Một số kỹ thuật tạo hình da và phần mềm vùng bàn tay - Pdf 20

Một số kỹ thuật tạo hình da
và phần mềm vùng bàn tay Trong chấn thương hoặc vết thương ở vùng bàn tay, tổn thương mất da và phần
mềm ở vùng bàn tay hoặc ngón tay là một hình thái tổn thương hay gặp. Do lượng
dự trữ da không nhiều và độ đàn hồi của da vùng bàn tay và ngón tay hạn chế nên
việc tạo hình che phủ các khuyết hổng da và phần mềm vùng bàn tay và ngón tay
sau cắt lọc vết thương vẫn luôn luôn là một thách thức đối với các phẫu thuật viên.
Trong bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến một số các nguyên tắc và kỹ thuật tạo
hình cơ bản sử dụng trong xử trí cấp cứu các vết thương mất da và phần mềm ở
vùng bàn tay và ngón tay.
1- Những nguyên tắc chung:
- Việc cắt lọc da và phần mềm ở vùng bàn tay cần phải hết sức chính xác và đúng
mức, tránh cắt lọc quá rộng rãi cả vào tổ chức da và phần mềm đang lành lặn.
- Nắm được những nguyên tắc chung về cách sử dụng các đường rạch da cũng như
cách thức đóng vết thương, băng bó và bất động sau mổ đối với các vết thương ở
vùng bàn tay và ngón tay.
- Làm chủ được những kỹ thuật tạo hình cơ bản về các vạt da kinh điển và các vạt
da có cuống mạch nuôi dạng trục dựa trên những kiến thức và hiểu biết đầy đủ về
giải phẫu và vi giải phẫu hệ mạch máu vùng bàn tay.
- Kỹ thuật phẫu thuật cần phải hết sức nhẹ nhàng và khéo léo, tránh gây ra những
sang chấn không cần thiết và ảnh hưởng không tốt đến nuôi dưỡng của vạt da tạo
hình và các cấu trúc đang còn nguyên lành.
2. Mất da và phần mềm ở đầu mút ngón tay:
Đối với tổn thương mất da đầu mút ngón tay, cần cố gắng tránh việc thu ngắn
chiều dài ngón tay chỉ để nhằm mục đích đóng kín được vết thương. Ngoài ra, việc
bảo vệ được cảm giác ở đầu mút ngón tay và tránh được nguy cơ tạo thành u thần
kinh gây đau ở đầu mút ngón tay cũng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong
việc bảo vệ chức năng lao động của bàn tay.
Trong loại hình tổn thương mất da ở đầu mút ngón tay, việc cân nhắc vai trò của

Tranquili- Leali để thay thế cho kỹ thuật này.
- Kỹ thuật tạo hình V-Y từ phía gan tay (Phương pháp của Tranquili-Leali): Dịch
chuyển vạt tại chỗ từ phía gan tay để che phủ khuyết da ở đầu mút ngón tay theo
kiểu V-Y.
- Vạt da chéo ngón tay (vạt da hình cờ): Thường được sử dụng để che phủ khuyết
da đầu mút ngón tay của ngón cái và ngón trỏ. Kết quả thuận lợi chỉ có thể đạt
được nếu vạt da được nuôi dưỡng tốt và cuống mạch không căng.
- Vạt da có cuống nuôi từ vùng gan tay hoặc từ ô mô cái: Chỉ định tương tự như
vạt da hình cờ tuy nhiên sử dụng vạt này có nguy cơ để lại nhiều biến chứng
không thuận lợi sau mổ như: cứng các khớp ngón tay, sẹo lớn ở vùng bàn tay
Chính vì vậy phương pháp này thường được chỉ định ở trẻ em và ít khi được sử
dụng cho người lớn tuổi.
- Vạt da dồn đẩy từ phía gan tay của Moberg: Kết quả sau mổ thuận lợi, tuy nhiên
nhược điểm của vạt này là thường gây co gấp ngón sau mổ.
- Vạt da hình đảo có cuống mạch thần kinh chi phối (kỹ thuật của Littler): Thường
được chỉ định cho ngón cái, tuy nhiên cũng có thể dùng cho các ngón dài. Nhược
điểm của vạt này là có nguy cơ hoại tử đỉnh vạt. Ngoài ra, độ vươn xa của vạt hạn
chế và hay gây co gấp khớp liên đốt 2- 3 của ngón tay sau tạo hình.
- Vạt chéo ngón tay hình cờ có cảm giác (kỹ thuật của Gaul): Sử dụng dạng vạt
hình cờ được chi phối cảm giác bởi nhánh cảm giác mu tay của dây thần kinh
quay. Kỹ thuật thực hiện tương đối khó khăn và chỉ nên tiến hành tại những cơ sở
chuyên khoa sâu về phẫu thuật bàn tay.
- Vạt chéo ngón tay có cảm giác kiểu Bralliar/Horner: vạt được cảm giác là do
nhánh cảm giác mu tay của dây thần kinh quay chi phối (chi phối cảm giác tương
tự như trong kỹ thuật của Gaul).
- Vạt da cân hình đảo có cuống mạch máu nuôi dưỡng và thần kinh cảm giác chi
phối (kỹ thuật của Foucher/Braun): Vạt được nâng lên dưới dạng hình đảo dựa
trên cuống mạch là động mạch mu bàn tay, tĩnh mạch dẫn lưu dưới da và nhánh
cảm giác nông của thần kinh quay.
- Dùng vạt da vùng bẹn hoặc vùng ngực có cuống: Được chỉ định khi mất da và

