Bệnh ngoài da và phương pháp điều trị
bệnh ngoài da Chức năng Sinh Lý Của Da
1. Biểu bì
2. Chân bì
3. Lớp mỡ dướ da
4. Các tổ chức dưới da gồm
Những nguyên nhân gây Bệnh Ngoài Da Theo Đông Y
1. Phong
2. Thấp.
3.Nhiệt
4. Trùng
5. Độc
6. Huyết Ư
7. Huyết Hư Phong Táo
8. Can Thận Bất Túc
9. Quan hệ với kinh lạc
Triệu Chứng
1. Những triệu chứng thường gặp của Bệnh Ngoài Da
2. Tính Chất Của Bệnh Ngoài Da
Điều trị bệnh ngoài da
Bệnh ngoài da là những bệnh của da và các cơ quan trực thuộc da, là phần quan
trọng của bệnh ngoại khoa Đông y.
Những y văn ngày trước về Bệnh ngoài da đã để lại cho chúng ta những kinh
nghiệm quý báu về nguyên nhân bệnh lý, triệu chứng và điều trị Bệnh Ngoài Da
rất đáng được cho chúng ta quan tâm thừa kế nghiên cứu và phát huy.
Chức năng Sinh Lý Của Da
Da là lớp bọc ngoài cơ thể, diện tích ở người lớn khoảng 1,5 – 2 m2, chiều dày từ
thì tuyến hoạt động mạnh, đến lúc cao tuổi thì chức năng suy giảm.
Lông tóc: khắp da trên cơ thể (trừ một số vùng như long bàn tay, chân, môi,
quy đầu, bao hành, âm vật, mép nhỏ, mặt trong môi lớn…) đều có lông.
Lông được chia làm 3 loại: lông dài như tóc, râu cằm, râu mép, lông nách,
lông mu. Lông cứng như lông mày, lông mũi, lông mi. Lông to như lông ở
mặt, than mình, tay chân. Tốc độ mọc tóc nhanh chậm tùy theo trạng thái
sức khỏe, tinh thần, nội tiết, tình hình dinh dưỡng…
Tóc của chúng ta mỗi ngày dài them chứng 0,37mm. Đời sống của lông tóc
từ vài tháng đến 4 năm hoặc hơn. Bình thường ở người lớn mỗi ngày rụng
30 đến 100 sợi tóc.
Móng: móng được tạo ra do các tế bào đã sừng hóa chèn cái nọ lên cái kia
thành một bản sừng nằm trên mặt lung của đốt ngón tay và chân, đoạn cuối
phía sau và 2 bên móng có lớp da phủ. Mỗi ngày móng dài ra 0.1mm.
Ngoài ra, da còn có nhiều mạch máu, mạch bạch huyết, dây thần kinh và
cơ. Chức năng của da chủ yếu là: tham gia vào việc giữ sự cân bằng giữa
nội môi và môi trường sống, có vai trò bải vệ, điều tiết than nhiệt, nội tiết
và bài tiết, về cảm giác sờ mó, nóng lạnh và đau, hô hấp, chuyển hóa và
miễn dịch vv…
Những nguyên nhân gây Bệnh Ngoài Da Theo Đông Y
Những nguyên nhân gây Bệnh Ngoài Da thường gặp gồm có:
1. Phong: Theo Đông y, phong là nguyên nhân gây bệnh phổ biến nhất, nhiều
Bệnh Ngoài Da có liên quan mật thiết với phong tà. Phàm những người cơ thể yếu,
chức năng phòng vệ bên ngoài yếu, phong tà xâm nhập gây dinh vệ mất điều hòa,
khí huyết lưu thông trở ngại, da cơ mật sự dinh dưỡng sinh những nốt sẩn ngứa,
ban đỏ, da khô, mụn cóc. Phong tà gây Bệnh Ngoài Da có đặc điểm là phát bệnh
nhanh, di chuyển, mất đi nhanh, dễ lan tàn than, ngứa,…thường kết hợp với các tà
khí khác gây các chứng phong hàn, phong nhiệt, phong thấp…
2. Thấp: Có ngoại thấp và nội thấp, Bệnh Ngoài Da thường do ngoại thấp như
những người sống và làm việc nơi ẩm thấp, tỷ thấp cũng dễ sinh bệnh. Thấp là âm
kinh uất hỏa huyết ứ sinh mụn huyết, thận tinh bất túc, tóc không được nuôi dưỡng
nên dễ rụng. Trường hợp bệnh ngoài da kèm theo các triệu chứng như hoa mắt
chóng mặt, ù tai, má đỏ, lung gối đau mỏi, mất ngủ nhiều, mộng tinh, di tinh, mồ
hôi trộm, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Tê Sác là chứng can thận âm hư. Trường hợp sắc
mặt tái nhợt, chân tay lạnh, sợ lạnh, lung gối mỏi, chóng mặt, ù tai, liệt dương,
lưỡi bệu, có dấu răng, mạch Trầm Tê là chứng thận dương hư.
