1
Lời Nói Đầu
Chúng ta đang đứng trước một thế kỉ của công nghệ thông tin, một lónh vực mà
ngày nay đang phát triển rất mạnh mẽ. Nó đã làm thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội,
giúp cho con người giải quyết công việc nhanh hơn, chính xác hơn Công nghệ thông tin
được ứng dụng sâu rộng vào mọi lónh vực khoa học và đời sống như : y tế, nông nhgiệp,
kinh tế, thiên văn, đòa lí đặc biệt là giáo dục – nó đem lại cách nhìn mới, cách đánh giá
mới trong việc tiếp cận và giải quyết một vấn đề.
Trước tình hình đó, sau một thời gian tìm hiểu em đã mạnh dạn nhận và thực hiên
luận văn tốt nghiệp “Xây dựng phần mềm hỗ trợ thiết kế cơ cấu truyền lực của động
cơ đốt trong thông dụng.”
Nội dung của luận văn tốt nghiệp gồm 4 chương :
Chương 1 :Tổng quan về cơ cấu truyền lực của ĐCĐT thông dụng.
Chương 2: Thiết kế cơ cấu truyền lực
Chương 3: Xây dựng phần mềm hỗ trợ thiết kế hệ cơ cấu truyền lực của động cơ đốt
trong thông dụng.
Mặc dù đã rất cố gắng nghiên cứu tài liệu để củng cố và nâng cao kiến thức về
Động Cơ Đốt Trong và công nghệ thông tin, song do nhiều kiến thức cần thiết phải bổ
sung trong thời gian thực hiện luận văn có hạn, kiến thức và kỹ năng trong lónh vực công
nghệ thông tin còn hạn chế, nên chắc chắn báo cáo này sẽ còn rất nhiều thiếu sót. Rất
mong được q Thầy, Cô đóng góp ý kiến để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Nhân dòp này cho phép em được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đối với Thầy PGS.
TS - Nguyễn Văn Nhận và Bộ môn cơ khí động lực đã tận tình hướng dẫn và tạo điều
kiện thuận lợi để em hoàn thành luận văn này.
Nha Trang, tháng 11 năm 2005 .
Sinh viên : Nguyễn Tiến phương
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
2
- Vòng găng có nhiệm vụ làm kín, bôi trơn không cho khí cháy xuống cacte và
không cho dầu bôi trơn lên buồng đốt, làm cho piston chuyển động dễ dàng. Ngoài ra nó
là phần trung gian truyền nhiệt từ pítông qua xylanh ra áo nước làm mát.
b) Điều kiện làm việc
* Piston làm việc trong điều kiện rất khắc nghiệt :
- Tải trọng cơ học lớn và có chu kỳ : Áp suất khí thể lớn, có thể đến 120 kg/cm
2
hoặc hơn nữa. Lực quán tính lớn, đặc biệt là ở động cơ cao tốc.
- Tải trọng nhiệt cao : Chòu ứng suất nhiệt không đều giữa các phần. Nhiệt độ của
piston có thể đến 500 – 800 (
0
K). Chòu ma sát giữa piston với xylanh. Và ăn mòn hoá học
do thường xuyên tiếp xúc với sản vật cháy.
* Vòng găng chòu nhiệt độ và áp suất cao, chòu ma sát rất lớn và lực hướng kính
lớn.
* Chốt piston chòu lực va đập tuần hoàn nhiệt đôï cao và điều kiện bôi trơn khó
khăn.
c) Vật liệu chế tạo
Vật liệu và cấu tạo của nhóm piston yêu cầu phải chòu được nhiệt độ cao, tải trọng
cơ lớn, ít bò mài mòn
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
4
* Vật liệu thường dùng:
- Với piston : người ta thường dùng gang hợp kim (động cơ chạy chậm), gang hợp
kim crôm, molipden, gang cầu có giới hạn bền 50/60 Kg/ mm
2
; hợp kim nhôm đúc và hợp
5
- Phần đỉnh piston : có hình dáng phụ thuộc vào kiểu loại động cơ, cách thức trao
đổi khí và tổ chức quá trình cháy. Dưới đây trình bày một số hình dáng điển hình :
Hình1-3
* Đỉnh bằng (hình 1-3a), diện tích chòu nhiệt nhỏ, kết cấu đơn giản. Kết cấu này
thường sử dụng trong động cơ diesel buồng cháy dự bò và buồng cháy xoáy lốc.
* Đỉnh lồi (hình 1-3b), có sức bền lớn. Đỉnh mỏng, nhẹ nhưng diện tích chòu nhiệt
lớn. Loại đỉnh này thường được dùng cho động cơ xăng 4 kỳ và hai kỳ xupap treo, buồng
cháy chỏm cầu.