Mảnh da ghép sau khi được đặt lên vùng khuyết da sẽ được cố định bằng các mũi
chỉ Line rời có buộc gối gạc để áp mảnh da xuống nền nhận. Nơi cho da ghép có
thể đóng kín thì đầu.
- Che phủ bằng vạt da có cuống mạch nuôi: Các vạt da này thường dầy, có đệm
mỡ và cân ở phía dưới và được tưới máu nuôi dưỡng qua cuống nên có chất lượng
che phủ và tạo hình vết thương tốt nhất. Có rất nhiều vạt có cuống mạch nuôi có
thể lựa chọn để làm chất liệu tạo hình bao gồm các vạt ngẫu nhiên và các vạt có
trục mạch. Xuất phát từ xu hướng hiện nay trong tạo hình là bên cạnh mục đích
che phủ vết thương thì các chất liệu tạo hình cần phải có tính tương đồng cao với
nền nhận và thẩm mỹ đẹp, đồng thời sẹo ở nơi lấy vạt dễ che dấu nên các vạt có
cuống mạch nuôi ở vùng bẹn và vùng bụng được ưa thích sử dụng. Ưu điểm của
vạt lấy ở vùng bẹn bụng là vạt tương đối mỏng, độ đàn hồi và di động cao, có thể
lấy được những vạt có kích thước rất lớn đồng thời có thể đóng kín được kỳ đầu
nơi cho vạt.
VII - CẮT CỤT BÀN TAY VÀ NGÓN TAY:
1 - Chỉ định cắt cụt:
Đối với bàn tay và ngón tay được đặt ra khi các cấu trúc chính của bàn tay và ngón
tay như: da và phần mềm, gân, xương, mạch máu và thần kinh bị tổn thương nặng
nề và không còn khả năng bảo tồn hoặc đã bị dập nát và hoại tử hoàn toàn cần
được tháo bỏ cấp cứu để cứu sống tính mạng bệnh nhân.
1 - Nguyên tắc chung khi cắt cụt:
- Cắt cụt ngang qua thân xương chứ không tháo khớp vì tháo khớp làm cho đầu
mỏm cụt bị phình to ra ảnh hưởng không thuận lợi đến chức năng và thẩm mỹ của
mỏm cụt. Ngoài ra, phần sụn ở đầu xương khi tháo khớp có thể tiết dịch ảnh
hưởng đến quá trình liền sẹo hoặc gây viêm rò kéo dài ở đầu mỏm cụt.
- Cố gắng bảo tồn tối đa tất cả các cấu trúc còn sống, đặc biệt là da và phần mềm
vì những cấu trúc này mang tính chuyên biệt rất cao về chức năng và không thể
thay thế được.
- Không được khâu da căng ở đầu mỏm cụt.
- Cần cân nhắc kỹ vai trò của và ý nghĩa của phần chi thể dự định cắt cụt

