PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG - Pdf 20

PHẦN I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHẢ
NĂNG CẠNH TRANH TRONG TIÊU
THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I. VAI TRÒ VÀ LOẠI HÌNH CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRỜNG.
1. Khái niệm cạnh tranh của Doanh nghiệp
Thuật ngữ “cạnh tranh” có nguồn gốc từ tiếng La tinh với nghĩa chủ yếu là sự đấu
tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tợng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá trị nhằm đặt
đợc những u thế, lợi thế mục tiêu xác định. Trong hình thái cạnh tranh thị trờng, quan hệ
ganh đua xảy ra giữa hai chủ thể cung (nhóm ngời bán) cũng nh chủ thể cầu (nhóm ngời
mua), cả hai nhóm này tiến tới cạnh tranh với nhau vì đợc liên kết với nhau bằng giá cả thị
trờng.
Động cơ của bất kỳ một cuộc cạnh tranh nào cũng là nhằm đạt đợc u thế, lợi ích hơn
về lợi nhuận, về thị trờng mục tiêu Marketing, về nguồn cung ứng, về kỹ thuật, về khách
hàng tiềm năng…Chính vì động cơ này các chủ thể kinh doanh căn cứ vào vị trí, thế lực
của mình để lựa chọn phơng cách, công cụ cạnh tranh thích hợp.
Sức cạnh tranh của doanh nghiệp là cờng dộ các yếu tố sản xuất trong tơng quan so
sánh của doanh nghiệp. Sức cạnh tranh không đồng nhất với quy mô của doanh nghiệp và
nó không đợc đo lờng bởi các yếu tố cạnh tranh kinh điển mà phải đặt nó trong mối quan
hệ với thị trờng cạnh tranh, môi trờng cạnh tranh, vì vậy ta có thể có khái niệm tổng quát:
“Sức cạnh tranh trong kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố để xác lập
vị thế so sánh tơng đối hiọc tuyệt đối và tốc độ tăng trởng và phát triển bền vững, ổn định
của doanh nghiệp trong mối quan hệ so sánh với tập các đối thủ cạnh tranh trong cùng một
môi trờng và thị trờng cạnh tranh xác định trong một khoảng thời gian hoặc một thời điểm
định gía xác định”
2. Vai trò của cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
2.1. Đối với doanh nghiệp.
- Cạnh tranh buộc các doanh nghiệpphải tối u hoá các yếu tố đầu vào của sản xuất
kinh doanh,phải triệt để không ngừng sáng tạo, tìm tòi.

Doanh nghiệp có thể xem một cách rộng hơn tất cả những doanh nghiệp cùng sản
xuất một loại hay một lớp sản phẩm đều là đối thủ cạnh tranh của mình.
* Cạnh tranh công dụng:
Doanh nghiệp có thể xem một cách rộng hơn nữa là tất cả những doanh nghiệp sản
xuất ra những sản phẩm thực hiện cùng một dịch vụ là đối tợng cạnh tranh của mình.
Để cụ thể hơn, ta có thể phân biệt thành năm kiểu cơ cấu ngành căn cứ vào số lợng
ngời bán và sản phẩm đồng nhất hay rất khác biệt nh sau:
+ Độc quyền hoàn toàn: Độc quyền hoành toàn tồn tại khi chỉ có một doanh nghiệp
duy nhất cung cấp một sản phẩm hay dịch vụ nhất định trong một nớc hay một khu vực
nhất định.
+ Nhóm độc quyền hoàn toàn: Gồm một vài doanh nghiệp sản xuất phần lớn một loại
sản phẩm (ví dụ: dầu mỏ, thép ).
+ Nhóm độc quyền có khác biệt: Gồm một vài doanh nghiẹp sản xuất ra những sản
phẩm có khác nhau một phần (ví dụ: ô tô, xe máy ).
+ Cạnh tranh độc quyền: Gồm nhiều đối thủ cạnh tranh có khả năng tạo ra những
điểm khác biệt cho toàn bộ hay một phần sản phẩm của mình (ví dụ: nhà hàng, khách
sạn ).
+ Cạnh tranh hoàn hảo: Gồm nhiều đối thủ cạnh tranh cùng cung ứng một loại sản
phẩm và dịch vụ (ví dụ: thị trờng chứng khoán, thị trờng hàng hoá ).
4. Mối quan hệ giữa cạnh tranh và hợp tác:
Trong cơ chế thị trờng, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững thì
không thể duy trì một biện pháp cạnh tranh cứng nhắc. Những mối quan hệ tốt chính là
những tài sản quý giá của doanh nghiệp. Do sự biến đổi không ngừng của môi trờng kinh
doanh, các doanh nghiệp luôn phải có sự điều chỉnh thích hợp với những biến động đó để
có thể hạn chế tối thiểu những điểm yếu, phát huy tối đa những mặt mạnh của mình để chủ
động trong kinh doanh, khai thác tốt những cơ hội trên thị trờng.
Sự mềm dẻo, linh hoạt trong việc đề ra các chính sách kinh doanh là một tố chất
không thể thiếu đợc đối với những nhà quản lý giỏi. Có thể ở một thời điểm nào đó, các
doanh nghiệp cạnh tranh với một cờng độ rất gay gắt, đôi khi là một mất, một còn nhng ở
một thời điểm khác, do những biến động nào đó của môi trờng kinh doanh, các doanh

Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng, thị trờng ngày càng
đòi hỏi phải có nhiều loại sản phẩm có chất lợng cao, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng. Doanh
nghiệp cần phải thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao chất lợng sản phẩm để nâng cao
khả năng cạnh tranh.
Để nâng cao chất lợng sản phẩm, trong quá trình sản xuất kinh doanh, cán bộ quản lý
chất lợng phải chú ý ở tất cả các khâu trên, đồng thời phải có chế độ kiểm tra chất lợng sản
phẩm ở tất cả các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh do các nhân viên kiểm tra chất
lợng thực hiện. Phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các bộ phận Marketing với bộ phận
nghiên cứu, thiết kế sản phẩm
3. Cạnh tranh bằng giá cả.
3.1. Cạnh tranh bằng chính sách định giá.
a/ Chính sách định giá cao:
Thực chất là đa giá bán sản phẩm cao hơn giá bán trên thị trờng và cao hơn giá trị.
Chính sách này thờng đợc áp dụng cho các doanh nghiệp có sản phẩm hay dịch vụ độc
quyền, không bị cạnh tranh hoặc đợc áp dụng cho các loại hàng hoá xa sỉ, sang trọng phục
vụ cho đoạn thị trờng có mức thu nhập cao. Các doanh nghiệp sản xuất có các loại sản
phẩm có chất lợng cao vợt trội so với các đối thủ khác cũng có thể áp dụng chính sách
định giá cao.
b/ Chính sách định giá ngang với giá cả trên thị trờng.
Định ra mức giá bán sản phẩm xoay quanh mức giá cả trên thị trờng.
Đây là cách đánh giá khá phổ biến, các doanh nghiệp có thể tổ chức tốt các hoạt động
chiêu thị và các hoạt động bán hàng để tăng khối lợng hàng hoá tiêu thụ nhằm nâng cao lợi
nhuận.
c/ Chính sách định giá thấp.
Là định ra mức giá bán sản phẩm thấp hơn giá thị trờng để thu hút khách hàng về
phía mình nhằm tăng khối lợng hàng hoá tiêu thụ.
Các doanh nghiệp có thể áp dụng chính sách định giá thấp khi muốn đa sản phẩm
mới thâm nhập nhanh vào thị trờng hoặc các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh
cũng có thể áp dụng chính sách định giá thấp để có thể đánh bại đối thủ hay đuổi các đối
thủ mới ra khỏi thị trờng.