* Đỉnh lõm (hình 1-3d), có thể tạo xoáy lốc nhẹ, tạo thuận lợi cho quá trình tạo khí
hỗn hợp và cháy.Tuy nhiên sức bền kém và diện tích chòu nhiệt lớn hơn so với đỉnh bằng :
loại đỉnh này được sử dụng cho cả động cơ xăng và động cơ diesel.
* Đỉnh chứa buồng cháy : thường gặp trong động cơ diesel, kết cấu buồng cháy
phải thoả mãn các yêu cầu sau đây tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể :
+ Phải phù hợp với hình dạng buồng cháy và hướng của chùm tia phun nhiên liệu
để tổ chức tạo thành hỗn hợp tốt nhất (hình 1-3e).
+ Phải tận dụng được xoáy lốc của không khí trong quá trình nén, hình 1-4f : buồng
cháy denta; (hình 1-4g) : buống cháy omega; (hình 1-4h) : buồng cháy MAN
- Đầu piston : là phần chòu nhiệt cao, chòu áp suất cao của khí cháy.
Phần đầu píttông thường nhỏ hơn đường kính thân vì thân là phần dẫn hướng của
piston. Kết cấu đầu piston phải bảo đảm những yêu cầu sau :
*Bao kín tốt cho buồng cháy nhằm ngăn khí cháy lọt xuống cacte, dầu và dầu bôi
trơn từ cacte sục lên buồng cháy. Thông thường người ta dùng xecmăng để bao kín. Có
vào thân xylanh ở phương chuyển động lắc của thanh truyền, ở hai đầu chốt piston người
ta vát bớt cho nhẹ. Ở máy chạy chậm, phần dẫn hướng dài hơn. Tại đây, phía trong bố trí
các ổ đỡ chốt piston, phía ngoài còn bố trí một vài vòng găng dầu. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
7
Hình 1-5
Để rút ngắn thời gian chạy rà, phần dẫn hướng các piston bằng gang thường được
phủ một lớp thiếc mỏng hoặc được khảm vào đó một hoặc hai cái đai bằng đồng thanh.
* Vò trí tâm chốt được bố trí sao cho piston và xylanh mòn đều, đồng thời giảm va
đập và gõ khi piston đổi chiều. Một số động cơ có tâm chốt lệch với tâm xylanh một giá
trò e về phía nào đó sao cho lực ngang N
max
giảm để hai bên chòu lực N của piston và
xylanh mòn đều.
* Để chống bó kẹt piston. Người ta sử dụng những biện pháp sau : + Chế tạo thân pittông có dạng ô van, trục ngắn trùng với tâm chốt (hình 1-6a)
piston sao cho đồng đều giữa các xylanh. Độ sai lệch về trọng lượng đối với động cơ ô tô
máy kéo không vượt quá 0,2 – 0,6% còn ở động cơ tónh tại và tàu thuỷ giới hạn này là
1- 1,5%. b) Chốt piston:
* Chốt piston có hình trụ rỗng, đa số được lắp “bơi” trong ổ đặt của nó. Kèm với
chốt piston là các vòng hãm.
* Các mối ghép giữa chốt piston và piston, thanh truyền theo hệ trục để đảm bảo
lắp ghép dễ dàng. Trong thực tế có ba kiểu lắp ghép sau :
Hình 1
-
9
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
9
+ Cố đònh chốt trên đầu nhỏ thanh truyền (hình 1-10a). khi đó chốt piston phải
được lắp tự do trên bệ chốt. Do không phải giải quyết vấn đề bôi trơn của mối ghép với
thanh truyền cho nên có thể thu hẹp bề rộng đầu thanh truyền và như vậy tăng được chiều
dài của bệ chốt, giảm được áp suất tiếp xúc – mòn tại đây. Tuy nhiên mặt phẳng chòu lực
của chốt ít thay đổi nên tính chòu mỏi kém.
+ Cố đònh chốt pittông trên bệ chốt (hình 1-10b). Khi đó chôt phải đựơc lắp tự do
trên thanh truyền. Cũng giống như phương pháp trên, do không phải bôi trơn cho bệ chốt
-
12
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
10
Xecmăng thường có hai loại là xecmăng khí và xecmăng dầu.
