MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I/ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ 3
I/ KHÁI NIỆM MARKETING VÀ MARKETING DU LỊCH 4
1)Marketing là gì?
a)Các định nghĩa Marketing 4
b)Các thuật ngữ Marketing : 5
c)Các thuật ngữ Marketing du lịch 10
2)Định nghĩa Marketing du lịch. 13
II/ SỰ CẦN THIẾT CỦA MARKETING DU LỊCH 14
III/ MARKETING HỖN HỢP TRONG DU LỊCH. 14
1)Mô hình Marketing –mix cơ sở: 14
2)Các mô hình Marketing –mix mở rộng 16
a)Mô hinh 4P + 3C: 16
b)Mô hình 8P: 16
3)Mô hình 4P trong du lịch:
IV/ QUẢN TRỊ MARKETING 18
1)Phân tích các khả năng của thị trường. 18
2)Lựa chọn thị trường mục tiêu 19
3)Thiết kế hệ thống Marketing –mix 19
4) Thực hiện các biện pháp Marketing 20
V/ HỆ THỐNG NGHIÊN CỨU VÀ THÔNG TIN MARKETING 21
1)Hệ thống thông tin Marketing: 21
2)Hệ thống nghiên cứu Marketing 22
VI/ DỊCH VỤ TRỌN GÓI CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH. 23
1)Định nghĩa 23
a)Điều kiện tự nhiên. 47
b)Cơ sở hạ tầng. 48
c)Đặc điểm kinh tế xã hội. 48
2)Những nhân tố bên trong 49
III/ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY
NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY. 50
1)Tình hình sản xuất kinh doanh. 50
2)Tình hình thực hiện doanh thu của công ty 51
a)Doanh thu. 51
b)Cơ cấu doanh thu. 53
3)Tình hình lợi nhuận của công ty qua các năm gần đây 54
4)Tình hình lao động và tiền lương 56
5)Tình hình hiệu quả hoạt động kinh doanh. 56
6)Đánh giá tổng quan về công ty 58
IV/ THỰC TRẠNG MARKETING DU LỊCH CỦA CÔNG TY. 60
IV.1)Tổ chức bộ phận Marketing . 60
IV.2)Nghiên cứu hoạt động Marketing tại công ty 61
1)Thị trường khách du lịch và lựa chọn thị trường mục tiêu tại Công ty Cổ phần
Du lịch Thương Mại Nha Trang. 62
a)Thị trường khách du lịch trong nước: 62
b)Thị trường khách du lịch quốc tế: 63
c)Lựa chọn thị trường mục tiêu: 64
2)Tình hình giá cả và chiến lược giá cả. 66
3)Tình hình cung cấp sản phẩm, dịch vụ 68
a)Các sản phẩm du lịch của công ty hiện nay.
b)Công tác nâng cao chất lượng sản phẩm 69
góp phần thúc đẩy kinh tế- xã hội địa phương phát triển theo hướng tích cực.
Marketing không chỉ là một chức năng trong hoạt động kinh doanh, nó là một
triết lý dẫn dắt toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp trong việc phát hiện ra, đáp
ứng và làm thoả mãn cho nhu cầu của khách hàng. Đặc biệt trong kinh doanh du
lịch thì hoạt động Marketing lại trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, bởi ngành công
nghiệp không khói này có đặc tính đặc biệt về sản phẩm là sản phẩm du lịch khác
với các sản phẩm hàng hoá khác, khác hàng thường ở xa sản phẩm và khách hàng
phải mua sản phẩm trước khi nhìn thấy chúng. Hiểu được tầm quan trọng đó của
hoạt động Marketing trong lĩnh vực kinh doanh du lịch, trong phạm vi bài viết
này em xin trình bày đề tài: “ Một số biện pháp góp phần cải thiện hoạt động
Marketing du lịch tại Công ty Cổ phần Du lịch Thương mại Nha Trang”.
Với mục đích chính của đề tài này nhằm:
− Củng cố, bổ sung và hệ thống hoá lý luận hoạt động Marketing du lịch tại
công ty và mở rộng kiến thức về Marketing dựa vào việc đề ra các biện pháp giải
quyết các vấn đề thực tế tại công ty.
− Đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty, thực trạng hoạt
động Marketing du lịch từ đó đưa ra các thành tựu cũng như những tồn tại mà
công ty đang gặp phải.
− Dựa vào những tìm hiểu, phân tích tình hình thực tế của hoạt động
Marketing du lịch của công ty, từ đó đề xuất ra các giải pháp nhằm khác phục
những tồn tại và pháp huy những thế manj của công ty trong hoạt động này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- 2 -
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty
trong mối quan hệ với môi trường: Môi trường kinh tế, môi trường văn hoá,
CHƯƠNG I/
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ MARKETING V À
MARKETING TRONG KINH DOANH DU L ỊCH - 4 -
CHƯƠNG I/
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
I/ KHÁI NIỆM MARKETING VÀ MARKETING DU LỊCH
1) Marketing là gì?
a) Các định nghĩa Marketing
Rất nhiều người đã có quan niệm nhầm lẫn khi đồng nhất Marketing với việc
tiêu thụ và kích thích tiêu thụ. điều này là khá phổ biến, bởi vì chúng ta thường
xuyên bị quấy rầy những mục quảng cáo trên tivi, trên báo chí, những tờ quảng
cáo gửi trực tiếp qua bưu điện, những chuyến viếng thăm của đội ngũ chào
hàng…
Luôn có người nào đó muốn bán một thứ nào đó. Cho nên không ít người tỏ ra
ngạc nhiên khi biết rằng tiêu thụ và kích thích tiêu thụ không phải là yếu tố quan
trọng nhất của Marketing. Mà tiêu thụ chỉ là một chức năng của nó, và nhiều khi
không phải là chức năng cốt yếu nhất của Marketing. Nếu nghiên cứu kỹ
- Marketing là mọi việc!
- Theo Philip Kotler: Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm
thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi
b) Các thuật ngữ Marketing :
Nhu cầu (needs)
“ Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được”.
Con người có nhiều nhu cầu, hết sức đa dạng và phức tạp. Nhu cầu đó là vô hạn
và thay đổi theo thời gian, theo đà phát triển của xã hội. Xã hội phát triển càng
cao thì nhu cầu của con người cũng càng cao. Theo Maslow nhu cầu của con
người được biểu diễn như sau:
- Nhu cầu sinh lý: ăn, uống, mặc…
- Nhu cầu an toàn: an ninh, trật tư, không ai quấy rầy…
- Nhu cầu xã hội: tình cảm, giao lưu bạn bè…
- Nhu cầu được tôn trọng: địa vị xã hội, quyền lực
- Nhu cầu tự khẳng định mình: phát huy tài năng của mình, tự giác hoạt đọng
và cạnh tranh… Nhu cầu tự khẳng định mình
Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu xã hội
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu sinh lý
Hình 1: Tháp nhu cầu Maslow. Maslow cho rằng nhu cầu của con người được sắp xếp thứ tự theo thứ bậc ý
nghĩa quan trọng từ cấp thiết nhất đến ít cấp thiết nhất. Và theo ông, trong thời
cùng một tô phở để thoả mãn nhu cầu đói, tại sao có người thích phở tái, người
lại muốn tái gầu, tái sụn, tái béo hoặc tái nạm kèm theo rau kia, ớt này ớt nọ…?
Một ví dụ thứ hai để làm rõ vấn đề là để thoả mãn nhu cầu giải trí, có người thích
ca nhạc, có người thích đi du lịch, lại có người thích xem đá bóng. Trong ca nhạc
có người thích Quan họ, có người thích ngâm thơ, người thích cải lương… Qua
hai ví dụ trên ta có thể thấy mong muốn của con người mang dấu ấn, chịu ảnh
- 7 -
hưởng sâu sắc của phong tục, tập quán và thể hiện qua nhân cách, nếp sống văn
hoá.
