi tiếp cận với Luận cương của V.I. Lênin, Hồ Chí Minh tìm thấy ở đó
“một ánh sáng kỳ diệu nâng cao về chất tất cả những hiểu biết và tình cảm cách mạng
mà Người hằng nung nấu”. Đó là bước chuyển lịch sử, từ người yêu nước thành người
cộng sản, nâng cao nhận thức của Người về sức mạnh của thời đại: đó là sức mạnh của
giai cấp vô sản, cách mạng vô sản, sức mạnh kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính
với chủ nghĩa quốc tế vô sản, sức mạnh đoàn kết quốc tế.

quốc phản động. Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế.
- Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn luôn giáo dục nhân dân ta phân biệt rõ sự khác nhau giữa bọn thực dân, đế quốc với
nhân dân lao động, yêu công lý và hòa bình ở các nước đế quốc.
- Kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Người vẫn yêu mến và đề
cao văn hóa Pháp, ca ngợi truyền thống đấu tranh cho độc lập tự do của nhân dân Mỹ.
- Sau khi giành được độc lập, tiến lên chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí Minh, nội
dung mới của kết hợp lòng yêu nước với tinh thần quốc tế là phải phát triển chủ nghĩa
yêu nước truyền thống thành chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa, kết hợp lòng yêu
nước với yêu chủ nghĩa xã hội.
- Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò đoàn kết quốc tế, đoàn kết giữa các nước xã
hội chủ nghĩa. Người chăm lo bảo vệ sự đoàn kết thống nhất giữa các nước xã hội chủ
nghĩa, giữa các đảng cộng sản anh em. Khi trong phong trào có sự chia rẽ, Hồ Chí Minh
đã hoạt động không mệt mỏi để khôi phục sự đoàn kết quốc tế trên cơ sở những nguyên
tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản.
c. Giữ vững độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đỡ của các
nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời không quên nghĩa vụ
quốc tế cao cả của mình.
- Trong mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, Hồ Chí Minh
coi nguồn lực bên trong giữ vai trò quyết định, nguồn lực bên ngoài là quan trọng, nó chỉ
phát huy sức mạnh thông qua nguồn lực bên trong. Người nêu cao khẩu hiệu “tự lực
cánh sinh, dựa vào sức mạnh là chính”; “muốn người ta giúp cho thì trước hết mình
phải tự giúp lấy mình”; “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc
khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.
- Muốn tranh thủ sức mạnh của thời đại phải có đường lối đúng đắn, phát huy độc
lập tự chủ, kết hợp chặt chẽ mục tiêu đấu tranh cho độc lập, thống nhất của dân tộc mình
với mục tiêu của thời đại: hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
- Hồ Chí Minh đã thực hiện nhất quán đường lối độc lập tự chủ, vì vậy mà đã
tranh thủ được sự giúp đỡ của cả Liên Xô và Trung Quốc, khi hai nước có bất đồng sâu
sắc, góp phần vào sự hàn gắn sự rạn nứt trong phong trào cộng sản quốc tế.

với sức mạnh thời đại, Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam
mà còn là chiến sĩ lỗi lạc trong phong trào cộng sản quốc tế, lãnh tụ của phong trào giải
phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status