đốt 3 để bảo vệ điểm bám của gân gấp sâu và sử dụng các kỹ thuật tạo hình để che
phủ phần mềm ở đầu mỏm cụt.
+ Mỏm cụt ngang thân đốt 2: Có thể thu ngắn thân xương đốt 2 khoảng 1- 2cm để
đóng mỏm cụt nhưng cần giữ lại được nền đốt 2 nơi có điểm bám của gân gấp
nông ngón tay.
+ Mỏm cụt ngang thân đốt 1:
- Đối với ngón trỏ: ở vị trí này, mỏm cụt thường ngắn và không có chức năng do
đó trở nên vướng đối với hoạt động của bàn tay. Chính vì vậy, khi ngón không còn
có khả năng tạo hình được nữa thì cân nhắc việc cắt cao đến ngang nền xương bàn
để làm rộng kẽ liên bàn ngón (có thể thực hiện trong kỳ đầu hoặc kỳ hai). Tuy
nhiên trước khi đặt chỉ định can thiệp phẫu thuật, phẫu thuật viên cũng cần lưu ý
đến nghề nghiệp và tay thuận của bệnh nhân để có sự can thiệp hợp lý. Sau khi cắt
cụt ngón trỏ thì chức năng gọng kìm của ngón trỏ sẽ được chuyển sang ngón giữa.
- Đối với ngón giữa: Nếu cắt cụt ngang qua đốt 1 sẽ xuất hiện hình ảnh của một
bàn tay không ưa nhìn với một mỏm cụt ngang qua đốt 1 không có chức năng.
Ngoài ra, khi cắt cụt ngang qua đốt 1 thường có hiện tượng các vật nhỏ bị lọt qua
khe đầu mỏm cụt và rơi xuống đất. Thêm vào đó, cùng với thời gian sẽ xuất hiện
hiện tượng nghiêng và yếu đi của các ngón lân cận do sự co kéo lệch trục của các
gân chi phối ngón. Chính vì vậy mà đối với loại hình tổn thương này, cần thiết cắt
cao xương lên đến nền xương bàn và chuyển ngón trỏ sang ngón giữa (phẫu thuật
trỏ hoá ngón giữa) để khắc phục các hiện tượng trên.
- Đối với ngón nhẫn: Nếu cắt cụt qua đốt 1 thì cũng gây ra những vấn đề giống
như ngón giữa, do đó cần tiến hành phẫu thuật chuyển ngón út sang ngón nhẫn
(phẫu thuật út hoá ngón giữa).
- Đối với ngón út: Việc cắt cụt ngang đốt 1 hay cắt cao lên trên xương bàn không
ảnh hưởng gì nhiều đến chức năng của bàn tay mà chủ yếu là vấn đề thẩm mỹ.
Trên cơ sở này, vị trí cắt cụt cần phải dựa vào nghề nghiệp và nguyện vọng của
bệnh nhân.
VIII - NHỮNG HÌNH THÁI TỔN THƯƠNG ĐẶC BIỆT Ở VÙNG BÀN
TAY VÀ NGÓN TAY:

trong cách chọn lựa vạt để che phủ vết thương. Về nguyên tắc, có thể cắt bỏ một
vài ngón bị tổn thương quá nặng nề và không có chức năng quan trọng, nhưng
phải cố gắng giữ được ít nhất là ngón I và ngón II để tạo gọng kìm cầm nắm sau
này cho bàn tay. Khuyết da bàn tay và các ngón tay cần được che phủ bằng vạt da
bẹn bụng kết hợp có cuống mạch nuôi. Việc thiết kế vạt da bẹn bụng có cuống để
che phủ mất da toàn bộ bàn tay cần hết sức chuẩn xác để làm sao vạt có thể che
phủ được toàn bộ cả mặt trước và mặt sau của bàn tay. Cuống nuôi vạt sẽ được cắt
bỏ sau 4- 6 tuần và việc tách rời các ngón sẽ được thực hiện khoảng 3 tháng sau
phẫu thuật cắt cuống nuôi của vạt.
2 - Một số các hình thái vết thương đặc biệt khác như:
Đứt rời bàn tay hoặc ngón tay, bỏng ở vùng bàn tay ngón tay… sẽ được trình bày
trong những chuyên đề riêng.
IX - SĂN SÓC SAU MỔ VẾT THƯƠNG BÀN TAY:
Săn sóc sau mổ vết thương bàn tay là một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong điều trị vết thương vùng bàn tay vì:
- Giúp cho vết thương liền sẹo kỳ đầu, tránh xơ hoá và cứng khớp.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc phục hồi và bảo tồn tối đa hai chức năng cơ bản
của bàn tay là cầm nắm và sờ mó.
1. Săn sóc và theo dõi bệnh nhân sau mổ
1.1-Quan sát tình trạng của bàn tay, ngón tay và tình trạng của băng, nẹp cố
định ngay sau mổ
+ Theo dõi hồi lưu mao mạch ở đầu ngón tay để đánh giá tình trạng nuôi dưỡng
sau mổ của ngón tay và bàn tay.
+ Theo dõi, kiểm tra băng vết mổ: vết mổ cần được băng ép vừa đủ qua bông hút
và bông mỡ với băng đàn hồi có tác dụng dự phòng phù nề sau mổ, đồng thời giúp
cho việc cầm máu và xoá bỏ các khoang trống dưới da.
- Nếu băng quá lỏng sẽ không có tác dụng băng ép và cố định.
- Nếu băng quá chặt sẽ làm hạn chế lưu thông mạch máu và gây ra ứ trệ hệ tuần
hoàn dẫn đến thiếu Oxi, tăng tính thấm thành mạch, gây phù nề và tăng nguy cơ
nhiễm khuẩn. Tình trạng này kéo dài sẽ có thể gây ra thiểu dưỡng và hoại tử ngón

