cán cân thương mại việt nam từ khi gia nhập wto đến nay - Pdf 20

LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TỪ KHI GIA
NHẬP WTO ĐẾN NAY
Mục lục:
1.Lời mở đầu:
Là thành viên mới gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam
phải đối mặt với những thách thức đặt ra của kinh tế toàn cầu, cùng với đó
là nguy cơ khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế thế giới .Trong bối cảnh này,
các vấn đề đáng quan tâm hiện nay của kinh tế vĩ mô Việt Nam đó là :Sản xuất công
nghiệp vẫn tăng ở mức khá thấp, tổng FDI đăng ký giảm nhưng FDI đối với bất động
sản vẫn tăng mạnh, thâm hụt ngân sách 10 tháng 2012 đã vượt dự toán năm, CPI giảm
tốc nhưng vẫn cao. Trong những vấn đề trên thì thâm hụt ngân sách là vấn đề cần
được chú trọng bởi những tác động không nhỏ tới phát triển kinh tế vĩ mô.
Đây là lí do tôi nghiên cứu và chọn đề tài cán cân thương mại Việt Nam sau khi gia
nhập WTO để viết tiểu luận kinh tế vĩ mô. Mục đích đặt ra là nêu lên một cách khái
quát về thực trạng, nguyên nhân, các biện pháp đã, đang và cần làm tác động đến cán
cân thương mại để giúp ổn định kinh tế vĩ mô.
2. Tổng quan về thương mại:
2.1: khái niệm:
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc
tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một
quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh
lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng
2.2:bản chất của cán cân thương mại:
Cán cân thương mại của một quốc gia phản ánh khối lượng xuất nhập khẩu
về hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với cá c nước khác. Về mặt
kinh tế, cán cân thương mại thể hiện mối quan hệ tương quan giữa việc tăng hay
giảm lượng giá trị của một nền kinh tế nghĩa là nó phản ánh lượng tiền tăng
1
lên hoặc giảm đi của một quốcgia trong một thời gian nhất định.Trạng thái của
cán cân thương mại thường rơi vào 3 trạng thái. Trạng thái của cán cân

Khi thu nhập trong nước tăng, nhu cầu nhập khẩu hang hóa cũng đồng thời tăng theo.
Trong khi đó khi kinh tế nước ngoài tăng trưởng họ cũng tăng nhu cầu nhập khẩu
hàng hóa từ nước khác và làm cho xuất khẩu của đối tác thương mại tăng lên. Do vậy
cán cân thương mại phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế
2.3.4:các chính sách thương mại và phát triển kinh tế:
2
Các chính sách thuế,bảo hộ hàng hóa cũng ảnh hưởng mạnh đến cán cân thương mại.
Những rào cản này hạn chế nhập khẩu một số mặt hàng nhằm cải thiện cán cân
thương mại.
2.3.5: Tỷ lệ trao đổi:
Tỷ lệ trao đổi biểu hiện giá của một nước co thể chấp nhận trả cho hàng hóa nhập
khẩu với giá xuất khẩu của nước đó. Nói cách khác là tỷ số giữa giá xuất khẩu và giá
nhập khẩu của nước đó.Do đó tỷ lệ trao đổi có ảnh hưởng đến cán cân thương mại.
2.3.6:Phá giá tiền tệ:
Phá giá (hay nâng giá) là giảm bớt (hay tăng) tỷ giá hối đoái mà được chính phủ ủng
hộ. Phá giá đưa đến tăng giá hàng nhập khẩu và giảm giá hàng xuất khẩu.Do đó tạo ra
một khoản thặng dư trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán.
2.4 :Vai trò của cán cân thương mại đối với nền kinh tế:
-Thứ nhất,cán cân thương mại cung cấp những thông tin cần thiết liên quan đến cung
cầu tiền tệ của một quốc gia, cụ thể là sự thay đổi tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ so
với đồng ngoại tệ.
-Thứ hai,cán cân thương mại phản ánh khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế của
một quốc gia.
