Bài thu hoạch môn Địa Lý - Du Lịch - Pdf 20

Bài thu hoạch thực địa -Địa Lý 1 Nhóm 7

LỜI MỞ ĐẦU

Tục ngữ có câu “ Học đi đôi với hành, với tinh thần đó nên bước vào năm hai
học chuyên ngành Sư phạm Địa Lý ở trường Đại Học Cần Thơ. Chúng em được
trường tổ chức cho đi học tập ngoài thực tế có thể kiểm chứng lại những kiến thức
đã được học trên giảng đường.
Có thể nói thiên nhiên có nhiều giới hạn mà có thể được đánh giá tốt nhất ngoài
thực tế. Các cấu trúc địa chất, các yếu tố địa hình, địa chất, khí hậu, thủy văn, thổ
nhưỡng và một số kiến thức cơ bản về kinh tế xã hội …Nhưng yếu tố đó không
được thiết kế trong bài giảng, máy tính, sổ tay.
Mục đích chính của chuyến đi này là nhằm giúp cho sinh viên ngành Địa Lý
nắm vững những kiến thức cơ bản về đặc điểm tự nhiên phân theo vùng, khu vực,
sự phân hóa lãnh thổ và các nguyên tắc phân vùng lãnh thổ để có thể học tốt các
môn chuyên ngành và trang bị kiến thức nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy và
nghiên cứu sau này.
Trong 10 ngày đi thực tế vừa qua từ ngày 03/02/2009 – 12/02/2009, chúng em
vượt qua hơn 2000km qua nhiều vùng khác nhau từ đồng bằng san bán bình
nguyên, Cao nguyên, đến lòng chảo, thung lũng, vùng duyên hải,… Chuyến đi thực
tế vừa qua đã cho chúng em học tập được nhiều điều bổ ích, thú vị trong việc học
tập các môn: Địa lý tự nhiên 1,2,3; Địa chất, Kinh tế xã hội đại cương…
Qua chuyến đi chúng em chân thành cám ơn trường Đại Học Cần Thơ, Khoa
Sư Phạm, các thầy cô trong bộ môn Địa Lý – Du Lịch đã tổ chức cho chúng em đi
thực tế lần này. Nhân đây chúng em cũng xin chân thành cám ơn các thầy cô đã trực
tiếp hướng dẫn đoàn thực tế vừa qua:
Thầy Lê Đình Quế, phụ trách phần Địa Lý Tự Nhiên
Thầy Huỳnh Tương Ái, phụ trách phần Địa Lý Kinh Tế
Cám ơn các thầy đã nhiệt tình hướng dẫn chúng em để chúng em có được
những kiến thức quý báu làm hành trang vào đời sau này ra giảng dạy.
1

