thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi cục thuế thị xã ninh hoà - Pdf 20

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
oOo PHAN THÁI HOÀ
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ THỊ XÃ NINH HOÀ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KẾ TOÁN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
PHAN HỒNG NHUNG Nha Trang – năm 2012

Ninh Hoà, ngày 02 tháng 06 năm 2012
CHI CỤC TRƯỞNG 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Nha Trang, ngày 25 tháng 06 năm 2012
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

5

MỤC LỤC

6. Những đóng góp của đề tài 15

CHƯƠNG I : cơ sở lý luận về thuế TNDN 16

1.1.Khái quát chung về thuế thu nhập doanh nghiệp 16

1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp 16

1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp 16

1.1.3 Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp 17

1.1.3.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp là khoản thu quan trọng của ngân sách
nhà nước 17

1.1.3.2 Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng của nhà nước
trong việc điều tiết vĩ mô. 17

1.1.3.3 Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ để nhà nước thực hiện
chính sách công bằng xã hội 18

1.2.Thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam 19

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của thuế thu nhập doanh nghiêp tại Việt
Nam 19

1.2.1.1 Giai đoạn năm 1990-1996 19

1.2.1.2 Giai đoạn năm 1997-2002 20



2.1.3. Cơ cấu tổ chức 54

2.1.3.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 54

2.1.3.2.Cơ cấu nhân sự 58

2.1.4. Khái quát tình hình thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước tại
Chi Cục Thuế Thị Xã Ninh Hoà 59

2.2.Thực trạng quản lý thuế TNDN tại Chi Cục Thuế Thị Xã Ninh Hoà 62

2.2.1.Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNDN. 62

2.2.1.1. Nhân tố chủ quan 62

2.2.1.2. Nhân tố khách quan 63

2.2.2. Tình hình thu thuế TNDN trong những năm qua 65

2.2.3. Quy trình quản lý thuế TNDN 69

2.2.3.1. Tuyên truyền giáo dục pháp luật thuế và hỗ trợ người nộp thuế 70

2.2.3.2. Quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế 71

2.2.3.2.1. Quy trình xử lý tờ khai và kế toán thuế tại Chi cục Thuế thị
xã Ninh Hoà 71

2.2.3.2.2. Đánh giá công tác quản lý kê khai, kế toán thuế 93

3.2 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý và tổ chức thực hiện : 139

3.2.1. Sự cần thiết của đề xuất 139

3.2.2. Nội dung đề xuất 140

3.2.3. Hiệu quả dự kiến mang lại 141

3.3. Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế 142

3.3.1. Sự cần thiết của đề xuất 142

3.3.2. Nội dung đề xuất 142

3.3.3. Hiệu quả dự kiến mang lại 143

Kết luận 144

Danh mục tài liệu tham khảo 145

Phụ lục 146


DANH MỤC CÁC BẢNG

1. Bảng 2.1 : Bảng tổng hợp cán bộ, công chức và tổ chức cán bộ toàn
chi cục tính đến năm 2012
2. Bảng 2.2 : Bảng kết quả thực hiện nhiệm vụ thu thuế (năm 2009-2011)
3. Bảng 2.3 : Bảng tình hình thu thuế TNDN so với tổng thu nội địa
4. Bảng 2.4 : Bảng tình hình nợ thuế phân theo nhóm nợ (2008-2011)
5. Bảng 2.5 : Bảng tổng hợp kết quả kiểm tra HSKT tại Chi cục Thuế Thị
Xã Ninh hoà từ năm 2009 đến năm 2011
6. Bảng 2.6 : Bảng tổng hợp kết quả thanh tra, kiểm tra HSKT tại trụ sở
NNT từ năm 2009 đến năm 2011