9. Quan hệ với Kinh Lạc: Bệnh Ngoài Da phát sinh ở phần trên cơ thể và đầu mặt,
là 3 kinh cùng mắc bệnh, phần lớn do phong nhiệt, phong thấp, bệnh phát ở phần
giữa cơ thể là kinh can đởm mắc bệnh, phần lớn do khí trệ, hỏa uất, thấp nhiệt;
bệnh phát ở phần dưới cơ thể là kinh thái âm mắc bệnh, phần lớn do thấp nhiệt,
hàn thấp. Nếu phát bệnh ở mũi, phần lớn có quan hệ với kinh phê, nếu phát sinh ở
mạn sườn, phần lớn có quan hệ với kinh can; bệnh phát ở vùng hội âm, có quan hệ
với 2 kinh can thận; nếu là phát ở mặt môi, phần lớn có quan hệ với tỳ.
Tóm lại, phát sinh Bệnh Ngoài Da không chỉ một nguyên nhân mà thường do 2
hoặc nhiều nguyên nhân kết hợp như phong hàn, phong thấp hoặc phong thấp
nhiệt hoặc tỷ hư sinh thấp, can đởm thập nhiệt. Đồng thời Bệnh Ngoài Da cũng
liên quan mật thiết với trạng thái tinh thần, chế độ ăn uống, nghề nghiệp, khí hậu
và tính lây truyền của độc tà (vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng,…) cho nên trong
chuẩn đoán và điều trị cần chú ý xem xét toàn diện.
Triệu Chứng
Da là một bộ phận của cơ thể, có quan hệ mật thiết với các tạng phủ, khí huyết,
cho nên biện chứng Bệnh Ngoài Da cũng phải có quan điểm chỉnh thể, phải coi
trong việc khám toàn thân mà không thể chỉ chú ý phần cục bộ.
1. Những triệu chứng thường gặp của Bệnh Ngoài Da:
+ Triệu chứng chủ Quan: Là những triệu chứng mà bệnh nhân tự cảm nhận gồm
có: Triệu chứng tại chỗ: thường có ngứa, đau nóng, tê và cảm giác kiến bò trong
đó ngứa là triệu chứng hay gặp nhất.
Do bệnh nhân cơ thể mỗi người mỗi khác, tính chất và mức độ nặng nhẹ của bệnh,
trạng thái tinh thần và sức khỏe mỗi người có khác nên biểu hiện của triệu chứng
cũng rất khác. Thí dụ: chứng herpes zoster ở người cao tuổi thì rất đau nhưng ở trẻ
+ Vẩy Da: do lớp sừng hoặc lớp nông của thượng bì bong ra nhiều. Vảy da có thể
mịn như phân, cám (bệnh ngoài da lang ben), thành từng mảng rộng (bệnh ngoài
da vẩy nến, đỏ da, dị ứng thuốc). Vảy da trong Bệnh Ngoài Da cấp tính là do hư
nhiệt chưa hết, trường hợp bệnh mạn tính là do huyết hư, phong táo, da thiếu dinh
dưỡng.
+ Vẩy tiết: do dịch thấm, máu hoặc mủ kết đọng và khô đi trên vùng da tổn thương
mà thành; nếu là vẩy mủ do nhiệt độc chưa hết, nếu là vẩy huyết do huyết nhiệt
(hay xuất huyệt), nếu là vảy dịch do thấp nhiệt.
+ Loát: do phân da đều trung bì hoặc hạ bì bị mất, tổn thương, thường do vết
nhiểm khuẩn da phát triển thành. Miệng, bờ thành, đáy chiều sâu khác nhau tùy
tổn thương lớn nhỏ, lúc khỏi thường để lại sẹo. Trên vết loét, nếu dịch tiết trong
thuộc về thấp, dịch vàng thuộc thấp nhiệt.
+ Trầy Xước: thành đường vết do xây xát, do ngứa gãi thì trên có lân máu, thường
do phong nhiệt hoặc huyết hư phong táo.
+ Nứt nẻ: thành đường thành vệt thường gặp ở ngón tay, gót chân, rớm dịch hoặc
rớm máu hoặc khô; thường do huyết hư phong táo.
+ Kết Tụ Sắc Tố: thường phát sinh vào thời kỳ cuối của Bệnh Ngoài Da mãn tính:
màu da thường biến thành màu nâu, nâu sạm hoặc nâu đen, thường do khí huyết
mất điều hòa hoặc thận hư.
+ Vết Hằn Cổ Trâu (Liken hóa): dạ dày cộm, sẫm màu, các làn da nổi rõ, giữa các
làn do có sần dẹt bóng như sần của bệnh liken, ngứa nhiều thường gặp ở những
Bệnh Ngoài Da ngứa mạn tính (Bệnh Ngoài Da chàm Eczema, viêm da thần kinh)
do gãi nhiều. Phần lớn thuộc chứng huyết hư phong táo.
+ Sẹo: do loét sâu khi lành hình thành của tổ chức liên kết mới sinh, không có tính
đàn hồi, có thể phân làm 2 loại: sẹo lồi tăng sinh, bề mặt đỏ, có loại sẹo lõm da
teo, mặt bóng, màu trắng. Tất cả các loại sẹo đều do khí huyết ngưng trệ.
2. Tính chất của Bệnh Ngoài da: Theo tính chất của Bệnh Ngoài Da, có thể phân
làm 2 loại:
+ Bệnh Ngoài Da Cấp Tính: phần lớn phát bệnh cấp, biểu hiện tổn thương ngoài
da thường là nóng đỏ, sân chân, mụn mủ, loét, chảy nước. Nguyên nhân phần lớn