(1882), thiếu tá Humann (1884).
Ngày 3 tháng 8 năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin thực hiện chuyến thám
hiểm đầu tiên với ý định tìm đường núi từ Nha Trang vào Sài Gòn, nhưng chuyến đi
này bất thành. Từ 28 tháng 3 đến 9 tháng 6 năm 1892, Yersin thực hiện một cuộc
thám hiểm từ Nha Trang, băng qua vùng cao nguyên Đắk Lắk để đến Stung Treng,
nằm bên bờ sông Mê Công (thuộc địa phận Campuchia).
Tháng 1-1893, Yersin nhận nhiệm vụ từ toàn quyền Jean Marie Antoine de
Lanessan, khảo sát một tuyến đường bộ từ Sài Gòn xuyên sâu vào vùng người
Thượng và kết thúc ở một địa điểm thuận lợi trên bờ biển Trung Kỳ. Yersin còn
phải tìm hiểu về tài nguyên trong vùng: lâm sản, khoáng sản, khả năng chăn nuôi...
Từ ngày 8 tháng 4 đến ngày 26 tháng 6 năm 1893, Yersin đã thực hiện ba chuyến đi
quan trọng. Và 15h30 ngày 21 tháng 6, Yersin đã phát hiện ra cao nguyên Lang
Biang, trong nhật ký hành trình, ông ghi vắn tắt "3h30: grand plateau dénudé
mamelonné" (3h30: cao nguyên lớn trơ trụi, gò đồi nhấp nhô).
Với nhu cầu tìm một vùng đất có khí hậu ôn hòa, gần giống với châu Âu để
xây dựng khu nghỉ mát, trạm điều dưỡng, toàn quyền Paul Doumer viết một bức thư
hỏi ý kiến của Yersin, và Yersin đã trả lời là cao nguyên Lang Biang. Tháng 3 năm
1899, Yersin cùng toàn quyền Doumer thực hiện một chuyến đi lên cao nguyên
Lang Biang và chuyến đi này có ý nghĩa quyết định về việc thành lập một trạm điều
dưỡng ở đây.
Ngày 1 tháng 11 năm 1899, Doumer ký nghị định thành lập ở Trung Kỳ tỉnh
Đồng Nai Thượng (Haut-Donnai) và hai trạm hành chính được thiết lập tại Tánh
Linh và trên cao nguyên Lang Biang. Đó có thể được xem là văn kiện chính thức
thành lập trạm điều dưỡng trên cao nguyên Lang Biang – tiền thân của thành phố
Đà Lạt sau này.
4
Bài thu hoạch thực địa -Địa Lý 1 Nhóm 7

Ngày 20 tháng 4 năm 1916, vua Duy Tân đã ra đạo dụ thành lập thị tứ, tức
thị xã (centre urbain) Đà Lạt, tỉnh lị tỉnh Lâm Viên. Đạo dụ này được Khâm sứ J.E.

một trung tâm giáo dục và khoa học.
Năm 1957, Đà Lạt trở thành tỉnh lỵ tỉnh Tuyên Đức. Thị xã Đà Lạt có 10
khu phố.
Nhiều trường học và trung tâm nghiên cứu được thành lập: Viện Đại học Đà
Lạt (1957), Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (1959), Thư viện Đà Lạt (1960), trường
Đại học Chiến tranh Chính trị (1966), trường Chỉ huy và Tham mưu (1967)... Các
công trình phục vụ du lịch được tiếp tục xây dựng và sửa chữa, hàng loạt biệt thự do
các quan chức Sài Gòn, nhiều chùa chiền, nhà thờ, tu viện được xây dựng... Đà Lạt
cũng là một điểm hấp dẫn với giới văn nghệ sĩ.
Sau 1975, với sự rút đi của quân đội và bộ máy chính quyền miền Nam,
nhưng được bổ sung bởi lượng cán bộ và quận đội miền Bắc, dân số Đà Lạt ổn định
ở con số khoảng 86 ngàn người. Du lịch Đà Lạt hầu như bị lãng quên. Những năm
cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, hàng loạt khách sạn, nhà hàng được sửa
chữa, nhiều biệt thự được đưa vào phục vụ du lịch... Đà Lạt trở thành một thành
phố du lịch quan trọng của Việt Nam với nhiều lễ hội được tổ chức.
Cuối năm 1975 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam quyết định Đà Lạt sẽ trở thành 1 trong 4 thành phố trực thuộc Trung
ương, nhưng ngay sau đó đã điều chỉnh lại. Tháng 2 năm 1976 Chính phủ cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra Nghị định hợp nhất tỉnh Tuyên
Đức, tỉnh Lâm Đồng và thị xã Đà Lạt thành tỉnh Lâm Đồng. Thị xã Đà Lạt trở
thành thành phố tỉnh lỵ tỉnh Lâm Đồng.
2. Vị trí địa lý
Thành phố Đà Lạt nằm trong cao nguyên Lang Biang, phía Bắc tỉnh Lâm
Đồng. Về phía Bắc, Đà Lạt giáp với huyện Lạc Dương, về phía Đông và Đông
6
Bài thu hoạch thực địa -Địa Lý 1 Nhóm 7

Nam giáp với huyện Đơn Dương, về phía Tây và Tây Nam giáp với hai
huyện Lâm Hà và Đức Trọng.
Hình 2: Một gốc TP Đà Lạt-Tỉnh Lâm Đồng hôm nay