10

DANH MỤC CÁC LƯU ĐỒ

1. Lưu đồ 2.1 : Lưu đồ tổ chức bộ máy quản lý
2. Lưu đồ 2.2 : Lưu đồ quy trình xử lý hồ sơ khai thuế
3. Lưu đồ 2.3 : Lưu đồ quy trình xử lý HSKT điều chỉnh, bổ sung
4. Lưu đồ 2.4 : Lưu đồ quy trình gia hạn nộp hồ sơ khai thuế
5. Lưu đồ 2.5 : Lưu đồ quy trình ấn định thuế
6. Lưu đồ 2.6 : Lưu đồ quy trình xử lý HSKT nộp trước 90 ngày
7. Lưu đồ 2.7 : lưu đồ quy trình xử lý HSKY nộp sau 90 ngày
8. Lưu đồ 2.8 : Lưu đồ quy trình kế toán thu thuế
9. Lưu đồ 2.9 : Lưu đồ kế toán theo dõi thu nộp thuế
10. Lưu đồ 2.10 : Lưu đồ quy trình xác nhận nghĩa vụ thuế
11. Lưu đồ 2.11 : Lưu đồ quy trình quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế

11

12

cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 trong đó trọng tâm là cải cách phát triển
hiện đại hoá ngành thuế. Đây vừa là đòi hỏi, vừa tạo cơ hội thuận lợi để thúc đẩy
việc hiện đại hoá công tác quản lý thuế. Chính phủ đã quyết định cho ngành
Thuế được thực hiện thí điểm cơ chế cơ sở kinh doanh tự khai, tự nộp thuế từ
01/01/2004. Ngành thuế cả nước đang trong thời kỳ đổi mới, có truyền thống
đoàn kết nhất trí, có ý thức tổ chức kỷ luật và quyết tâm cao trong việc thực hiện
thắng lợi mục tiêu cải cách đã đặt ra. Cấp uỷ và chính quyền các cấp đã và đang
chỉ đạo cải cách các thủ tục hành chính gắn với việc phát triển kinh tế xã hội trên
địa bàn từ đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành nói chung, ngành thuế nói
riêng, đẩy mạnh công cuộc cải cách theo đường lối của Đảng và Chính phủ.
Ngành thuế đã được Nhà nước khoán chi, trên cơ sở đẩy mạnh khai thác nguồn
thu, chống thất thu ngân sách Nhà nước, tạo điều kiện cho ngành thuế chủ động
được nguồn lực tài chính để phục vụ cho quá trình cải cách và hiện đại hoá công
tác quản lý thuế. Tuy nhiên một số chính sách quản lý kinh tế và xã hội, môi
trường pháp lý liên quan đến quản lý thuế chưa được cải cách đồng bộ. Một bộ
phận các cơ quan chức năng, các tổ chức, cá nhân chưa đề cao trách nhiệm trong
việc chấp hành pháp luật, cung cấp thông tin và phối hợp với cơ quan thuế trong
việc thực thi pháp luật thuế nhằm đảm bảo nguồn lực tài chính cho đất nước. Dư
luận chưa lên án mạnh mẽ, đúng mức các hành vi trốn thuế, gian lận thuế, thậm
chí còn bao che. Trình độ hiểu biết về thuế, ý thức chấp hành các luật, pháp lệnh
thuế của nhiều tổ chức, cá nhân nộp thuế chưa đầy đủ, ý thức tuân thủ và tự giác
thực thi chấp hành các nghĩa vụ thuế chưa cao. Hệ thống trang thiết bị và ứng
dụng tin học chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ cho công tác quản lý thuế mới.
Đội ngũ cán bộ thuế còn bộc lộ một số yếu kém về trình độ chuyên môn, ngoại
ngữ, tin học trong quá trình thực hiện cải cách đổi mới. Với những hạn chế còn
tồn tại đó ngày 17/5/2011 Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã kí quyết
định phê duyệt chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2020, trong đó sẽ xây
dựng chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thể

doanh thuộc mọi thành phần kinh tế có hoạt động SXKD phát sinh thu nhập. Để
góp phần vào việc thực hiện mục tiêu trên của Chính Phủ, là một sinh viên cuối
14

khoá em sẽ đi sâu vào tìm hiểu công tác quản lý thuế TNDN tại Chi cục Thuế thị
xã Ninh Hoà, để phần nào hiểu được thực trạng công tác quản lý thuế ở thị xã
Ninh Hoà, tìm ra những hạn chế, yếu kém của Chi cục, từ đó đưa ra những kiến
nghị, đề xuất để góp phần hoàn thiện công tác quản lý thuế tại đây.