4.1. Lựa chọn hệ thống kênh phân phối:
- Trớc hết để tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp phái nghiên cứu thị trờng, lựa chọn thị
trờng và lựa chọn kênh phân phối để sản phẩm sản xuất ra đợc tiêu thụ nhanh chóng, hợp
lý và đạt hiệu quả cao. Thông thờng có 4 kênh phân phối sau:
Sơ đồ số 1: Các loại kênh phân phối
Kiểu 1:
Kiểu 2:
Kiểu 3:
Kiểu 4:
Việc lựa chọn kênh phân phối phải dựa trên đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cũng nh đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của sản phẩm cần tiêu thụ, đồng thời cũng phải
dựa trên đặc điểm của thị trờng cần tiêu thụ, đặc điểm về khoảng cách giữa doanh nghiệp
đến thị trờng. Từ những đặc điểm trên, doanh nghiệp sẽ lựa chọn cho mình một hệ thống
kênh phân phối hợp lý, hiệu quả.
4.2. Một số biện pháp yểm trợ bán hàng:
a/ Chính sách quảng cáo:
Muốn thực hiện đợc nhiệm vụ quảng cáo đó thì quảng cáo phải thoả mãn đợc những
yêu cầu sau:
- Quảng cáo phải có tính tập trung cao
- Quảng cáo phải có tính trung thực
- Quảng cáo phải có tính hấp dẫn
- Quảng cáo phải có tính hiệu quả
Để quảng cáo cho một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó của doanh nghiệp có thể sử
dụng nhiều loại phơng tiện khác nhau. Vì mỗi phơng tiện quảng cáo khác nhau có ảnh
hởng khác nhau đến ngời nhận thông tin quảng cáo nên doanh nghiệp phải lựa chọn và kết
hợp có lợi nhất các phơng tiện quảng cáo phù hợp.
b/ Một số chính sách phục vụ khách hàng:
* Chính sách thanh toán:
- Chính sách thanh toán là một công cụ nhằm hấp dẫn khách hàng về phía doanh
nghiệp. Trong trờng hợp 2 doanh nghiệp cùng bán một loại sản phẩm theo cùng một giá

nhà nớc đảm bảo mọi khâu, mọi mặt trong quá trình sản xuất kinh doanh. Ngày nay nền
kinh tế Nhà nớc ta vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc theo
định hớng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, nó hoạt động theo quy luật khách quan vốn có của nó
đó là quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh.
Quy luật cạnh tranh thể hiện rất rõ trong nền kinh tế thị trờng. Có kinh tế thị trờng thì
tất yếu có cạnh tranh. Cơ sở của cạnh tranh là chế độ sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất.
Nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế nhiều thành phần với sự tham gia của nhiều loại
hình doanh nghiệp là một tất yếu khách quan. Thêm vào đó với chính sách mở cửa của nền
kinh tế, ngày càng có nhiều doanh nghiệp nớc ngoài tham gia vào lĩnh vực kinh doanh trên
thị trờng Việt Nam thì tình hình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng quyết liệt
hơn.
Thực tế cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam tỏ ra rất yếu trong cạnh tranh so với các
doanh nghiệp nớc ngoài. Bởi nớc ta mới chuyển đổi nền kinh tế dó đó các doanh nghiệp
Việt Nam cha quen với cạnh tranh. Vì vậy mà hàng hoá nớc ngoài cạnh tranh gay gắt,
chèn ép sản phẩm trong nớc.
Hơn nữa, các hình thức trong kinh doanh, cách làm ăn của các doanh nghiệp trong
nớc thờng mang tính chụp giật, cạnh tranh không lành mạnh và rất ít doanh nghiệp áp
dụng chiến lợc kinh doanh.
Vậy, có thể nói nâng cao khả năng cạnh tranh là một tất yếu khách quan của các
doanh nghiệp làm thay đổi mối tơng quan thế và lực của doanh nghiệp trên thị trờng về
mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh.
PHẦN II
THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
CỦA CÔNG TY KHOÁ MINH KHAI
I. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY
KHOÁ MINH KHAI.
1. Quá trình hình thành và phát triển.
1.1. Quá trình hình thành.
Công ty khoá Minh Khai trớc đây là nhà máy khoá Minh Khai, đợc thành lập từ năm
1972 theo quyết định số 561/BKT của Bộ Trởng Bộ Kiến Trúc (nay là Bộ xây dựng) với