- Xecmăng khí. Về đại thể, xecmăng có kết cấu đơn giản là một vòng hở miệng
(hình 1-12a). Kết cấu của xecmăng khí được đặc trưng bằng kết cấu của tiết diện và
miệng xecmăng
* Loại tiết diện chữ nhật (hình 1-12b) có kết cấu đơn giản nhất, dễ chế tạo, nhưng
có áp suất riêng không lớn, thời gian rà khít với xylanh sau khi lắp ráp lâu. Loại có mặt
côn (hình 1-12c)
b
=15-30
’
có áp suất tiếp xúc lớn và có thể rà khít nhanh chóng với
xylanh, tuy nhiên chế tạo phiền phức và phải đánh dấu khi lắp sao cho khi xecmăng đi
xuống sẽ có tác dụng như một lưỡi cạo để gạt dầu. Để có được ưu điểm trên và tránh được
những điều phiền phức đã nêu, người ta đưa ra kế cấu tiết diện không đối xứng bằng cách
tiện vát tiết diện xecmăng (hình 1-12d,e). Khi lắp ráp vào piston và xylanh, do có sức
căng nên xecmăng bò vênh đi nên có tác dụng như một mặt côn. Loại hình thang - vát
(hình 1-12f) có tác dụng giữ muội than khi xéc măng co bóp do đường kính xylanh không
hoàn toàn đồng đều theo phương dọc trục, do đó tránh được hiện tượng bó kẹt xéc măng
trong rãnh của nó.
* Về kết cấu miệng, loại thẳng (hình 1-12g) dễ chế tạo nhưng dễ lọt khí và sục dầu
qua miệng. Loại vát (hình1-12h) có thể khắc phục phần nào những nhược điểm trên. Loại
bậc (hình 1-12i) bao kín rất tốt nhưng, khó chế tạo.
- Xéc măng dầu. Nếu chỉ có xéc măng khí thì có hiện tượng bơm dầu lên buồng
cháy. Xéc măng dầu làm nhiệm vụ ngăn dầu và ngoài ra còn dàn đều dầu trên mặt
Nhóm thanh truyền là các bộ phận trung gian liên kết giữa piston với trục khuỷu,
truyền áp lực của khí cháy từ piston xuống trục khuỷu. Nhóm thanh truyền gồm các bộ
phận chính sau : Thân thanh truyền, đầu thanh truyền ( đầu trên và đầu dưới), bạc lót
thanh truyền ( bạc lót đầu trên và bạc lót đầu dưới), bulông thanh truyền ( bulông, đai ốc,
chốt chẻ).
Hình 1
-
13
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
12 Hình 1-16
1.2.1. NHIỆM VỤ, ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC, VẬT LIỆU CHẾ TẠO
a) Nhiệm vụ:
- Thanh truyền là bộ phận trung gian truyền chuyển động giữa piston và trục
khuỷu của động cơ.
- Bu lông thanh truyền là chi tiết ghép nối hai nửa đầu to thanh truyền
- Bạc lót thanh truyền : làm giảm hao mòn cho chốt piston, trục khuỷu. Ngoài ra
giúp cho việc bôi trơn dễ dàng, cơ cấu làm việc êm hơn.
b) Điều kiện làm việc.
- Thanh truyền chòu ứng suất nhiệt ( nhiệt truyền từ piston) không đều, chòu kéo,
nén, uốn thay đổi phương chiều liên tục, chòu ma sát ( ma sát với cổ trục khuỷu, chốt
piston). Như vậy khi động cơ làm việc thanh truyền chòu lực tải động lớn.
- Bu lông thanh truyền chòu tải trọng tónh lớn do lực siết ban đầu và lực quán tính
cuả nhóm piston thanh truyền thay đổi gây ra, cho nên thường bò mỏi.
- Bạc lót thanh truyền chòu ứng suất nhiệt, chòu ma sát với chốt piston, cổ khuỷu
Tiết diện thượng thay đổi từ nhỏ đến lớn kể từ đầu nhỏ đến đầu to. Tiết diện chữ I,
chữ H loại này được dùng phổ biến, từ động cơ cỡ nhỏ đến động cơ cỡ lớn và được tạo
phôi bằng phương pháp rèn khuân. Ở động cơ quay chậm thường có tiết diện hình tròn đặc
hoặc rỗng. Loại hình 1-17d,c thường dùng cho động cơ mô tô, xuồng máy nhỏ. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
14
+ Đầu trên thanh truyền : Khi chốt pittông lắp tự do với đầu nhỏ thanh truyền, trên
đầu nhỏ thường phải có bạc lót (hình 1-18a). Đối với động cơ ô tô máy kéo thường là động
cơ cao tốc, đầu nhỏ thường mỏng để giảm trọng lượng. Ở một số động cơ người ta thường
làm vấu lồi trên đầu nhỏ để điều chỉnh trọng tâm thanh truyền cho đồng đều giữa các
xylanh (hình 1-18b). Để bôi trơn bạc lót và chốt pittông có những phương án như dùng
rãnh hứng dầu (hình 1-18c) hoặc bôi trơn cưỡng bức do dẫn dầu từ trục khuỷu dọc theo
thân thanh truyền (hình 1-18a).