3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
+ Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý thuế TNDN tại Chi cục Thuế
thị xã Ninh Hoà.
+ Phạm vi nghiên cứu:
Địa điểm: Chi cục Thuế thị xã Ninh Hoà.
Số liệu thể hiện: từ năm 2008 - 2011

4/ Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp quan sát: quan sát thực tế tại Đội Tuyên truyền và hỗ trợ,
Đội Kê Khai.
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp các công chức tại Chi Cục
Thuế thị xã Ninh Hoà.
- Phương pháp thu thập thông tin: Từ hệ thống văn bản pháp luật về thuế
TNDN, báo cáo tổng kết công tác thuế qua các năm, các tài liệu do Đội Nghiệp
vụ – dự toán,Đội Kiểm tra, Đội Kê khai cung cấp, tạp chí Thuế Nhà nước, tham
khảo thông tin trên trang web Tổng cục Thuế:www.gdt.gov.vn và một số trang
web khác.
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp.

5/ Nội dung của đề tài:

chính, quản lý nợ, đã giúp em hoàn thiện bài đồ án này.
Sinh viên thực hiện
Phan Thái Hoà
16

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP

1.1. Khái quát chung về thuế thu nhập doanh nghiệp :
1.1.1. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp :
Thuế là nguồn thu quan trọng của ngân sách quốc gia, nước nào cũng có
các khoản chi ngân sách hàng năm. Để tài trợ cho những khoản chi công đó, có
5 nguồn tài trợ chính: thuế, phát hành tiền, phát hành công trái, nhận viện trợ
không hoàn lại, nhận viện trợ hoàn lại và vay nước ngoài. Trong đó thuế giữ vai
trò quan trọng hơn cả, nó là khoản đóng góp bắt buộc theo luật của tổ chức, cá
nhân cho nhà nước, không hoàn trả trực tiếp ngang giá nhưng được dùng để
trang trải các chi phí phục vụ lợi ích của toàn dân như: giáo dục, quốc phòng an
ninh, giao thông, y tế Thuế ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời và
tồn tại của nhà nước.
Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập
chịu thuế của DN và các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế có hoạt
động SXKD phát sinh thu nhập.
Không phải toàn bộ thu nhập của doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế
thuộc mọi thành phần kinh tế có hoạt động SXKD đều là đối tượng điều chỉnh
của thuế TNDN. Thuế TNDN chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế. Việc đánh
thuế vào loại thu nhập nào, đánh nặng hay nhẹ vào từng loại thu nhập là tuỳ
thuộc vào quan điểm của mỗi Nhà nước, phụ thuộc vào khả năng quản lý thuế,
chi phí quản lý thuế cũng như mục tiêu của thuế TNDN phải đạt được để góp
phần thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong
từng thời kỳ nhất định.

ngược lại thì dễ dẫn tới bị phá sản.
Trong quá trình phát triển kinh tế, thuế thường được sử dụng để khuyến
khích đầu tư, góp phần thúc đẩy sản xuất. Thuế suất hợp lý và các ưu đãi về thuế
trong đầu tư có tác động rất lớn đối với các quyết định đầu tư mới hay mở rộng
sản xuất kinh doanh của các DN. Trên thực tế, nhiều nước trên thế giới cũng như
18

ở Việt nam, thuế được sử dụng với những thuế suất ưu đãi hợp lý, có thời hạn
nhằm khuyến khích sự phát triển của các ngành nghề cần khuyến khích phát
triển như ngành công nghiệp cơ khí, công nghệ cao, chế biến nông sản hay thu
hút đầu tư vào những vùng có khó khăn để đảm bảo sự phát triển đồng đều, tạo
sự công bằng giữa các vùng trong quốc gia đối với các thành quả của tăng
trưởng kinh tế. Các ưu đãi đó thường được áp dụng dưới hình thức ưu đãi thuế
TNDN hay một số loại thuế khác trong một thời hạn nhất định sau đầu tư, hay áp
dụng thuế suất khác nhau tuỳ theo vùng hoặc ngành nghề.
Khu vực DN vừa và nhỏ có vai trò hết sức quan trọng ở cả những nước
phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển do khu vực này đảm bảo công
ăn việc làm cho một tỷ lệ lớn lực lượng lao động, mặt khác xuất phát từ bản chất
linh hoạt vốn có, khu vực DN vừa và nhỏ có thế mạnh là đổi mới kỹ thuật công
nghệ nhanh, đóng vai trò vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, tạo nên một mạng
lưới sản xuất vững chắc, ổn định trong nền kinh tế. Để phát triển khu vực DN
vừa và nhỏ, chính sách thuế có vai trò hết sức quan trọng, vừa có tính chất bà đỡ
vừa mang vai trò hướng dẫn cho sự phát triển của các DN này. Hạn chế của các
DN vừa và nhỏ là hạn chế về quy mô vốn, khó tiếp cận nguồn tín dụng, qui mô
nhỏ lẻ. Do đó, chính sách thuế với những ưu đãi, miễn, giảm thoả đáng (như
miễn thuế cho các cơ sở đào tạo nghề cho người lao động, nghiên cứu áp dụng
thuế suất ưu đãi cho các DN vừa và nhỏ, đặc biệt là các DN ở vùng có khó khăn,
sử dụng nhiều lao động hoặc áp dụng các công nghệ mới, sản xuất ra các sản
phẩm có công nghệ cao, hay có tính xã hội lớn) có tác động rất lớn đối với việc
khuyến khích, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh của các DN này.