trờng, bớc đầu có nhiều khó khăn, nhất là đối với ngành cơ khí. Nhng nhà máy đã đa ra
mục tiêu: giữ vững đợc sản xuất và tiêu thụ, không để công nhân nghỉ vì thiếu việc làm,
hàng hoá sản xuất phải tiêu thụ hết và đảm bảo đời sống công nhân viên. Rút lại một phần
lớn lao động dôi d không có trình độ tay nghề, sức khoẻ và chuyển sang công tác khác cho
phù hợp, đồng thời gửi cán bộ, công nhân đi lao động, học tập ở nớc ngoài, một phần cho
nghỉ hu, về mất sức.
- Giai đoạn từ 1992-> nay: giai đoạn này Công ty đã chuyển hoá mạnh vào nền kinh
tế thị trờng. Công ty đã tiến hành sắp xếp lại sản xuất theo Nghị định số 388/HĐBT. Công
ty đã chú trọng nhiều vào việc sản xuất, đa dạng hoá các loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu
phát triển nền kinh tế của đất nớc. Việc quan tâm tới chất lợng, kỹ thuật, mỹ thuật của sản
phẩm đợc đa lên hàng đầu. Thời kỳ này bên cạnh việc sản xuất những mặt hàng truyền
thống, Công ty đã tung ra thị trờng nhiều sản phẩm mới với mẫu mã phong phú và cải tiến
tiện lợi hơn.
Ngày 5/5/1983 Bộ trởng Bộ xây dựng đã ký quyết địng số 163A/BXD-TCLĐ thành
lập lại doanh nghiệp Nhà nớc với tên gọi nhà máy khoá Minh Khai trực thuộc liên hiệp các
xí nghiệp cơ khí xây dựng-Bộ xây dựng. Ngày 7/3/1994 Thủ tớng chính phủ ra quyết định
số 90 TTg về việc tiếp tục sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nớc, liên hiệp các xí nghiệp xây
dựng đợc gọi là Công ty cơ khí xây dựng và nhà máy Khoá Minh khai đợc đổi tên thành
Công ty khoá Minh Khai.
Trải qua quá trình xây dựng và trởng thành, Công ty khoá Minh Khai đã không
ngững phấn đấu về mọi mặt. Công ty đã thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, tự cân đối về
tài chính, coi trọng hiệu quả kinh tế đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp ngân sách
Nhà nớc, đời sống của cán bộ công nhân viên đợc nâng cao. Mặt khác, Công ty không
ngừng cải tiến, mua sắm máy móc thiết bị, nâng cao chất lợng sản phẩm và nắm bắt kịp
thời thị hiếu ngời tiêu dùng để tung ra thị trờng những sản phẩm chất lợng cao, phù hợp
với ngời tiêu dùng nhất.
Hiện nay, sản phẩm của Công ty đủ sức mạnh cạnh tranh và tiêu thụ tốt trên thị trờng.
Năm 1994, Công ty đã có 4 sản phẩm đạt huy chơng Vàng tại hội chợ Quốc tế Hàng công
nghiệp Việt Nam. Đó là khoá MK10, khoá treo MK10N, bản lề 100 và cremon MK 23A.
2. Bộ máy tổ chức và lao động.

phòng kỹ thuật đề ra.
- Bộ phận cung tiêu:
Cùng phòng kế hoạch xây dựng các phơng án đảm bảo cung ứng đầy đủ và kịp thời
các thông tin cần thiết để cân đối giữa vật t, lao động và máy móc thiết bị, đồng thời kết
hợp với phòng kế hoạch để có phơng án tiêu thụ sản phẩm hợp lý với tình hình sản xuất
kinh doanh của Công ty
- Bộ phận tài vụ:
Giúp Giám đốc về quản lý tài chính, kế toàn thống kê thực hiện hạch toán sản xuất
kinh doanh, thanh quyết toán với khách hàng và Nhà nớc. Ngoài ra còn làm nhiệm vụ tính
bảo hiểm và thuế.
- Bộ phận tổ chức, lao động tiền lơng.
Tham mu cho Giám đốc về việc sắp xếp, bố trí lao động trong Công ty về số lợng,
trình độ nghiệp vụ, tay nghề từng phòng ban, phân xởng. Kiểm tra định mức đơn giá và
giải quyết các chế độ chính sách cho ngời lao động.
- Bộ phận hành chính:
Giải quyết các hoạt động hỗ trợ cho quá trình sản xuất kinh doanh toàn Công ty về
mặt hành chính.
- Bộ phận cơ khí:
Có nhiệm vụ tạo phôi ban đầu nh: dập đinh ra các khuôn mẫu (phôi, ke, khoá) hay
đúc tay nằm nhón đồng thoi để tiện lõi khoá. Nếu bộ phận giản đơn thì bộ phận có thể
hoàn chỉnh nh bản lề, chốt cửa. Ngoài ra, phân xởng cơ khí còn làm theo đơn đặt hàng nh:
giàn giáo, cửa xếp, cửa hoa. Với số công nhân không lớn trong phân xởng nhng đây là đơn
vị mạnh nhất tạo ra giá trị sản lợng lớn nhất trong Công ty.
- Bộ phận cơ điện:
Chịu trách nhiệm sửa chữa thờng xuyên, trùng tu máy móc, thiết bị trong Công ty cả
phần cơ và phần điện. Phân xởng này đảm bảo cho các phân xởng khác làm việc liên tục
không bị gián đoạn bởi máy móc, thiết bi hay đờng điện. Phân xởng còn chịu trách nhiệm
chế tạo khuôn mẫu ke, bản lề khoá. Đây là nhiệm vụ khá quan trọng và phức tạp đòi hỏi
độ chính xác để đảm bảo khi đúc chi tiết khoá có thể khớp nhau đợc.
- Bộ phận lắp ráp:

- Số lao động nam Ngời 180
I. Số lao động có trình độ
Chuyên môn kỹ thuật
+ Có trình độ từ đại học, cao đẳng trở lên
- Lao động nam 41 12,06
- Lao động nữ 15 4,41
+ Có trình độ trung học chuyên nghiệp 27 7,94
- Lao động nam 17 5,24
- Lao động nữ 10 2,7
+ Công nhân kỹ thuật 272 80
- Lao động nam 146 42,94
- Lao động nữ 126 37,06
II. Lao động trực tiếp
1. Trình độ
- Bậc nghề 1/7 48 14,12
- Bậc nghề 2/7 67 19,70
- Bậc nghề 3/7 47 13,82
- Bậc nghề 4/7 37 10,88
- Bậc nghề 5/7 55 16,18
- Bậc nghề 6/7 14 4,12
- Bậc nghề 7/7 4 1,18
2. Số lao động trong các ngành nghề
+ Công nhân xây dựng 6 1,76
- Lao động nữ 3 0,88
- Lao động nam 3 0,88
+ Công nhân lắp máy 0
+ Công nhân cơ khí 261 76,76
- Lao động nữ 135 39,7
- Lao động nam 126 37,06
+ Công nhân kỹ thuật khác 0

đợc nhập từ nhiều nớc nh Liên Xô cũ, Tiệp Khắc, Ba Lan, Trung Quốc. Các loại máy móc
của Công ty tơng đối lạc hậu, đã trải qua thời gian sử dụng tơng đối dài, có thiết bị đã bị
khấu hao hết từ lâu nhng vẫn còn đợc sử dụng do đó đã gây ô nhiễm môi trờng xung
quanh và làm ảnh hởng tới sức khoẻ của công nhân.
Việc nâng cao chất lợng sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào đổi mới trang thiết bị máy
móc. Qua bảng kê máy móc thiết bị dới đây, chúng ta sẽ hiểu kỹ hơn về tình hình máy
móc thiết bị của Công ty khoá Minh Khai.
Biểu số 2: Biểu kê các máy móc, thiết bị của Công ty
(Nguồn: Phòng kế hoạch năm 2000)
Stt Tên máy móc thiết bị
Nớc sản
xuất
Công
suất thiết
kế
Năm
sử
dụng
Tình trạng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11

Liên Xô
Hungary
Ba Lan
Trung
Quốc
2,5 KW
1,5 KW
0,3 KW
4,67 KW
3 KW
3 KW
1000 lít
1,5 KW
0,2 KW
0,4 KW
1993
1996
1995
1974
1990
1996
1994
1987
1990
1995
1996
1995
1974
1988
Đang sử