Sức cầu, lượng cầu(demands)
Mong muốn của con người thì vô hạn, nguồn lực để thoả mãn nhu cầu và mong
muốn của con người là co hạn. Cho nên người ta phải chọn một vài sản phẩm nào
đó tốt nhất, vừa với khả năng của mình để thoả mãn nhu cầu và mong muốn. Vậy
sức cầu được định nghĩa như sau:
“Sức cầu hay lượng cầu là mong muốn được kèm theo điều kiện có khả năng
thanh toán”
Khi mong muốn được bảo đảm bằng sức mua hay khả năng thanh toán thì trở
thành sức cầu. Giữa nhu cầu và sức cầu cũng có sự khác biệt nhau:
Bảng1: sự khác nhau giữa nhu cầu và lượng cầu.
Nhu cầu Lượng cầu
- Trạng thái.
- Biểu hiện thành mong muốn.
- Định lượng.
- Biểu hiện thành sức mua, khả
năng thanh toán.
Trao đổi là khái niệm cơ bản của Marketing. Muốn trao đổi cần hội đủ 5 điều
kiện sau đây:
1. Tối thiểu phải có hai bên.
2. Mỗi bên phải có cái gì đó có giá trị trao đổi.
3. Mỗi bên đều có khả năng giao dịch.
4. Mỗi bên tự do chấp nhận hay khước từ.
5. Mỗi bên đều phải nhận thấy nên hay muốn giao dịch với bên kia.
Giao Dịch(Transaction)
“Giao dịch là một cuộc trao đổi mang tính chất thương mại những vật giá có giá
trị giữa hai bên”
Giao dịch là đơn vị đo lường cơ bản trong Marketing. Giao dịch là biểu hiện cụ
thể của trao đổi trong lĩnh vực thương mại bao gồm các điều kiện: thời gian, nơi
chốn, và thanh toán được thoả thuận giữa hai bên.
Thị trường(Markets)
“Thị trường là nơi có một nhóm khách hàng hay những khách hàng đang có sức
mua và có nhu cầu chưa được thoả mãn hay đáp ứng”
“Thị trường là nơi tập trung những người mua hàng hiện có và sẽ có” (Philip
Kotler).
Để tìm hiểu về bản chất của thị trường, thử hình dung một xã hội trong đó có
bốn người: một ngư dân, một thợ săn, một thợ gốm và một nông dân. Trong xã
hội kinh tế thô sơ như vậy, để thoả mãn nhu cầu của mình có ba hình thức trao
đổi khác nhau: tự cung tự cấp, trao đổi phân tán và trao đổi tập trung.
- 9 -
Thợ gốm Nông dân
Ngư dân Thợ săn
Thợ gốm Nông dân
Ngư dân Thợ săn Thị trtường
Thợ gốm Nông dân
- 10 -
Nhu cầu
(need)
Ước muốn
(Wants)
Lượng cầu
(Demands)
Sản phẩm
(Products)
Trao đổi
(Exxhange)
Khái niệm Marketing
(Marketing concept)
Marketing
Thị trường
(Market)
Giao dịch
(Transaction)
- 11 -
Đơn vị vung ứng du lịch là cơ sở kinh doanh, cung cấp sản phẩm du lịch cho
khách du lịch. Ví dụ: khách sạn, công ty lữ hành, điểm du lịch…
Khách du lịch (Visitors)
Khách du lịch con gọi là khách viếng. Theo tổ chức du lịch thế giới năm 1968
đã chấp nhận khái niệm khách viếng như sau: “Một khách viếng là một người từ
một quốc gia này đi tới một quốc gia khác với một lý do nào đó, có thể là kinh
hay mục đích hưởng thụ khác. Hoặc đi du lịch vì nghề nghiệp như: Hội họp, công
tác kinh doanh. Ngoài hai mục đích hưởng thụ và nghề nghiệp những người đi du
lịch còn có những mục đích khác như: Nghiên cứu, chữa bệnh, chuyển giao và
những lý do khác.
Thực tế, một người đi du lịch không đơn thuần một mục đích, mà kết hợp nhiều
mục đích, trong đó có một mục đích chính.
Những người không ghi vào hệ thống du lịch.
