nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá thát lát - notopterus notopterus (pallas, 1769) ở hồ phú ninh, tỉnh quảng nam - Pdf 20


i LỜI CAM ĐOAN Xin cam đoan rằng: Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử
dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào. Tác giả

Văn Thị Thanh Huyền

iii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

L
TB
: Chiều dài trung bình
L

: Chiều dài dao động
W
TB
: Khối lượng trung bình
W

: Khối lượng dao động
TSD: Tuyến sinh dục
N : Tổng số mẫu nghiên cứu
Juv. (Juvena): Chưa xác định giới tính
NXB: Nhà xuất bản


1.4.4. Điều kiện kinh tế, xã hội 11
CHƯƠNG II. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 13
2.1. Đối tượng nghiên cứu 13
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 13
2.3. Sơ đồ khối thực hiện 13
2.4. Tìm hiểu hiện trạng về điều kiện sinh thái hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam 13
2.5. Phương pháp thu mẫu 14
2.6. Phương pháp nghiên cứu 14
2.6.1. Các chỉ tiêu về hình thái, phân loại cá Thát lát 14
2.6.2. Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng của cá 14
2.6.3. Nghiên cứu về dinh dưỡng của cá 15
2.6.4. Nghiên cứu sinh sản của cá 16
2.6.5. Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ nguồn lợi đối tượng cá Thát lát 17
2.7. Phương pháp xử lý số liệu 17
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 18

v

3.1. Đặc điểm hình thái phân loại của cá Thát lát 18
3.1.1. Đặc điểm hình thái 18
3.1.2. Đặc điểm phân loại của cá Thát lát 19
3.2. Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá 20
3.3. Cấu trúc tuổi của quần thể cá Thát lát 22
3.4. Đặc tính dinh dưỡng của cá Thát lát 23
3.4.1. Thành phần thức ăn của cá Thát lát 23
3.4.2. Cường độ bắt mồi của cá Thát lát 26
3.4.3. Độ mỡ của cá Thát lát 27
3.4.4. Hệ số béo của cá Thát lát 29
3.5. Đặc điểm về sinh sản của cá Thát lát 30

Bảng 3.7. Hệ số béo của cá Thát lát tính theo công thức Fulton và Clark 29
Bảng 3.8. Tỷ lệ đực cái chia theo nhóm tuổi của cá Thát lát 39
Bảng 3.9. Các giai đoạn chín muồi sinh dục của cá Thát lát 41
Bảng 3.10. Kích thước và khối lượng thành thục của cá Thát lát 42
Bảng 3.11. Kết quả đo đường kính trứng cá Thát lát ở giai đoạn IV 43
Bảng 3.12. Sức sinh sản của cá Thát lát 43
Bảng 3.13. Hệ số thành thục của cá Thát lát qua các tháng 44

vii

DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Hình thái ngoài của cá Thát lát 18
Hình 3.2. Đồ thị sự tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá Thát lát 21
Hình 3.3. Biểu đồ cấu trúc tuổi (%) của cá Thát lát 22
Hình 3.4. Biểu đồ tỷ lệ (%) thành phần thức ăn của cá Thát lát 25
Hình 3.5. Biểu đồ độ no của cá Thát lát chia theo nhóm tuổi 26
Hình 3.6. Biểu đồ mức độ tích lũy mỡ của cá Thát lát chia theo tháng 28
Hình 3.7. Cá Thát lát cái ở giai đoạn thành thục sinh dục 30