độ xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội. Sau khi thống nhất
đất nước, từ năm 1975 đến năm 1986, nền kinh tế cả nước được vận hành theo
cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Nhà nước thực hiện chế độ quản lý kinh tế toàn
diện đối với các xí nghiệp thông qua việc giao nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
bằng các chỉ tiêu Pháp lệnh. Các xí nghiệp quốc doanh trong giai đoạn này
không phải nộp thuế TNDN vì tất cả hàng hóa của các xí nghiệp quốc doanh sản
xuất ra được nộp cho Nhà nước và được phân phối lại, tập trung hoàn toàn cho
20

công cuộc kháng chiến cho nên nhu cầu để cho ra đời một bộ luật như luật thuế
TNDN là chưa có. Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách xóa bỏ cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chế quản lý mới, mở cửa nền kinh tế, nhà
nước kiểm soát nền kinh tế bằng luật pháp. Cùng với công cuộc cải cách thuế
bước I năm 1990, Luật Thuế Lợi Tức đã được Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 30 tháng 6 năm
1990 và có hiệu lực thi hành ngày 01/10/1990, theo đó tổ chức, cá nhân thuộc
các thành phần kinh tế có lợi tức từ các hoạt động sản xuất, xây dựng, vận tải,
thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ và hoạt động kinh doanh khác trên lãnh thổ
Việt Nam (gọi chung là cơ sở kinh doanh) đều phải nộp Thuế Lợi Tức theo quy
định của Luật này. Việc cho ra đời Luật Thuế Lợi Tức đã góp phần thúc đẩy sản
xuất phát triển và động viên một phần lợi tức của cơ sở kinh doanh cho ngân
sách Nhà nước, bảo đảm sự đóng góp công bằng, hợp lý giữa các thành phần
kinh tế, kết hợp hài hoà lợi ích của Nhà nước, tập thể và người lao động.
Tuy nhiên qua gần 8 năm thực hiện, luật thuế lợi tức dần dần bộc lộ nhiều
nhược điểm (như mức thuế suất quá cao, các quy định về chi phí hợp lý còn sơ
sài, chưa đầy đủ…) và không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong
giai đoạn mới: giai đoạn mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và
trên thế giới. Vì vậy, cần phải ban hành một luật thuế mới nhằm đảm bảo sự phù
hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới.


đãi thuế TNDN theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Điều đó tạo sự khó
khăn cho công tác quản lý thu thuế của cơ quan quản lý thuế đối với 2 đối tượng
nêu trên.
- DN chuyển quyền sử dụng đất phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất
(2% đối với đất ở nông thôn, 4% đối với đất ở đô thị). Tại thời điểm này, hoạt
động chuyển quyền sử dụng đất đặc biệt là các DN được giao đất phát sinh thu
nhập lớn, với quy định của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất như trên chưa
đảm bảo mức điều tiết hợp lý đối với thu nhập từ hoạt động này…