Không phải tất cả những người từ nước này qua nước khác, hay từ vùng này
đến vùng khác đều là khách du lịch. Dựa vào mục đích của Tổ chức Du lịch thế
giới, người ta không ghi vào thống kê du lịch những người sau đây: Những người
định cư thường xuyên, những người định cư tạm thời, những nhà ngoại giao, đại
diện lãnh sứ quán, quân nhân, những người tỵ nạn, khách chuyển giao, những
người du thủ du thực và những công dân biên giới.
Khách du lịch quốc tế:
Là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đến Việt Nam
không quá 12 tháng với mục đích tham quan, nghỉ dưỡng, hành hương, thăm
người thân, bạn bè, tìm hiểu cơ hội đầu tư, kinh doanh…
Khách du lịch trong nước:
Là công dân Việt Nam rời khỏi nơi ở của minh không quá 12 tháng, với mục
đích tham quan, nghỉ dưỡng, hành hương, thăm người thân, bạn bè, tìm hiểu cơ
hội đầu tư, kinh doanh…trên lãnh thổ Việt Nam.
Chuyến du lịch:
Là chuyến đi được chuẩn bị trước, bao gồm tham quan một hay nhiều điểm du
lịch và quay trở về nơi khởi hành. Chuyến du lịch thông thường có các dịch vụ về
vận chuyển, lưu trú, ăn uống, tham quan và các dịch vụ khác.
Chương trình du lịch.
Là lịch trình của chuyến du lịch, bao gồm lịch trình từng buổi, từng ngày, hạng
khác sạn lưu trú, loại phương tiện vận chuyển, giá bán chương trình, các dịch vụ
miễn phí…
cấp thông tin du lịch và tư vấn du lịch để hưởng hoa hồng.
2) Định nghĩa Marketing du lịch.
-
“Marketing du lịch là một triết lý quản lý mà nhờ nghiên cứu, dự đoán,
tuyển chọn dựa trên nhu cầu của du khách nó có thể đem sản phẩm du lịch
ra thị trường sao cho với mục đích thu nhiều lợi cho tổ chức du lịch đó”.
(
World Tourism Organization).
-
“Marketing du lịch là một loạt phương pháp và kỹ thuật được hỗ trợ bằng
một tinh thần đặc biệt và có phương pháp nhằm thoả mãn các nhu cầu
không nói ra hoặc nói ra của khách hàng có thể là mục đích tiêu khiển hoặc
- 14 -
mục đích khác bao gồm công việc gia đình, công tác và họp hành.”
(Robert Lanquar và Robert Hollier).
Chúng ta có thể định nghĩa Marketing du lịch như sau:
- “Marketing du lịch là tiến trình nghiên cứu, phân tích những nhu cầu của
khách hàng, những sản phẩm, dịch vụ du lịch và các phương thức cung ứng,
hỗ trợ để khách hàng đến với sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu của họ,
đồng thời đặt được các mục tiêu của tổ chức”.
+) Là một tiến trình nghiên cứu, phân tích: những nhu cầu của khách hàng,
những sản phẩm, dịch vụ du lịch, những phương thức cung ứng sản phẩm và hỗ
trợ của tổ chức tới khách hàng.
+) Để đưa khách hàng đến với sản phẩn nhằm: thoả mãn nhu cầu của khách
rod
ucts
)
Phân phối
(Place)
Thị trường
(Market)
Giá cả
(
P
rice)
Khuyến mãi
(Promotion)
Marketing –mix bao gồm tất cả những gì mà công ty có thể vận dụng để tác
động lên nhu cầu hàng hoá của chính mình. Có thể hợp nhất rất nhiều khả năng
thành bốn nhóm cơ bản: hàng hoá, giá cả, phân phối và khuyến mãi
tiêu mua hàng hoá đó.
Mọi quyết định về bộ phận của hỗn hợp Marketing –mix tuỳ thuộc rất nhiều
vào việc xác định vị trí hàng hoá cụ thể mà công ty cung ứng. Ví dụ khi công ty
sản xuất một mặt hàng cao cấp thì giá cả và phương pháp phân phối cung phải
cho thấy rằng đó là một mặt hàng cao cấp như: giá chào bán cao để thu hút tầng
lớp khách thượng lưu, lớp khách thích đi tiên phong; hàng hoá phải được phân
phối ở các đại lý lớn và có uy tín với khách hàng.