đó, khí hậu mát mẻ, động thực vật phong phú tạo điều kiện thích hợp cho sự phát
triển của các loài thủy sản nước ngọt, trong đó có cá Thát lát - Notopterus
notopterus (Pallas, 1769) [28]. Cá Thát lát có thịt thơm ngon, lại có độ dẻo, là
nguyên liệu chế biến được nhiều món ăn cao cấp mà người tiêu dùng rất ưa chuộng.
Hiện nay việc khai thác cá Thát lát quá mức bằng nhiều hình thức khác nhau,
với mục đích thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Chính vì vậy mà nguồn lợi cá ngoài
tự nhiên suy giảm đi đáng kể.
Để góp phần bảo tồn và phát triển nguồn lợi cá Thát lát, một trong những
vấn đề quan trọng là phải chủ động nguồn giống, hướng được sự sinh sản tự nhiên
của cá vào sinh sản nhân tạo. Muốn vậy, phải hiểu biết về đặc điểm sinh học của cá.
Đây là những dẫn liệu cơ bản để làm cơ sở cho việc sinh sản nhân tạo, đồng thời đề
xuất những giải pháp bảo vệ, duy trì và phát triển nguồn lợi cá. Hiện nay các công
trình nghiên cứu về cá ở hồ Phú Ninh chủ yếu tập trung về đa dạng sinh học, các
công trình nghiên cứu đến đặc điểm sinh học của cá chưa nhiều. Từ những vấn đề
nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Thát lát -
Notopterus notopterus (Pallas, 1769) ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam”
Với đề tài này, chúng tôi mong muốn đóng góp những dẫn liệu cơ bản về
hình thái, đặc điểm sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản của cá Thát lát, đồng thời đề
xuất giải pháp bảo tồn, khai thác hợp lý để phát triển bền vững nguồn lợi cá tại hồ
Phú Ninh Mặc dù đề tài thực hiện dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của Thầy
giáo hướng dẫn, quý thầy, cô giáo giảng dạy chuyên môn, bạn bè đồng nghiệp, song
với thời gian và điều kiện nghiên cứu hạn chế nên khó tránh khỏi những thiếu sót
nhất định. Chúng tôi mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của quý thầy,
cô và bạn bè đồng nghiệp. 2

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN


năm tiếp theo có nhiều công bố về thành phần các loài cá ở những thủy vực khác
nhau hoặc mô tả loài mới của nhiều tác giả như H.E. Sauvage (1884) thu được 100
loài cá ở Hà Nội, trong đó có 7 loài mới; L. Vaillant (1891 – 1904) thu thập 6 loài,
mô tả 4 loài mới ở Lai Châu (1891) và 5 loài, có 1 loài mới ở sông Kỳ Cùng (1904);
J. Pellegrin (1906, 1907, 1923, 1928) và đoàn Thường trực Khoa học Đông Dương
phân tích mẫu thu thập ở Hà Nội và vùng phụ cận đã công bố danh mục cá gồm 29
loài, mô tả 2 loài mới (1907) và 33 loài mới (1934).
Ngoài ra còn có nhiều tác giả
như: P.Chevey và J
. Pellegrin (1934, 1936, 1938, 1941), cũng nghiên cứu về cá
Việt Nam. Năm 1937, một công trình nghiên cứu tổng hợp về cá nước ngọt miền
Bắc Việt Nam của P. Chevey và J
.
Lemasson: “Góp phần nghiên cứu về các loài cá
nuớc ngọt miền Bắc Việt Nam” được công bố. Công trình này giới thiệu 98 loài cá
nước ngọt miền Bắc Việt Nam thuộc 17 họ và được xem là công trình tổng hợp đầy
đủ nhất bấy giờ [4], [47].
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), công tác
nghiên cứu bị gián đoạn. Khi hoà bình lập lại, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng,
công tác nghiên cứu được tiếp tục do chính các nhà khoa học Việt Nam tiến hành.
Vào thời điểm này, công tác điều tra cơ bản sinh vật nước ngọt nội địa nói chung, cá
nói riêng ở miền Bắc Việt Nam do các cơ quan: Trạm Nghiên cứu Thuỷ sản nước
ngọt Đình Bảng thuộc Tổng cục Thuỷ sản, khoa Sinh vật trường Đại học Tổng hợp
Hà Nội và khoa Nuôi trồng Thủy sản trường Đại học Nha Trang thực hiện. Các cơ
quan nghiên cứu này đã tiến hành điều tra ở hầu hết nguồn lợi cá các vùng sinh thái
Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc miền Trung, ở các loại hình thuỷ vực khác nhau như
sông, suối, hồ chứa, đầm, ao, ruộng. Tuy nhiên đối với mỗi loại hình thuỷ vực riêng
biệt, công tác điều tra được tiến hành ở mức độ khác nhau. Trong 30 sông, suối và
khoảng 25 hồ, đầm, hồ chứa, đập nước đã được điều tra thì các thuỷ vực sau đây
được điều tra kỹ hơn: sông Đà, sông Hồng, sông Chảy, sông Lô, sông Gấm, sông