22

1.2.1.3. Giai đoạn năm 2003 - 2007 :
Đến năm 2003, Quốc hội ban hành Luật thuế TNDN mới số
09/2003/QH11 ngày 17/06/2003 và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2004. Mục
tiêu của lần sửa đổi này là: Thống nhất điều chỉnh giữa đầu tư nước ngoài và đầu
tư trong nước, tiếp tục ưu đãi theo hướng thuận lợi hơn trước nhằm tạo lập môi
trường đầu tư hấp dẫn hơn, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đảm
bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
- Qua tổng kết đánh giá 4 năm thực hiện Luật thuế số 09/2003 cho thấy:
nhìn chung, luật thuế đã đạt được mục tiêu đề ra, góp phần quan trọng cải thiện
môi trường đầu tư, góp phần đảm bảo nguồn thu quan trọng của NSNN cũng
như thức đẩy cải cách hành chính trong quản lý thuế và thực hiện ưu đãi đầu tư;
đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn này. Cụ thể:
+Thứ nhất, Luật thuế TNDN đã có tác động tích cực trong việc tạo môi
trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn và đảm bảo bình đẳng đối với mọi thành phần
kinh tế:
Luật Thuế TNDN đã bỏ thuế TNDN bổ sung đối với DN trong nước
và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, thực hiện một mức thuế suất thuế
TNDN 28% thống nhất đối với DN trong nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Việc giảm mức thuế suất thuế TNDN phổ thông từ 32% xuống 28% và bãi bỏ

Cùng với việc giảm thuế suất, các quy định về căn cứ tính thuế được
quy định rõ ràng, minh bạch hơn trước đã tạo điều kiện và khuyến khích các DN
tự giác hạch toán, kê khai đầy đủ rõ ràng.
Các quy định về xử phạt, cũng như các biện pháp chế tài đã từng bước
hoàn thiện, góp phần tạo điều kiện cho cơ quan thuế tăng cường kiểm tra giám
sát, cũng như chống thất thu cho NSNN.
+ Thứ ba, thúc đẩy cải cách hành chính trong quản lý thuế
Trước đây cơ quan thuế tính thuế, ra thông báo thuế cho DN để DN
thực hiện nộp thuế theo thông báo thuế. Nay chuyển đổi sang cơ chế DN tự khai,
tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Việc thực hiện cơ chế này đã
24

giảm bớt được thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho DN chủ động trong việc kê
khai, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Việc chuyển cơ chế này đã tạo điều kiện cho
cơ quan thuế tập trung nguồn lực phục vụ cho công tác tuyên truyền, hỗ trợ và
kiểm tra giám sát DN thực hiện tốt các quy định của pháp luật về thuế.
Giao quyền tự chủ cho DN trong việc tự xác định các điều kiện để
được hưởng ưu đãi thuế TNDN mà không cần cấp Giấy phép đầu tư, Giấy chứng
nhận ưu đãi đầu tư, xoá bỏ cơ chế “xin, cho” nên đã tạo một bước tiến lớn trong
cải cách quản lý hành chính về đầu tư và thuế theo hướng rõ ràng, minh bạch
giữa quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp với trách nhiệm của Nhà nước.
- Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc
tế (đặc biệt kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế
giới – WTO), Luật thuế TNDN đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế sau đây:
+ Thứ nhất, luật thuế TNDN năm 2003 quy định 14 khoản chi phí hợp lý
và 4 khoản chi phí không hợp lý, việc quy định cả các loại chi phí hợp lý và các
chi phí không hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế là cần thiết, phù hợp với
thực tiễn của nền kinh tế trong thời gian đầu được chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch
hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta đang trong
quá trình vận động và phát triển theo hướng kinh tế thị trường định hướng xã hội

Các quy định về ưu đãi thuế TNDN còn phức tạp, dàn trải, cần tiếp
tục được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của
đất nước trong tình hình mới cụ thể như sau:
 Phức tạp: Chính sách ưu đãi thuế TNDN hiện hành được quy định
nhiều hình thức, nhiều cấp độ, nhiều tiêu thức ưu đãi:
Về thuế suất ưu đãi: Có 03 mức thuế suất ưu đãi là 10%, 15% và 20%
áp dụng theo thời hạn tương ứng 15 năm, 12 năm và 10 năm; trường hợp thật
đặc biệt thì được áp dụng thuế suất 10% trong suốt thời gian hoạt động.
Về thời gian miễn thuế, giảm thuế: Có tới 5 mức miễn thuế, giảm
50% thuế TNDN tuỳ thuộc vào lĩnh vực, địa bàn đầu tư như: miễn 2 năm, giảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status