-Thứ ba, tình trạng của cán cân thương mại phản ánh tinh trạng của can cân vãng lai,
do đó ảnh hương đến ổn định nền kinh tế vĩ mô. Dây là ảnh hưởng quan trọng nhất
của cán cân thương mại tới nền kinh tế và dựa vào đó nhà nước có thể đưa ra những
chính sách để có thể điều chỉnh cán cân thương mại và đảm bảo ổn định nền kinh tế vĩ
mô.
-Thứ tư, cán cân thương mại thể hiện mức tiết kiệm, đầu tư và thu nhập thưc tế: X-M=
(S-I)+(T-G). Nếu cán cân thương mại bị thâm hụt thì điều đó thể hiện quốc gia chi

hội gấp 2,5 lần so với giai đoạn 2001 - 2005, đạt 42,9% GDP. Quy mô GDP năm 2010
tính theo giá thực tế đạt 101,6 tỉ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000. GDP bình quân
theo đầu người 1.168USD.
Trong 5 năm 2006-2010, tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện 45 tỉ
USD, vượt 77,8% so với kế hoạch. Tổng số vốn FDI đăng ký mới và bổ sung đạt 146
tỉ USD, gấp 7 lần so với giai đoạn 2001-2005.
-Hội nhập, đã phá được thế bao vây cấm vận, tạo được sự bình đẳng trong thương mại
quốc tế. Hoạt động kinh tế đối ngoại trong đó nòng cốt là ngoại thương tiến bộ rõ rệt.
Thị trường được rộng mở tới 149 nền kinh tế thành viên. Kim ngạch xuất khẩu liên
tục tăng trưởng. Kim ngạch xuất khẩu bình quân theo đầu người năm 2010 đạt 914,4
USD/người trong khi năm 2006 là 559,2 USD/người. Đến năm 2010 đã có 19 thị
trường Việt Nam xuất khẩu đạt từ 1 tỉ USD trở lên, trong đó đầu bảng là Hoa Kỳ, đạt
14,2 tỉ USD, tiếp đến là Nhật Bản và Trung Quốc Cũng trong số 19 thị trường nói
trên có 6 tên tuổi thuộc khu vực ASEAN, lần lượt theo trị số kim ngạch từ lớn đến nhỏ
là Singapore, Malaysia, Philippines, Campuchia, Indonesia, Thái Lan. Trên tổng thể
cán cân thương mại của Việt Nam là nhập siêu, nhưng có 6 thị trường ta xuất siêu là
Hoa Kỳ, Thuỵ Sỹ, Campuchia, Anh, Hà Lan, Philippines, như một tin báo tiệp rằng sẽ
cân bằng xuất - nhập.
-Là lĩnh vực nhạy cảm, khu vực dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ đối ngoại phát triển cả về
chiều rộng và bề sâu. Nhiều loại hình dịch vụ mới được mở mang.
Đã đầu tư phát triển một số ngành công nghệ mới, công nghệ cao. Cơ cấu kinh tế tiếp
tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Cơ cấu lao động cũng
chuyển biến tích cực, giảm dần lao động trong khu vực nông nghiệp, tăng dần khu vực
công nghiệp và dịch vụ.
Qua hội nhập đã tiếp thu khoa học kỹ thuật công nghệ mới, kỹ năng quản lý tiên tiến,
4
đào tạo được đội ngũ cán bộ và quản lý kinh doanh năng động hơn. Nhiều doanh
nghiệp đã chú trọng đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao năng suất, chất
lượng, giá thành sản phẩm cạnh tranh.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác lập, ngày càng được

xuất khẩu hàng hoá trở thành kênh dẫn quan trọng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài,
thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế. Khoảng 55% tổng số dự án và trên 50 % tổng số
vốn FDI đã được thu hút vào các ngành công nghiệp chế biến chế tạo xuất khẩu. Số
doanh nghiệp FDI trực tiếp tham gia xuất khẩu tăng nhanh tới 1.854 doanh nghiệp
trong năm 2010, chiếm gần 20% tổng số doanh nghiệp cả nước. Tỷ trọng của khu vực
FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu đã tăng từ 45,2% trong năm 2001 lên 57,5%
trong năm 2007 và khoảng 45,2% trong năm 2010.
