BÀI THU HOẠCH MÔN HỌC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG TIN HỌC - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CNTT
BÀI THU HOẠCH MÔN HỌC
PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRONG TIN HỌC
Họ tên học viên : NGÔ PHƯƠNG BÌNH
Mã HV : CH1101005

TP. HCM, naêm 2012
Lời mở đầu
0
Chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên bùng nổ công nghệ thông
tin, mọi thành tựu khoa học và công nghệ đều xuất hiện một cách hết sức
mau lẹ và cũng nhanh chóng thay đổi. Góp phần cho sự phát triển vượt bậc
này là nhờ vào thành quả của việc nghiên cứu khoa học - là một trong những
hoạt động phát triển nhanh nhất hiện nay, nó đang nghiên cứu giải quyết tất
cả các góc cạnh vấn đề của thế giới, và những thành tựu do nó đem lại đã
được ứng dụng rộng rãi vào trong mọi lónh vực của cuộc sống đã làm đảo lộn
nhiều quan niệm truyền thống, làm cho năng suất sản xuất xã hội tăng lên
hàng trăm lần so với vài thập niên trước đây.
Song song với sự phát triển này, con người có được những hiểu biết
sâu sắc về thế giới, đặc biệt là những hiểu biết về phương pháp nhận thức
thế giới. Cho nên phương pháp nghiên cứu khoa học đã gắn liền với hoạt
động có ý thức của con người, là một trong những yếu tố quyết đònh sự thành
công của hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới. Và cũng chính vì vậy mà
hiện nay việc nghiên cứu các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung
và phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học nói riêng ngày càng trở
nên cần thiết.
Do thời gian tìm hiểu về “phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin
học” hạn hẹp, nên trong phạm vi của bài thu hoạch này, em sẽ trình bày sơ

Trong thực tế cuộc sống của chúng ta người thành công là người biết sử dụng
phương pháp.
Như vậy, bản chất của phương pháp nghiên cứu khoa học chính là việc con
người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng như một
phương tiện để khám phá chính đối tượng đó. Phương pháp nghiên cứu khoa học
chính là con đường dẫn dắt nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo.
Trên đây là những khái niệm về phương pháp nghiên cứu khoa học. Để có
được sự hiểu biết sâu sắc hơn và cái nhìn toàn diện hơn về phương pháp nghiên
cứu khoa học chúng ta cần đi sâu tìm hiểu những đặc điểm của phương pháp
nghiên cứu khoa học.
2) Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học
Phương pháp bao giờ cũng là những cách thức làm việc của chủ thể nhằm
vào các đối tượng cụ thể, ở đây có hai điều chú ý là : chủ thể và đối tượng.
Phương pháp là cách làm việc của chủ thể, cho nên nó gắn chặt với chủ
thể và như vậy phương pháp có mặt chủ quan. Mặt chủ quan của phương pháp
chính là năng lực nhận thức, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo của chủ thể, thể hiện
trong việc ý thức được các quy luật vận động của đối tượng và sử dụng chúng để
khám phá chính đối tượng.
Phương pháp là cách làm việc của chủ thể và bao giờ cũng xuất phát từ
đặc điểm của đối tượng, phương pháp gắn chặt với đối tượng, và như vậy phương
pháp có mặt khách quan. Mặt khách quan quy đònh việc chọn cách này hay cách
kia trong hoạt động của chủ thể. Đặc điểm của đối tượng chỉ dẫn cách chọn
phương pháp làm việc, Trong nghiên cứu khoa học cái chủ quan phải tuân thủ cái
khách quan. Các quy luật khách quan tự chúng chưa phải là phương pháp, nhưng
nhờ có chúng mà ta phát hiện ra phương pháp. Ý thức về sự sáng tạo của con
người phải tiếp cận được các quy luật khách quan của thế giới.
Phương pháp có tính mục đích vì hoạt động của con người đều có mục
đích, mục đích nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học chỉ đạo việc tìm tòi và
lựa chọn phương pháp nghiên cứu và ngược lại nếu lựa chọn phương pháp chính
xác, phù hợp sẽ làm cho mục đích nghiên cứu đạt tới nhanh hơn, và đôi khi vượt