Hình 1-18
Ở động cơ hai kỳ, do diều kiện bôi trơn khó khăn, người ta làm các rãnh chứa dầu
ở bạc đầu nhỏ (hình 1-18d). Cũng chính vì bôi trơn khó khăn nên ở một số động cơ người
ta dùng bi kim thay cho bạc lót (hình 1-18e). Động cơ tốc độ cao đầu trên có dạng hình
tròn xoay, động cơ tốc độ chậm có dạng ôvan với vành dày hơn.
+ Đầu dưới thanh truyền.
Hình 1-19
Hình dạng viền ngoài đầu dưới thanh truyền rất đa dạng, nó tuỳ thuộc vào loại động
cơ, ở động cơ cỡ lớn, để tiện khi chế tạo, người ta chế tạo đầu to thanh truyền riêng rồi lắp
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
15
với thân thanh truyền (hình 1-19a). Ở loại động cơ tốc độ thấp thường dùng kết cấu hai
Hình 1-21
Đây là kết cấu điển hình của động cơ ôtô máy kéo. Đầu bulông có mặt vát A để chống
xoay khi lắp ráp. Còn mặt vát B có tác dụng làm mềm phần đối diện với mặt vát A để
phản lực hai phía trên bề mặt tỳ được đồng đều sao cho tổng phản lực tác dụng đúng trên
đường tâm bulông để tránh cho bulông bò uốn. Bán kính góc lượn của phần chuyển tiếp
nằm trong khoảng 0.2 –1 mm nhằm giảm tập trung ứng suất.
+ Bạc lót thanh truyền : bao gồm bạc lót đầu trên và bạc lót đầu dưới.
Bạc lót đầu trên thường là ống hình trụ, trên ống có lỗ để cho dầu bôi trơn đến để
bôi trơn cho chốt piston.
Bạc lót đầu dưới thường được cấu tạo từ hai nửa hình trụ, trên đó có dập rãnh để
tránh hai nửa bạc lót trượt tương đối với nhau theo phương dọc trục.
1.2.3. PHÂN LOẠI
a) Theo hình dạng tiết diện dọc của thanh truyền :
- Thanh truyền có tiết diện dọc hình chữ I.
- Thanh truyền có tiết diện dọc hình chữ H.
- Thanh truyền có tiết diện dọc hình tròn rỗng.
- Thanh truyền có tiết diện dọc hình tròn đặc
b) Theo hình dạng của đầu trên thanh truyền:
- Thanh truyền có đầu trên có hình dạng tròn xoay.
- Thanh truyền có đầu trên có hình dạng ôvan .
c) Theo hình dạng, kết cấu của đầu dưới của thanh truyền.
- Đầu dưới thanh truyền có kết cấu hai nửa.
- Phần trên của đầu dưới thanh truyền được làm liền thân.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
17
- Phần dưới của đầu dưới lệch vơi đường trục của thanh truyền một góc
b
.
(Cr), niken (Ni). Động cơ cường hoá như ở xe du lòch, trục khuỷu được chế tạo bằng thép
hợp kim có các thành phần mănggan (Mn), vônphram (W) …
- Gang graphit cầu : Thường được dùng cho các loại động cơ có công suất nhỏ và
trung bình.
Đối với động cơ công suất thấp, trục khuỷu thường được chế tạo bằng thép đúc với
các hợp kim: 1,4% Cr, 2% Si, 2,7% Cu + gang.
Đối với động cơ công suất lớn, trục khuỷu thường được chế tạo bằng thép rèn, hợp
kim của thép chứa 0,45% Cr, 1% Mn, 0,05% Si.
- Ngoài ra hiện nay để nâng cao độ bền của trục khuỷu người ta còn dùng các biện
pháp công nghệ như : gia công nhiệt (nitơ hoá, xemenit hoá, xianua hoá); biến cứng lớp
bề mặt (lăn ép, phun bi); tôi bề mặt bằng sòng điện cao tần.