đá macma, đá biến tính, đá trầm tích. Đà Lạt được hình thành từ khi nào thì còn
đang khảo sát. Tuy nhiên nếu đặt Đà Lạt vào khối Nam Trường Sơn ta có thể kết
luận như sau: Đây là vùng trước đây biển hoàn toàn chiếm ngự và nơi đây đáy biển
này các lớp trầm tích lần lượt được tích tụ thành các lớp dày. Sự tích tụ này kéo dài
đến cuối Đệ I nguyên đại hay đệ II nguyên đại thì bị sự tạo sơn tác động. Sự tạo sơn
chính là cơ nguyên tạo ra sự nổi núi của nham Hoa Cương và chính là hậu quả đẩy
lên từ vùng dưới đáy biển thành một cao nguyên như ngày nay. Các chuyển động
tiếp theo làm khối nham cứng chắc này nứt toạc ra, nơi nào yếu nhất của địa hình
thì nham Huyền Vũ trào ra và chiếm các thung lũng sâu. Sự xuất hiện của nham
Huyền Vũ đánh dấu giai đoạn cuối của sự tạo lập vùng và cho ra một số nham biến
tính.
5. Thổ Nhưỡng
Đà Lạt có nhiều loại đá khác nhau nên có nhiều loại đất khác nhau: như
phiến thạch và Hoa Cương thì sinh ra Podzonlic vàng đỏ, Podzonlic nâu đỏ.
8
Bài thu hoạch thực địa -Địa Lý 1 Nhóm 7

Hình 3: Đất Đỏ Bazan ở Đà Lạt.
(Nguồn: www.blog.360.yahoo.com)
Huyền Vũ thì cho ra đất đỏ nếu thủy cấp sâu hoặc đất đen nếu thủy cấp cạn.
Ngoài ra còn có các loại đất hửu cơ có màu đen dày 50-60cm dưới là một tầng sét
màu trắng, có thủy cấp cạn, PH của đất khoảng 4.5. Cải thiện đất này người ta có
thể bón thêm vôi.
6. Thủy văn
9
Bài thu hoạch thực địa -Địa Lý 1 Nhóm 7

Nhìn chung hệ thống thủy văn ở đây chủ yếu là hồ và thác. Như hồ Xuân
Hương với vẽ đẹp thơ mộng. Ngoài ra còn có các hồ Đa Thiên, hồ Tuyền Lâm. Các
hồ này được các sông chảy từ trên núi cao chảy xuống cung cấp nước. Các hồ nước

Đà Lạt tăng 73.290 người vào năm 1965, 89.656 người (1970) và đến năm 1982
dân số Đà Lạt đã vượt qua con số 100.000 người. Năm 1999, dân số Đà Lạt là
129.400 người.
2. Kinh tế
Kinh tế Đà Lạt có thế mạnh về du lịch, trồng hoa và rau. Phần lớn diện tích
trồng hoa chuyên nghiệp của tỉnh Lâm Đồng tập trung tại Đà Lạt. Tổng cộng diện
tích canh tác nông nghiệp của Đà Lạt vào khoảng 9.978 ha. Sản lượng rau hằng năm
vào khoảng 170.000 tấn, trong đó có 35.000 tấn được xuất khẩu sang các nước
Đông Bắc châu Á và ASEAN. Sản lượng hoa Đà Lạt hằng năm vào khoảng 540
triệu cành, trong đó xuất khẩu vào khoảng 33,3 triệu cành hoa.
3. Kiến trúc
11
Bài thu hoạch thực địa -Địa Lý 1 Nhóm 7