[4], [12]
Thời kỳ từ 1975 đến nay, công tác điều tra nghiên cứu được tiến hành trong
phạm vi cả nước do Viện NCNTTS I Bắc Ninh, Viện NCNTTS II thành phố Hồ Chí
Minh, Viện NCNTTS III Nha Trang thuộc Bộ Thuỷ sản tổ chức thực hiện. Ngoài ra
còn có sự tham gia của các nhà khoa học thuộc các trường đại học như: Đại học
Nha Trang, Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh,

5

Đại học Cần Thơ, Trường Đại học sư phạm I Hà Nội, Đại học Tổng hợp Huế, Đại
học sư phạm Vinh Nghệ An
Các công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các tỉnh phía Nam, các kết
quả tiêu biểu gồm: Nguyễn Hữu Dực (1982): Thành phần loài cá sông Hương, đã
thống kê 58 loài; Nguyễn Thái Tự (1983): Khu hệ cá sông Lam; Mai Đình Yên,
Nguyễn Hữu Dực (1991): Thành phần loài cá sông Thu Bồn (85 loài), sông Trà
Khúc (47 loài), sông Vệ (34 loài), sông Côn (43 loài), sông Ba (48 loài), sông Cái
(25 loài); Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến,
Hứa Bạch Loan (1992): Thành phần loài cá sông: sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm
Cỏ, sông Sài Gòn và sông Đồng Nai (255 loài) [4], [9], [12], [47].
Hai công trình mang tính tổng hợp những kết quả nghiên cứu của các thời kỳ
trước được công bố là: “Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam” của
Mai Đình Yên (1978) đã lập danh mục, mô tả chi tiết, lập khóa định loại, đặc điểm
phân bố và ý nghĩa kinh tế của 201 loài cá nước ngọt ở miền Bắc nước ta và “Định
loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ” do Mai Đình Yên cùng các cộng sự Nguyễn
Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến và Hứa Bạch Loan (1992) gồm 255
loài cá ở Nam Bộ Việt Nam [47].
Những kết quả đã nghiên cứu về đặc tính sinh học của cá phải kể đến các
công trình của các tác giả: Võ Văn Phú và Đặng Thị Diệu Tâm (1978): Đặc tính
sinh học của một số loài cá có giá trị kinh tế ở đầm phá Thừa Thiên Huế [19];
Nguyễn Duy Hoan (1979): Đặc điểm sinh học của cá Quả (Ophiocephalus striatus);

loài, Nam Trung bộ 120 loài và Nam bộ 306 loài. Cá kinh tế có 97 loài, trong đó
Bắc bộ 52 loài, Bắc Trung bộ 28 loài, Nam Trung bộ 20 loài và Nam bộ 44 loài [4].
Các công trình tổng hợp những kết quả nghiên cứu của các thời kỳ trước được công
bố là:
“Định loại cá nước ngọt phía Bắc Việt Nam” của Mai Đình Yên (1978) đã
lập danh mục, mô tả chi tiết, lập khoá định loại, đặc điểm phân bố và ý nghĩa kinh
tế của 201 loài cá ở miền Bắc nước ta [47].
“Định loại cá nước ngọt Nam Bộ” do Mai Đình Yên chủ biên và các cộng sự
Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến và Hứa Bạch Loan (1992)
thực hiện, đã thống kê chi tiết 255 loài cá ở Nam Bộ Việt Nam [50].

7

“Định loại cá nước ngọt vùng đồng bằng sông Cửu Long” của Trương Thị
Hoa và Trần Thị Thu Hương (1983) gồm 173 loài.
Phân loại cá của Nguyễn Văn Hảo (2001, 2005) gồm 1.027 loài.
Đây là các công trình đầy đủ nhất hiện nay về hai khu hệ cá miền Bắc và cá
miền Nam nước ta.
Các công trình nghiên cứu nói trên là những tư liệu chính về phân loại, sinh
học, sinh thái của của các loài cá kinh tế nội địa của Việt Nam. Trong đó các tác giả
không những quan tâm nghiên cứu đến phân loại, sinh học, sinh thái, sinh sản mà
còn quan tâm đến bảo vệ nguồn lợi, bảo vệ môi trường.
1.3. Tình hình nghiên cứu cá nước ngọt ở Quảng Nam
Đến nay các công trình nghiên cứu về cá ở Nam Trung Bộ nói chung và
Quảng Nam nói riêng còn hạn chế. Từ năm 1981, các tác giả Mai Đình Yên và
Nguyễn Hữu Dực đã tiến hành điều tra các loài cá nước ngọt ở các tỉnh ven biển
Nam Trung Bộ. Lưu vực sông Thu Bồn thuộc tỉnh Quảng Nam là một trong số 7
vực nước được các tác giả điều tra, nghiên cứu về thành phần loài, sinh thái học các
loài cá kinh tế, nghề cá,… Đến năm 1991, Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực công
bố thành phần loài ở sông Thu Bồn gồm 53 loài [49].