nguyên nhân dẫn đến sự hình thành sự vật, cũng như những quy luật
chi phối đến quá trình vận động của sự vật. Nội dung của giải thích có
thể bao gồm giải thích nguồn gốc; động thái; cấu trúc; tương tác; hậu
quả; quy luật chung chi phối quá trình vận động của sự vật.
• Nghiên cứu dự báo: là những nhiên cứu nhằm nhận dạng trạng thái
của sự vật trong tương lai. Mọi dự báo đều phải chấp nhận có những
sai lệch, kể cả trong nghiên cứu tự nhiên và xã hội. Sự sai lệch trong
kết quả dự báo có thể do nhiều nguyên nhân : sai lệch khách quan
trong kết quả quan sát, sai lệch do những luận cứ bò biến dạng do sự
tác động của các sự kiện khác …
• Nghiên cứu sáng tạo, là nghiên cứu nhằm làm ra một sự vật mới chưa
từng tồn tại. Khoa học không bao giờ dừng lại ở mô tả và dự báo mà
luôn hướng vào sự sáng tạo các giải pháp cải tạo thế giới.
2) Phân loại theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu :
Theo tính chất của sản phẩm, nghiên cúu được phân loại thành nghiên cứu cơ
bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai.
• Nghiên cứu cơ bản (Fundamental research) là những nghiên cứu nhằm
phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật
và mối liên hệ giữa sư vật với các sự vật khác. Sản phẩm nghiên cứu cơ bản có
thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn đến viêc hình thành một hệ thống
lý thuyết có giá trò tổng quát, ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lónh vực khoa học,
chẳng hạn Newton phát minh đònh luật hấp dẫn vũ trụ; Marx phát hiện quy luật
giá trò thặng dư. Nghiên cứu cơ bản được phân thành hai loại : nghiên cứu cơ bản
thuần túy và nghiên cứu cơ bản đònh hướng.
- Nghiên cứu cơ bản thuần túy, còn được gọi là nghiên cứu cơ bản tự do hoặc
nghiên cứu cơ bản không đònh hướng, là những nghiên cứu về bản chất sự vật để
nâng cao nhận thức, chưa có hoặc chưa bàn đến ý nghóa ứng dụng.
- Nghiên cứu cơ bản đònh hướng, là những nghiên cứu cơ bản đã dự kiến
trước mục đích ứng dụng, các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên, kinh tế, xã
hội, … đều có thể xem là nghiên cứu cơ bản đònh hướng. Nghiên cứu cơ bản đònh