2) Các mô hình Marketing –mix mở rộng.
a) Mô hinh 4P + 3C:
+ Customers : Khách hàng
+ Company itself: Chính bản thân công ty.
+ Competitors: Đối thủ cạnh tranh.
+ Products: Sản phẩm
+ Price: Giá cả.
+ Place: Phân phối.
+ Promotion: Xúc tiến.
b) Mô hình 8P:
+ Proping: Nghiên cứu thị trường.
+ Partitioning: Phân khúc thị trường.
+ Prioritizing: Định vị mục tiêu ưu tiên.
+ Positioning the competitive options: Định vị mục tiêu cạnh tranh.
+ Products: Sản phẩm.
+ Price: Giá cả.
+ Place: Phân phối.
+ Promotion: Xúc tiến.
3) Mô hình 4P trong du lịch:
a) People: Con người.
Con người ở đây được hiểu theo nghĩa rộng: chính là khách hàng với các đặc
trưng riêng biệt về cá nhân và văn hoá dân tộc của họ, phải hiểu một cách sâu sắc
về đối tượng khách hàng mà công ty nhắm tới. Biết được nhu cầu sở thích của
Không chỉ có sự hợp tác giữa các nhà sản xuất và trong du lịch cũng cần sự hợp
tác giữa nhà cung ứng với khách hàng, chất lượng phục vụ sẽ tốt hơn nhiều nuế
khách hàng chịu hợp tác với nhà sản xuất, để có được sự hợp tác đó thì nhiệm vụ
của các nhà cung ứng du lịch là huấn luyện cho nhân viên của minh phải khơi lên
được tinh thần hợp tác của khách hàng khi họ đến với mình. Chỉ có như vậy thì
sản du lịch mới đáp ứng được nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất.
d) programming: chương trình kết hợp du lịch
Một chương trình du lịch được soạn thoả công phu, hấp dẫn thì sẽ thu hút và
giữ chân được du khách đến với công ty mình. Chương trình du lịch yêu cầu phải
- 18 -
là chương trình kết hợp một cách hợp lý. Kết hợp giữa nhu cầu vui chơi giải trí
với thời gian và địa điểm nghỉ ngơi của khách, kết hợp giữa các điểm tham quan
với nhu cầu mua sắm của khách… một chương trình du lịch tốt phải hiểu được
tâm lý của từng nhóm khách hàng, để từ đó có sự phục vụ tốt nhất, mang lại cho
du khách sự hài lòng và thoả mãn.
IV/ QUẢN TRỊ MARKETING.
Quản trị Marketing là một quá trình thực hiện các công việc Marketing theo các
bước định sẵn và xen kẽ lẫn nhau nhằm tổ chức và thực hiện tốt nhất công việc
Marketing của công ty một cách tốt nhất và đạt được mục tiêu của công ty. Quản
trị Marketing gồm: Phân tích khả năng thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu,
xây dựng chương trình Marketing –mix, thực hiện các biện pháp Marketing.
1) Phân tích các khả năng của thị trường.
Bất kỳ công ty nào cũng đều phải biết phát hiện những khả năng mới mở ra của
thị trường. Không một công ty nào có thể cứ mãi trông cậy vào những hàng hoá
mục tiêu và tiềm năng của công ty. Ngoài ra còn phải nghiên cứu từng khả năng
từng khía cạnh quy mô và tính chất của thị trường, quá trình này gồm bốn giai
đoạn: đo lường và dự báo mức cầu, phân khúc thị trường, lựa chọn những những
thị trường mục tiêu và xác định vị trí của mặt hàng trên thị trường.
3) Thiết kế hệ thông Marketing –mix.
Sau khi quyết định về việc định vị hàng hoá của mình, công ty sẵn sàng bắt tay
vào lập kế hoạch Marketing chi tiết. Marketing-mix là một trong những khái niện
cơ bản của Marketing hiện đại.