tiện.
Phôi tiện, chi tiết bán thành phẩm gia công thuê ngoài đợc nhập vào kho vật t, từ kho
vật t xuất phôi tiện, các chi tiết bán thành phẩm xuống phân xởng cơ khí, sau khi gia công
xong đợc nhập vào kho thành phẩm nếu sản phẩm đó xuất bán. Cũng ở công đoạn này, sản
phẩm nào bị hỏng thì đợc nhập lại kho vật t. Từ kho bán thành phẩm đợc xuất xuống phân
xởng mạ, phân xởng lắp ráp. Số sản phẩm ở phân xởng mạ đợc nhập vào kho chi tiết hoàn
chỉnh và từ kho chi tiết hoàn chỉnh xuống phân xởng lắp ráp hoàn chỉnh rồi đợc nhập vào
kho thành phẩm xuất bán.
Quy trình công nghệ sản xuất khoá của Công ty đợc tóm tắt theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất khoá của Công ty khoá Minh Khai
4. Về nguyên vật liệu chính mà Công ty đã và đang sử dụng.
Trong thời kỳ bao cấp, Công ty đợc cung cấp nguyên vật liệu theo chỉ tiêu, sản xuất
sản phẩm ra đợc phân bố tiêu thụ theo kế hoạch Nhà nớc. Do vậy mà nguyên liệu sản xuất
của Công ty không đồng bộ, không liên tục và không hợp lý, chẳng hạn có lúc nguyên liệu
có trong kho rất nhiều, có lúc lại không đủ để sản xuất Sản phẩm của Công ty trong thời
kỳ này cha có đối thủ cạnh tranh, hơn nữa đợc Nhà nớc giao kế hoạch tiêu thụ nên mặc dù
sản phẩm kém chất lợng vẫn tiêu thụ đợc. Do vậy, Công ty cha chú trọng đến công tác
chất lợng. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng, tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh đều
phải tự tìm thị trờng đầu vào và thị trờng đầu ra cho mình, tự hạch toán kinh doanh do vậy
việc tìm mua và theo dõi chất lợng nguyên vật liệu đầu vào đợc chú trọng và nó trở thành
mắt xích đầu tiên để đảm bảo cho chất lợng sản phẩm sản xuất ra là tốt. Đối với Công ty
khoá Minh Khai phần lớn nguyên vật liệu là mua ngoài hoặc thuê bên ngoài gia công do
đó việc kiểm tra chất lợng nguyên vật liệu cũng gặp không ít khó khăn trong khâu kiểm tra
vật liệu tróc khi nhập kho.
Để đảm bảo chất lợng sản phẩm theo tiêu chuẩn quy định cho mỗi loại sản phẩm
riêng và công nghệ sản xuất lại có yêu cầu khác nhau về nguyên liệu mặc dù cùng sử dụng
một loại nguyên liệu. Cùng làm khoá nhng thép để làm khoá MK 10 đòi hỏi phải có hàm
lợng sắt pha tạp ít nhng thép để làm khoá MK10a lại cần có hàm lợng sắt pha tạp cao hơn.
Từ tình hình trên ta thấy nguyên vật liệu ảnh hởng rất lớn đến việc bảo đảm và nâng cao
chất lợng sản phẩm.

trong 3 năm gần đây:
(Nguồn: Phòng kinh doanh)
Stt Tên sản phẩm đơn vị Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
Khoá MK 10
Khoá MK 10a
Khoá MK 10C
Khoá MK 10E gang
Khoá dây xe đạp
Ke đen 120
Ke mạ 120
Ke đen 160
Ke mạ 160
Ke inox 120
Bản lề cối 160
Bản lề mạ 160

13 500
10 000
4 500
75 000
25 000
14 500
65 000
7 500
16 000
16 000
16 000
13 500
6 000
53 000
53 000
15 000
10 000
7 000
55 000
20 000
20 000
47 000
8 200
20 000
20 000
20 000
18 000
6 500
55 000
55 000

trong thời gian này có nhận thêm lao động vào làm việc, do máy móc thiết bị của Công ty
mới đợc thay thế để đa vào sản xuất và trong thời gian này Công ty đợc bộ xây dựng giao
kế hoạch phải phát triển Công ty theo chiều rộng. Tuy sản lợng có tăng lên nhng doanh thu
trong 2 năm vẫn không đạt đợc yêu cầu mà Công ty đề ra. Những năm 1999 và năm 2000
giá trị tổng sản lợng giảm so với kế hoạch đề ra, cụ thể năm 1999 chỉ đạt có 99,7% so với
kế hoạch, năm 2000 đạt 92,7%. Nguyên nhân dẫn đến việc không hoàn thành kế hoạch là
do yêu cầu kế hoạch trong hai năm tăng lên. Do các sản phẩm tồn kho của các năm trớc
nhiều. Nhng năm 2001 giá trị tổng sản lợng tăng lên so với kế hoạch đề ra, đây mà năm
mà Công ty làm ăn phát đạt. Doanh thu của Công ty vợt mức kế hoạch 12%. Đạt đợc kết
quả trên là do Công ty đã điều chỉnh lại kế hoạch sản xuất, đây là một biểu hiện tốt mà
Công ty cần phát huy.

Trích đoạn CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LỢNG. TĂNG CỜNG HOẠT ĐỘNG MARKETING VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KÊNH TIÊU THỤSẢN PHẨM. HOÀN THIỆN TỔ CHỨC HỆ THỐNG BÁN HÀNG Vai trò và loại hình Cạnh tranh của Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status