"Tòa nhà" đầu tiên ở Đà Lạt là một đồn binh lợp lá vào năm 1898, tiếp theo
Hình 5: Biệt thự Đà Lạt.
(Nguồn:www.my.opera.com)
đó là nhà bằng gỗ lợp tôn của viên công sứ Pháp năm 1900. Hotel du Lac mở cửa
vào năm 1907. Năm 1916 người Pháp cho xây dựng thêm Hotel du Langbian
Palace. Đà Lạt thật sự trở thành thành phố khi người Pháp xây dựng thành phố theo
đồ án thiết kế tổng thể của kiến trúc sư Ernest Hébrard. Năm 1933 kiến trúc sư
Pineau trình bày một công trình nghiên cứu chỉnh trang và mở rộng Đà Lạt. Đến
năm 1940 kiến trúc sư Mondet thiết lập một đồ án mới, quay về với ý tưởng của
Hébrard là bố trí các khu vực hành chánh và dân cư quanh hồ. Thế nhưng dự án này
không được duyệt.
Đà Lạt có nhiều công trình xây dựng đặc sắc, phần nhiều mang đặc trưng
của kiến trúc kiểu Pháp. Trong thời gian vừa qua toàn cảnh kiến trúc đô thị của
thành phố Đà Lạt đã bị phá vỡ vì xây dựng thiếu quy hoạch đồng bộ, lấn chiếm làm
nhà ở và cơi nới, xây cất vô lối ngay trong biệt thự. Nếu so với nhiều thành phố
khác trong cả nước, Đà Lạt vẫn là một thành phố trẻ, nhưng đó lại là một thành phố

Nguồn: (www.hanhdungtourist.com)
14
Bài thu hoạch thực địa -Địa Lý 1 Nhóm 7

Ở phía bắc cao nguyên Lang Biang là dãy núi Bà (Lang Biang) hùng vĩ, cao
2.169 m, kéo dài theo trục Đông Bắc - Tây Nam từ suối Đa Sar (đổ vào Đa Nhim)
đến Đa Me (đổ vào Đạ Đờng).
Ngày nay núi Lang Bian thuộc xã Lát huyện Lạc Dương cách thành
phố Đà Lạt khoảng 12km về phía Bắc. Dãy Langbiang gồm 3 dãy núi chính:
Langbiang, ông Khổng (huyện Lạc Dương), và rặng Bidúp ở Đơn Dương giáp với Thuận Hải.
2. Huyền thoại Langbiang:
Trong các truyền thuyết thần thoại của các dân tộc ít người ở Đà Lạt, ba rặng núi Lang Bian (Lâm Viên– Núi
Bà), Khổng Lồ và Bidúp quan hệ rất mật thiết với nhau. LangBiang ghi dấu một mối tình chung thủy đã đi vào huyền
thoại.
Ngày xưa tại làng La Ngư Thượng (Đà Lạt bây giờ) có chàng K’Lang, tù trưởng bộ tộc Lạt, thương người con
gái tên H’Biang, con tù trưởng người Chil. Sau lần K’Lang cứu H’Biang thoát khỏi nguy hiểm, họ đã đem lòng yêu nhau
nhưng do lời nguyền giữa hai dòng tộc mà H’Biang không thể cưới K’Lang làm chồng. Vượt qua tục lệ khắt khe của hai
bộ tộc, họ vẫn đến với nhau. Họ trở thành chồng vợ rồi bỏ đến một đỉnh núi cao ngất để sinh sống. Kết thúc câu chuyện,
H’Biang chết do đỡ mũi tên có tẩm thuốc độc của buôn làng nhắm bắn K’Lang. Đau buồn khôn xiết, K’Lang đã khóc rất
nhiều, nước mắt của chàng tuôn thành
Hình 7: Biểu tượng trên đỉnh Langbiang.
Nguồn:( www.thugian.com)
suối lớn, ngày nay gọi Dankia (Suối Vàng). Sau cái chết của hai người, cha của H’Biang hối hận đứng
ra nhận việc thống nhất các bộ tộc có tên là K’Ho. Ngọn núi cao nơi chàng K’Lang và nàng H’Biang chết được đặt tên là
Langbiang – tên ghép của đôi trai gái để tưởng nhớ đến hai người và tình yêu chung thủy của họ.
15

Trích đoạn Kinh tế của người K’Ho:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status