Marketing-mix là một tập hợp những yếu tố biến động kiểm soát được của
Marketing mà công ty sử dụng để cố gắng gây được phản ứng mong muốn từ
phái thị trường mục tiêu.
Marketing –mix bao gồm tất cả những gì mà công ty có thể vận dụng để tác
động lên nhu cầu hàng hoá của chính mình. Có thể hợp nhất rất nhiều khả năng
thành bốn nhóm cơ bản: hàng hoá, giá cả, phân phối và khuyến mãi
Mọi quyết định về bộ phận của hỗn hợp Marketing –mix tuỳ thuộc rất nhiều
vào việc xác định vị trí hàng hoá cụ thể mà công ty cung ứng. Ví dụ khi công ty
sản xuất một mặt hàng cao cấp thì giá cả và phương pháp phân phối cung phải
cho thấy rằng đó là một mặt hàng cao cấp như: giá chào bán cao để thu hút tầng
lớp khách thượng lưu, lớp khách thích đi tiên phong; hàng hoá phải được phân
phối ở các đại lý lớn và có uy tín với khách hàng.
4) Thực hiện các biện pháp Marketing.
Việc phân tích các khả năng thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, xây dựng
Marketing –mix, và thực hiện nó đòi hỏi phải có hệ thống Marketing phụ trợ. Cụ
- 20 -
thể công ty phải có những hệ thống thông tin Marketing, lập kế hoạch Marketing, - 21 -
V/ HỆ THỐNG NGHIÊN CỨU VÀ THÔNG TIN MARKETING.
Hầu như mỗi bước trong phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra hiệu quả
của các biện pháp Marketing người quả trị Marketing đều cần phải có thông tin.
Họ cần thông tin về khách hàng, về đối thủ cạnh tranh, về những người buôn bán
và những lực lượng khác tác động đến thị trường. Chỉ một khi nắm được các
thông tin đó thì kế hoạch đưa ra mới sát với thực tế, và trong quá trình tổ chức
thực hiện và kiểm tra mới có thể sự linh hoạt và có hiệu quả cao để đạt được mục
đích đề ra.
1) Hệ thống thông tin Marketing:
Trong thị trường cạnh tranh ngày nay, thì cạnh về giá cả dần chuyển sang cạnh
tranh không phải giá. Người bán ngày càng sử dụng nhiều hơn những công cụ
Marketing không phải giá. Chẳng hạn như nhãn hiệu hàng hoá, quảng cáo kích
thích tiêu thụ, và họ cần thông tin về sự phản ứng của thị trường đối với việc sử
dụng các công cụ đó.
Hệ thống thông tin Marketing là một hệ thống liên hệ qua lại giữa người, thiết
bị và các phương pháp, hoạt động thường xuyên để thu thập thông tin, phân loại,
phân tích, đánh giá và phổ biến thông tin chính xác, hiện đại và cấp thiết để
người điều hành sử dụng lĩnh vực Marketing vào mục đích cải tiến việc lập kế
hoạch, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các biện pháp Marketing.
Hệ thống Hệ thống
báo cáo nghiên cứu
nội bộ. Marketing
Hệ thống thu Hệ thống
thập thông tin phân tích
Marketing thông tin
bên ngoài Marketing
H ình 5: Hệ thống thông tin Marketing
- 22 -
Quan niện về hệ thống thông tin Marketing được trình bày ở hình 5. Trong hình
chữ nhật bên trái liệt kê những bộ phận cấu thành môi trường Marketing mà
người quản trị Marketing phải thường xuyên theo dõi. Người ta thu thập và phân
tích thông tin bằng bốn hệ thống bộ trợ hợp lại thành hệ thống thông tin
Marketing: Hệ thống báo cáo nội bộ, hệ thống thu thập thông tin Marketing
thường ngày ở bên ngoài, hệ thống nghiên cứu Marketing và hệ thống phân tích
thông tin Marketing. Dòng thông tin đi đến nhà quản trị Marketing giúp họ phân
tích, lập kế hoạch thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các biện pháp Marketing.
Dòng ngược trở lại thị trường bao gồm các quyết định của nhà quản trị và những