5
- Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá bình quân đầu người đã tăng từ mức 175 USD trong
năm 2000 lên 750USD trong năm 2010, rút ngắn dần khoảng cách chênh lệch so với
một số nước trong khu vực. Tăng trưởng xuất khẩu đã góp phần tạo việc làm và thu
nhập cho hàng triệu lao động, nâng cao đời sống của nhân dân. Trong điều kiện xuất
khẩu dịch vụ chưa phát triển nhiều, xuất khẩu hàng hoá là thành phần đóng góp chính
tạo lập và hạn chế thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai của nền kinh tế.
-Cơ cấu xuất khẩu đã có xu hướng chuyển dịch tích cực, gắn chuyển dịch cơ cấu mặt
hàng với cơ cấu thị trường xuất khẩu, xây dựng được nhóm hàng xuất khẩu chủ lực và
gặt hái được thành công ở một số khâu đột phá tăng trưởng xuất khẩu.
- Xuất khẩu hàng hoá đã từng bước gắn kết với xuất khẩu dịch vụ. Xuất khẩu tại chỗ
bước đầu đã thu được ngoại tệ đáng kể, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng hiện đại.
Nhập khẩu hàng hoá đã coi trọng nhiều đến nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị
và công nghệ phục vụ sản xuất trong nước, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng dựa vào đầu
tư và xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH.
- Hội nhập quốc tế đã tác động tích cực, nhiều mặt đến XNK.
3.2:Những hạn chế, yếu kém:
-Nếu trong năm 2003 thâm hụt thương mại vào khoảng 2,581 tỷ USD thì đến năm
2008 mức thâm hụt lên đến 12,782 tỷ USD, gấp 5 lần so với năm 2003. Năm 2009
mức thâm hụt là 15,412 tỷ USD, gấp 5,9 lần so với năm 2003.
-Trong năm 2010, cán cân thương mại tiếp tục nghiêng về nhập siêu với mức thâm hụt
vào khoảng trên 12 tỷ USD.

ước đạt 9,9 tỷ USD, tăng 4,4% so với tháng 9 và tăng 17,4% so với cùng kỳ năm
2011. Trong số này, XK của các DN FDI (không kể dầu thô) ước đạt 5,6 tỷ USD, tăng
5,7% so với tháng 9 và tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước.
4. .Nguyên nhân gây thâm hụt cán cân thương mại:
- Nguyên nhân sâu xa, theo VASS, là do mô hình tăng trưởng kinh tế nước ta chủ yếu
dựa trên việc thâm dụng các yếu tố đầu vào nhưng ngành công nghiệp phụ trợ lại yếu
kém, do vậy nền sản xuất trong nước chủ yếu chỉ tham gia vào khâu gia công và lắp
ráp hoặc xuất khẩu thô với giá trị gia tăng thấp. Đây được xem là nguyên nhân chủ
yếu dẫn tới nền sản xuất trong nước nói chung và ngành xuất khẩu nói riêng phụ thuộc
đáng kể vào việc nhập khẩu nguyên, nhiên vật liệu đầu vào chiến lược cùng với các
máy móc và linh phụ kiện điện tử trung gian để lắp ráp và sản xuất ra hàng xuất khẩu.
(Theo NDHMoney) (theo dailodoanhnhan.com.vn)
-Do năng lực cạnh tranh của các thành phần kinh tế trong nước còn yếu; sản xuất còn
mang tính gia công; không tận dụng được các sản phẩm đầu vào trong nước, phải
nhập khẩu; ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển; hiệu quả sản xuất và năng lực
cạnh tranh thấp và chậm được cải thiện.
- Cơ thể kinh tế nước ta vẫn còn yếu kém, chưa thể hấp thụ, chuyển hoá những cơ
may thành hiện thực, trong khi đó chưa đào thải hết khó khăn do hội nhập mang
vào,vì:
7
+ Năng lực cạnh tranh của hàng hoá nước ta ở cả 3 cấp quốc gia, ngành hàng, doanh
nghiệp còn kém, thể hiện là giá thành còn cao, phẩm cấp thấp so với chuẩn quốc tế,
chất lượng phục vụ thiếu chuyên nghiệp.