1.3.2.CẤU TẠO VÀ PHẠM VI SỬ DỤNG
Dưới đây là kết cấu của một loại trục khuỷu nguyên được dùng trong động cơ cỡ
nhỏ và trung bình
Hình 1-22
1. đầu trục, 2. chốt khuỷu, 3. cổ khuỷu, 4. má khuỷu, 5. đối trọng, 6. đuôi trục khuỷu
Trục khuỷu được chia làm những phần chính sau :
- Đầu trục khuỷu : Trên (hình 1-23) là một loại đầu trục khuỷu động cơ ô tô. Đầu trục
có lắp vấu để quay trục khi cần thiết hoặc để khởi động bằng tay quay có then để lắp puli
(hoặc bánh răng dẫn động bơm nhiên liệu, bơm dầu bôi trơn, hệ thống phân phối khí)…
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
19
Hình 1-23
- Phần các khuỷu : phụ thuộc vào số xylanh, thứ tự làm việc của các xylanh và
kiểu
động cơ. Mỗi khuỷu gồm: cổ trục khuỷu, chốt khuỷu, má khuỷu và có thể có các đối trọng
cân bằng. Trên trục khuỷu còn khoan các đường dẫn dầu để đưa dầu nhờn đến các mặt ma
có thể xác đinh theo công thức sau :
R
dd
cch
-
+
=
2
e
Độ trùng điệp càng lớn , độ cứng vững và độ bền của má khuỷu, hay của toàn bộ
trục khuỷu càng cao.
Để tràng tập trung ứng suất, giữa má và cổ khuỷu, chốt khuỷu thường có các bán
kính chuyển tiếp r (hình 1-26)
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
21
Hình 1-26
+ Đối trọng.
Hình 1-28
Hình 1-28 là kết cấu điển hình của đuôi trục khuỷu, rất phổ biến ở động cơ ô tô
máy kéo. Theo kết cấu này, đuôi trục khuỷu có mặt bích hoặc mặt côn để lắp bánh đà và
được làm rỗng để lắp vòng bi đỡ trục sơ cấp hộp số.
1.3.3. PHÂN LOẠI
- Theo lắp ghép có :
+ Trục khuỷu ghép và trục khuỷu nguyên.
Trục khuỷu ghép là trục khuỷu gồm nhiều chi tiết đựơc lắp ghép với nhau : Loại
trục khuỷ này thường sử dụng nhiều trong các động cơ cỡ lớn, hoăc động cơ nhỏ như động
cơ xe máy
+ Trục khuỷu nguyên hình như (hình 1-22) là trục chỉ có một chi tiết. Trục khuỷu
nguyên được dùng trong động cơ cỡ nhỏ và trung bình
-Theo kết cấu, có : Trục khuỷu trốn cổ (hình 1-30) và trục khuỷu đủ cổ (hình 1-22)
Hình 1
-
29PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
24
CHƯƠNG 2
THIẾT KẾ CƠ CẤU TRUYỀN LỰC
2.1.CHỌN PHƯƠNG ÁN.
2.1.1.TÍNH TOÁN NHÓM PISTON.
A. TÍNH TOÁN PISTON
1.Đỉnh pittông.
Đỉnh pittông chòu lực rất phức tạp, trạng thái ứng suất cũng rất phức tạp, nó vừa
chòu tải trọng cơ học vừa chòu tải trọng nhiệt. Do vậy việc tính toán đỉnh pittông cũng chỉ
theo phương pháp gần đúng :
Phương pháp Back.
Công thức Back xây dựng trên các giả thiết sau :
Coi đỉnh pittông như một đóa tròn, có chiều dày đồng đêù đặt tự do trên hình trụ
rỗng. Áp suất khí thể phân bố đều trên đỉnh pittông.
Hình 2-1
Lực khí thể và phản lực của nó phân bố trên đỉnh piston gây nên mômen uốn có trò
số :
()
,
24
1
6
2
== MN/m
2
[1-Tr.53]
Trong đó : Di - đường kính trung bình của pittông
d
- bề dày đỉnh piston (m)
Pz - áp suất khí thể tác dụng lên đỉnh piston.
6
2
i
U
D
W= - môdun chống uốn của đỉnh.
Bảng ứng suất cho phép (Bảng 2-1,Phụ lục)
2.Đầu piston.
Ta tính ứng suất nhỏ nhất (I-I) của phần đầu pittông. Tiết diện này chòu kéo bởi lực
quán tính âm lớn nhất do khối lượng m
I-I
của đầu pittông phía trên tiết diện này gây ra :
Ứng suất kéo :
)6(
max
10
-
-
-
-
==
s
, MN/m
2
[1-Tr.54]
Ứng súât cho phép :
[
]
10£
k
s
MN/m
2
đối với gang :
[
]
40=
n
s
, MN/m
2
đối với nhôm :
[
]
25=
n
s
, MN/m
2
3.Tính thân pittông.