riêng chưa nhiều, chủ yếu tập trung nghiên cứu đa dạng sinh học thành phần loài,
còn đặc điểm sinh học sinh sản các loài cá có giá trị kinh tế chưa được quan tâm
đúng mức. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ góp phần vào nghiên cứu
sinh học loài cá Thát lát, một loài cá kinh tế quan trọng của vùng hồ. Trên cơ sở đó
đề xuất một số giải pháp khai thác hợp lý, phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản và
bảo tồn tính đa dạng sinh học các loài sinh vật ở hồ Phú Ninh.
1.4. Hiện trạng về điều kiện sinh thái hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam
1.4.1. Vị trí địa lý, địa hình
Quảng Nam là một tỉnh duyên hải miền Trung, mang đặc điểm chung cơ bản
của khí hậu nhiệt đới gió mùa Việt Nam. Tuy nhiên địa hình Quảng Nam rất phức
tạp, có đầy đủ các dạng núi cao, đồi núi Trung du, đồng bằng, bãi cát ven biển và
đầm hồ. Trong đó các vùng núi cao và dốc chủ yếu tập trung thành một vùng rộng
lớn ở phía Tây, chạy theo hường Tây Bắc - Đông Nam, và một phần nhỏ còn lại là

9

đồng bằng nhỏ hẹp chạy dọc ven biển. Quảng Nam nằm trên trục giao thông chính
của cả nước về đường sắt, đường bộ, đường hàng không và đường thủy nên rất
thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế phát triển kinh tế, xã hội, có tầm quan
trọng trong an ninh, quốc phòng. Tọa độ địa lý từ 14
0
57

10

đến 16
0
03

50

18

20
’’
đến 15
0
30

33
’’
vĩ độ Bắc, cách
thành phố Tam Kỳ 7 km về phía Tây. Lưu vực hồ với tổng diện tích tự nhiên 23.409
ha, trong đó có 71,6% diện tích lưu vực thuộc các xã Tam Trà, Tam Sơn và một
phần Tam Mỹ, Tam Xuân của huyện Núi Thành, 28,4% còn lại nằm ở xã Tam Thái,
Tam Dân của huyện Phú Ninh [6]. Ranh giới của hồ cụ thể như sau:
+ Phía Đông giáp các xã Tam Mỹ, Tam Xuân, Tam Anh của huyện Núi
Thành.
+ Phía Bắc giáp các xã Tam Thái, Tam Dân của huyện Phú Ninh.
+ Phía Tây giáp xã Tam Lãnh của huyện Phú Ninh, xã Trà Đông, Trà Liên
của huyện Trà My.
+ Phía Nam giáp với tỉnh Quảng Ngãi
Lưu vực hồ Phú Ninh có địa hình từ núi thấp đến thung lũng. Núi thấp tập
trung ở xã Tam Trà, Tam Mỹ, với độ cao từ 100 - 139 m, độ dốc từ 16
0
- 45
0
, diện
tích là 6.980 ha chiếm tỷ lệ 35,33%. Đây là vùng xung yếu đầu nguồn của sông
Quán đổ nước về hồ Phú Ninh. Vùng hạ lưu ven hồ với địa hình đồi dạng bát úp,
lượn sóng, độ cao từ 40 - 410 m, độ dốc từ 11