+ Chưa chủ động phát huy mọi nguồn lực trong nước bằng chính sách ổn định lâu dài,
hệ thống pháp lý đồng bộ. Chưa chủ động phát huy mọi nguồn lực trong nước, khuyến
khích các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Trước tình huống phải
thực hiện cam kết mở cửa thị trường trong nước, việc thua trên sân nhà là khó tránh.
+ Đội ngũ cán bộ quản lý vĩ mô, quản trị sản xuất kinh doanh và thực hành trong
nhiệu lĩnh vực, nhiều địa phương còn bất cập so với yêu cầu trình độ khu vực và quốc
tế.

trị nhập khẩu ngày càng gia tăng và nhập khẩu thuộc nhóm hàng tư liệu sản xuất
chiếm tỷ trọng rất lớn, trung bình khoảng 92% tổng giá trị nhập khẩu, 8% còn lại chủ
yếu là hàng tiêu dùng.
Hình 3: Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu khẩu theo nhóm (trung bình) giai đoạn 1999 -
2010F. Nguồn: Số liệu GSO
Trong nhóm hàng tư liệu sản xuất thì nhóm hàng máy móc thiết bị chiếm khoảng 29%
tổng giá trị nhập khẩu; nhóm hàng nguyên nhiên, vật liệu chiếm khoảng 63,5% tổng
giá trị nhập khẩu .
-Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nhập khẩu hàng tư liệu sản xuất cao. Như đã đề cập
trong phần trên, nhiều mặt hàng sản xuất trong nước phải nhập khẩu máy móc thiết bị
và nguyên vật liệu, cùng với đó là quá trình công nghiệp hoá đang diễn ra mạnh mẽ
9
nên nhu cầu thay thế thiết bị lạc hậu bằng cách nhập khẩu công nghệ từ các nước phát
triển góp phần làm gia tăng nhu cầu nhập khẩu chung.
-Ngoài ra, lộ trình tự do hoá thương mại của Việt Nam nhất là kể từ năm 2007 - năm
Việt Nam trở thành thành viên WTO đã thu hút một nguồn vốn FDI khá lớn hàng năm
và kèm theo đó là nhu cầu nhập khẩu trang thiết bị, dây chuyền sản xuất phục vụ đầu
tư. Ngoài những nguyên nhân làm gia tăng việc nhập khẩu như đã nêu trên, nguyên
nhân nhập khẩu tăng cao còn phải kể đến:
- Tỷ lệ nhập khẩu trong sản phẩm xuất khẩu ở mức khá cao dẫn tới thực tế là nếu xuất
khẩu muốn tăng lên thì nhất thiết nhập khẩu sẽ tăng;
- Thu nhập ở Việt Nam tăng lên sẽ tạo thêm nhu cầu đối với hàng tiêu dùng và xa xỉ
phẩm.
- Đầu cơ bất động sản và các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng là lý do dẫn tới
nhập khẩu gia tăng trong những năm gần đây.
- Sự biến động trong giá hàng hoá thế giới dẫn tới hoạt động đầu cơ hàng hoá, nên
nhiều hàng hoá được nhập khẩu để tích trữ trước khi giá tăng
5. Giải pháp quan trọng nhằm hạn chế xuất khẩu và hạn chế
nhập siêu giai đoạn 2011-2020:
5.1:Xây dựng, củng cố các yếu tố nền tảng cho phát triển XNK nhanh và bền

- Giảm dần tỷ trọng của các thị trường công nghệ thấp và trung bình ở khu vực châu
Á, tăng dần tỷ trọng của các thị trường có công nghệ cao như EU, Bắc Mĩ, Nhật Bản,
Liên Bang Nga. Hướng mạnh vào các thị trường tiềm năng lớn, các nền kinh tế mới
nổi để đón bắt cơ hội thị trường dài hạn cho phát triển xuất khẩu.
- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tham gia các FTA có chọn lọc, theo lộ trình
phù hợp với trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Chủ động ứng
phó có hiệu quả với những tác động bất lợi của các FTA đã ký kết đến tình hình nhập
khẩu và nền kinh tế xã hội để giữ vững an ninh kinh tế, an toàn sức khoẻ cho cộng
đồng.
5.3: Cấu trúc lại nền kinh tế để đảm bảo độ an toàn cần thiết trong điều kiện
hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng kinh tế,
nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất khẩu.
- Chuyển dịch nền kinh tế theo hướng hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả
và đảm bảo độ an toàn cần thiết nhưng tham gia ngày càng sâu rộng vào các chuỗi giá
trị toàn cầu.Tiếp tục củng cố các ngành chủ chốt để đảm bảo độ an toàn cần thiết cho
nền kinh tế, trước hết là đảm bảo an ninh lương thực, an toàn năng lượng và an toàn
tài chính quốc gia.
- Cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng ưu tiên phát triển những ngành sản phẩm có tiềm
năng phát triển quy mô lớn, có hiệu quả kinh tế cao, tạo ra sản phẩm xuất khẩu có chất
lượng cao đủ khả năng thoả mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho đất nước và
có dự trữ một phần để dự trữ và xuất khẩu, củng cố các vùng sản xuất lương thực để
đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài.
- Cơ cấu lại ngành công nghiệp, ưu tiên phát triển mạnh các ngành áp dụng công nghệ
cao, các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh, có giá trị gia
11
tăng cao và có khả năng tham gia mạng lưới sản xuất và các chuỗi giá trị toàn cầu.
Thúc đẩy phát triển nhanh công nghiệp hỗ trợ, coi trọng phát triển công nghiệp phục
vụ nông nghiệp, nông thôn và các ngành sản phẩm từ công nghệ mới, công nghệ cao.
Tạo bước đột phá trong nâng cấp trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất công nghiệp
để chuyển nhanh động năng chính của tăng trưởng công nghiệp từ lao động và vốn

tố sáng tạo và hiện đại.
12
5.5:Định hướng :
- Đổi mới cấu trúc nền kinh tế đi đôi với đổi mới mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế
vĩ mô, xử lý các vấn đề lạm phát, thâm hụt thương mại, củng cố khả năng quản lý, sự
năng động của hệ thống tài chính - tìền tệ. Đầu tư, đổi mới công nghệ và năng lực
quản trị kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ Việt Nam.
- Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, đi đôi với việc cải cách hành
chính, nâng cao tính hiệu quả của hệ thống chính sách, bộ máy và cơ chế quản lý.
Tiếp tục hoàn thiện các yếu tố kinh tế thị trường, các loại hình thị trường, để được
công nhận có nền kinh tế thị trường trước hạn 31.12.2018.
- Đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục đào tạo với chiến lược dài hạn nhằm có đội ngũ công
chức, chuyên gia, công nhân lành nghề thực sự có chất lượng.
- Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp cán bộ, cộng đồng
doanh nghiệp, toàn dân quán triệt, hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ trong quá trình hội
nhập. Từ đó đồng thuận, chủ động thực hiện các chính sách theo lộ trình hội nhập.
- Thực hiện đầy đủ các cam kết, các nghĩa vụ với WTO và với các tổ chức kinh tế
quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên.
6. kết luận:
Để đạt được mục tiêu và định hướng chiến lược thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập
siêu thời kỳ tới 2020, lĩnh vực XNK cần phải phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.
Phát triển xuất khẩu sao cho cân đối giữa chiều rộng và chiều sâu, hài hoà lợi ích giữa
các ngành hướng về xuất khẩu và các ngành thay thế nhập khẩu. Xuất nhập khẩu cần
thiết phải được cơ cấu lại một cách thật khoa học để nâng cao chất lượng, hiệu quả,
đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước…
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
http://www.cuts-hrc.org/vi/vietnamese-news/5-nam-gia-nhap-wto-chua-nhu-ky-vong
http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/de-tai-thuc-trang-can-can-thuong-mai-cua-viet-nam-sau-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status