rối loạn hoặc thắt nghẽn hệ tuần hoàn.
1.4 - Thay băng kiểm tra và rút dẫn lưu:
Thay băng sau mổ rất quan trọng vì:
- Giúp cho phẫu thuật viên đánh giá được tình trạng bàn tay, ngón tay và tình trạng
của vết thương sau phẫu thuật.
- Giúp cho việc phát hiện sớm và xử trí kịp thời các biến chứng như: Máu tụ dưới
da, nhiễm khuẩn vết mổ…
- Với những tổn thương cần tập vận động sớm thì thay băng càng quan trọng vì:
tập vận động sớm sẽ gây chảy máu trong vết mổ và gây ra phù nề hoặc hình thành
các ổ máu tụ sau mổ. Phù nề và máu tụ có thể gây ra nhiễm khuẩn hoặc hoại tử da
và phần mềm nếu không được dẫn lưu kịp thời.
- Dẫn lưu giúp cho việc đánh giá tình trạng chảy máu trong vết mổ. Thông thường,
dẫn lưu được rút ra sau 36- 48 giờ.
1.5 - Xử lý tình trạng nhiễm khuẩn vết thương sau mổ:
Nếu vết thương sau mổ bị nhiễm khuẩn thì cần mở rộng, lấy hết tổ chức hoại tử và
để ngỏ vết thương, thay băng hàng ngày bằng thuốc tím loãng kết hợp với dùng
thuốc kháng sinh theo kháng sinh đồ. Việc bất động và treo cao tay kết hợp với
dùng các thuốc chống phù nề kết hợp có tác dụng quan trọng để dự phòng, điều trị
và giải quyết ổ nhiễm khuẩn.
2. Tập luyện phục hồi chức năng sau mổ
2.1 - Tập vận động sớm sau mổ:
Tập vận động sớm bàn tay và ngón tay có tác dụng kích thích hệ tuần hoàn ở vùng
bàn tay và tăng cường dẫn lưu máu qua hệ tĩnh mạch, qua đó có tác dụng chống
phù nề và giúp cho quá trình liền sẹo vết thương được thuận lợi.
- Tập vận động chủ động và thụ động nhẹ nhàng được bắt đầu sớm từ ngày thứ 2
sau mổ.
- Những bài tập vận động trong 2 tuần đầu có ý nghĩa rất quan trọng trong việc
chống dính gân và hoá sẹo tại chỗ. Bỏ sót những bài tập này sẽ để lại những hậu
quả nặng nề và khó có thể khắc phục được bằng những bài tập vât lý trị liệu sau
này.

hoá sụn tiếp.
=> Ngâm bàn tay:
Để tập luyện, thường nên ngâm bàn tay vào nước muối ấm khoảng 400C. Ngâm
bàn tay có tác dụng làm giảm đau hoặc giúp bệnh nhân vượt qua ngưỡng đau để
tập luyện. Khi ngâm tay trong nước, có thể phối hợp với nặn cục sáp dẻo để kích
thíchvà làm tăng nhanh quá trình hồi phục chức năng.
=> Vật lý trị liệu và điện phân:
Là biện pháp mang lại nhiều kết quả tốt sau phẫu thuật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status