o
C. Trong mùa Đông tháng
I là tháng lạnh nhất, những ngày có gió mùa Đông Bắc tràn về, nhiệt độ trung bình
ngày có thể dưới 18
0
C [6].
1.4.2.2. Chế độ mưa
Lưu vực hồ Phú Ninh nằm đúng vào trung tâm mưa lớn của tỉnh, đặc biệt là
vùng thượng lưu sông Tam Kỳ (thuộc sườn Đông của dãy núi cao phía Tây Nam
tỉnh), có lượng mưa năm bình quân xấp xỉ 4.000 mm/năm. Lượng mưa trung bình ở
lưu vực hồ Phú Ninh là 3.500 mm/năm, trong khi đó lượng mưa trung bình hàng
năm của tỉnh chỉ trên 2.600 mm/năm [6].
1.4.2.3. Chế độ nắng
Tổng số giờ nắng 2.153 giờ, lượng bức xạ tổng cộng trung bình năm dao
động trong khoảng từ 130 - 170 kcal/cm
2
/năm. Bức xạ lên cao trong suốt thời kỳ
Xuân - Hè. Cực
đại rơi vào khoảng tháng IV hoặc V với 500 - 550
kcal/cm
2
/ngày, cực
tiểu vào tháng XII là 250 - 300 cal/cm
2
/ngày [6].
1.4.3. Đặc tính thủy lí, thủy hóa của hồ Phú Ninh
Lưu vực hồ Phú Ninh thuộc vùng đa hợp thủy. Ở phía Nam lưu vực có hai
chi lưu của sông Quán, xuất phát từ các dãy núi cao đó là Xuân Bình (chảy theo
hướng Tây Nam – Đông Bắc) và Tứ Chánh (chảy theo hướng Đông Nam – Tây
Bắc), cuối vùng thượng nguồn hai chi lưu này hợp lại với nhau và chảy theo hướng

nước. Hồ vừa sâu, vừa rộng, thời gian tồn lưu nước ngắn,
lượng trầm tích bồi lắng nhanh và nhiều hơn hồ tự nhiên do vùng lưu vực rộng lớn,
chế độ thủy học biến đổi theo mùa rất rõ và phức tạp. Chính vì vậy mà đặc tính thủy
sinh vật ở đây rất khác với hồ tự nhiên cả về định tính lẫn định lượng. Hồ Phú Ninh
thường có sự trao đổi nước giữa tầng mặt và tầng đáy khi xảy ra sự đối lưu, phân
tầng giữa các yếu tố môi trường, tạo nên sự xáo trộn về điều kiện sinh thái và dinh
dưỡng, kích thích cho sinh vật phát triển.
Các yếu tố thuỷ lý hoá của hồ Phú Ninh là [32]:
- PH: 7,8
- DO : 9,7 mg/l
- Độ cứng: 12
oH

- Độ kiềm: 28 mg CaCO
3
/lít
- Sắt tổng số: 0,1 mg/l
- Cặn lơ lửng: 0,5 mg/
- Độ dẫn điện: 67,5
1.4.4. Điều kiện kinh tế, xã hội
Hồ Phú Ninh được hoàn thành đưa vào sử dụng năm 1986, giữ vai trò quan
trọng trong việc điều tiết dòng chảy của sông ngòi, hạn chế lũ lụt trong mùa mưa và
tăng cường khả năng cung cấp nước cho hoạt động nông nghiệp vào mùa khô.
Hồ Phú Ninh có nhiệm vụ điều hòa nước để cung cấp nước tưới cho khoảng
23.000 ha đất nông nghiệp thuộc thành phố Tam Kỳ, huyện Phú Ninh, Thăng Bình
và một phần huyện Quế Sơn. Hồ có tác dụng giảm lũ quét qua vùng, nâng cao mực
nước ngầm, làm cho các giếng của người dân trong vùng không cạn vào mùa khô,
đồng thời hồ cũng là nơi cung cấp nước sinh hoạt cho dân cư sống trong vùng và

12

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu
Cá Thát lát - Notopterus notopterus (Pallas, 1769)
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 11 năm 2008 đến tháng 10 năm 2009
- Địa điểm: Hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.
2.3. Sơ đồ khối thực hiện

2.4. Tìm hiểu hiện trạng về điều kiện sinh thái hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam
Tham khảo, thu thập tài liệu và thông tin về điều kiện sinh thái Quảng Nam
và khu vực hồ Phú Ninh.

Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Thát lát
Kiểm tra

+ Các chỉ số đếm:
Đếm số lượng gai cứng và tia vây: D (Dosalis): Vây lưng; A (Analis): Vây
hậu môn; C (Caudalis): Vây đuôi; P (Pectolalis): Vây ngực; V (Ventralis): Vây
bụng.
+ Xác định khối lượng cá bằng cách cân có độ chính xác đến gram.
+ Xác định kích thước cá bằng cách đo có độ chính xác đến milimet.
2.6.2. Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng của cá
2.6.2.1. Xác định tuổi cá: 120 mẫu
Tuổi cá được xác định bằng cách lấy vẩy ở phía dưới vây lưng và phía trên
đường bên của cá, vùng bụng bên dưới đường bên để chọn lựa vùng lấy vẩy tối ưu
nhất cho các lần thu mẫu tiếp sau. Mẫu vẩy quan sát được ngâm trong dung dịch
NaOH 4% để tẩy mỡ, các chất bẩn hay sắc tố bám trên vẩy sao cho chỉ còn lại vẩy

15

cá trong suốt. Rửa sạch bằng nước, lau khô, quan sát vòng năm bằng kính hiển vi ở
độ phòng đại 40 lần.
2.6.2.2. Tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá: 352 mẫu
Dựa vào số đo chiều dài và khối lượng thực tế của cá qua các tháng thu mẫu
để tính mối tương quan theo phương trình của R. J. H Berverton – S. J Holt (1956):
W = a. L
b
Trong đó W : Khối lượng toàn thân của cá (g)
L : Chiều dài toàn thân cá (cm)
a, b: Các hệ số tương quan
Các hệ số a, b được dựa trên phương trình toán học thực nghiệm và kết quả
thực tế.
2.6.3. Nghiên cứu về dinh dưỡng của cá: 120mẫu/3nhóm kích thước
Để xác định thành phần thức ăn của cá Thát lát, chúng tôi tiến hành chia mẫu
cá theo 3 nhóm kích thước dựa trên chiều dài của cá lớn nhất và nhỏ nhất thu được:

2.6.4.1. Xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục
Xác định sơ bộ các giai đoạn chín muồi tuyến sinh dục của cá theo thang 6
bậc của K. A. Kiselevich (1923) và bằng tổ chức học theo thang 6 giai đoạn của
O.F. Xakun và N. A.Buskaia (1982) [45]. Trên cơ sở đó, đánh giá được thời gian đẻ
trứng của cá.
2.6.4.2. Mùa vụ sinh sản
Giải phẩu tuyến sinh dục để quan sát sự phát triển của buồng trứng theo thời
gian, dựa vào hệ số thành thục từ đó có thể phán đoán và biết được mùa vụ sinh sản.
2.6.4.3. Xác định sức sinh sản
Cân khối lượng buồng trứng giai đoạn IV, lấy mẫu ở 3 vùng khác nhau trên
chiều dài tuyến sinh dục để tiến hành đếm trứng. Số lượng trứng có trong buồng
trứng là sức sinh sản tuyệt đối của cá. Cần đếm lập lại nhiều lần số trứng ở 3 vùng
trên 1 đơn vị khối lượng bằng buồng đếm động vật để có kết quả chính xác. Dựa
vào sức sinh sản tuyệt đối, tính được sức sinh sản tương đối là số lượng trứng trên
một đơn vị khối lượng cơ thể.
Sức sinh sản tương đối: s = S/W (số trứng/gam)
Trong đó : s là sức sinh sản tương đối (trứng/g)
S: sức sinh sản tuyệt đối (tế bào trứng)
W: trọng lượng thân cá.
2.6.4.4. Hệ số thành thục
K(%) = W
tsd
/ W
0
x 100(%)
Trong đó: K: hệ số thành thục
W
0
: Khối lượng cá bỏ nội quan (g)
W



 





n
i
n
n
XXi
1
2
1


- Sai số tiêu chuẩn: m = 
n
/n

18

CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm hình thái phân loại của cá Thát lát
3.1.1. Đặc điểm hình thái
Chúng tôi tiến hành thu mẫu và kiểm tra phân tích các chỉ tiêu hình thái của
30 mẫu cá Thát lát khai thác tại hồ Phú Ninh, kết quả thể hiện ở bảng 3.1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status