hiện trong các phòng thí nghiệm, labô công nghệ, nhà kính. Trên một
quy mô lớn hơn, hoạt động triển khai cũng được tiến hành trong các
xưởng thực nghiệm thuộc viện hoặc xí nghiệp sản xuất.
 Triển khai bán đại trà : trong các nghiên cứu thuộc lónh vực khoa học kỹ
thuật và khoa học công nghệ là một dạng triển khai nhằm kiểm chứng
giả thuyết về hình mẫu trên một quy mô nhất đònh, thường là quy mô
áp dụng bán đại trà, hay quy mô bán công nghiệp.
Khái niệm triển khai được áp dụng cả trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật và
xã hội; trong các nghiên cứu về khoa học kỹ thuật, hoạt động triển khai được áp
dụng khi chế tạo một mẫu công nghệ mới hoặc sản phẩm mới; trong các nghiên
cứu khoa học xã hội có thể lấy ví dụ về thử nghiệm một phương pháp giảng dạy ở
các lớp thí điểm; chỉ đạo thí điểm một mô hình quản lý mới tại một cơ sở được lựa
chọn.
Sự phân chia loại hình nghiên cứu như trên đây được áp dụng phổ biến trên
thế giới. Phân chia là để nhận thức rõ bản chất của nghiên cứu khoa học, để có cơ
sở lập kế hoạch nghiên cứu, cụ thể hóa các cam kết trong hợp đồng nghiên cứu
giữa các đối tác. Tuy nhiên trên thực tế, trong một đề tài có thể tồn tại cả ba loại
hình nghiên cứu, hoặc tồn tại hai trong ba loại hình nghiên cứu.
o MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC :
1. Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phân tích trước hết là phân chia cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu
thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành giản đơn hơn để nghiên
cứu, phát hiện ra từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó, và từ đó giúp
chúng ta hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái
chung phức tạp từ những yếu tố bộ phận ấy.
Khi chúng ta đứng trước một đối tượng nghiên cứu, chúng ta cảm giác
được nhiều hiện tượng đan xen nhau, chồng chéo nhau làm lu mờ bản chất của nó.
Vậy muốn hiểu được bản chất của một đối tượng nghiên cứu chúng ta cần phải
phân chia nó theo cấp bậc.
Nhiệm vụ của phân tích là thông qua cái riêng để tìm ra được cái chung,

Từ những kinh nghiệm, hiểu biết các sự vật riêng lẻ người ta tổng kết quy
nạp thành những nguyên lý chung. Cơ sở khách quan của phương pháp quy nạp là
sự lặp lại của một số hiện tượng này hay hiện tượng khác do chỗ cái chung tồn tại,
biểu hiện thông qua cái riêng. Nếu như phương pháp phân tích-tổng hợp đi tìm
mối quan hệ giữa hình thức và nội dung thì phương pháp quy nạp đi sâu vào mối
quan hệ giữa bản chất và hiện tượng. Một hiện tượng bộc lộ nhiều bản chất.
Nhiệm vụ của khoa học là thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, cuối cùng đưa
ra giải pháp. Phương pháp quy nạp đóng một vai trò quan trọng trong việc phát
hiện ra các quy luật, rút ra từ những kết luận tổng quát đưa ra các giả thuyết.
Trong nghiên cứu khoa học, người ta còn có thể xuất phát từ những giả
thuyết hay từ những nguyên lý chung để đi sâu nghiên cứu những hiện tượng cụ
thể nhờ vậy mà có nhận thức sâu sắc hơn từng đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp diễn giải ngược lại với phương pháp quy nạp. Đó là phương
pháp đi từ cái bản chất, nguyên tắc, nguyên lý đã được thừa nhận để tìm ra các
hiện tượng, các biểu hiện, cái trùng hợp cụ thể trong sự vận động của đối tượng.
Phương pháp diễn giải nhờ vậy có ý nghóa rất quan trọng trong những bộ môn
khoa học thiên về nghiên cứu lý thuyết, ở đây người ta đưa ra những tiền đề, giả
thuyết, và bằng những suy diễn lôgic để rút ra những kết luận, đònh lý, công thức.
Quy nạp và diễn giải là hai phương pháp nghiên cứu theo chiều ngược nhau song
liên hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái
riêng. Nhờ có những kết quả nghiên cứu theo phương pháp quy nạp trước đó mà
việc nghiên cứu có thể tiếp tục, phát triển theo phương pháp diễn giải. Phương
pháp diễn giải, do vậy mở rộng giá trò của những kết luận quy nạp vào việc
nghiên cứu đối tượng.
3. Phương pháp lòch sử và phương pháp lôgíc
Phương pháp lòch sử và phương pháp lôgíc là hai mặt biểu hiện của phương
pháp biện chứng mácxít . Tính thống nhất và tính khác biệt của nó cũng bắt nguồn
từ tính thống nhất và tính khác biệt của hai phạm trù lòch sử và lôgíc.
a. Phương pháp lòch sử :
Các đối tượng nghiên cứu (sự vật, hiện tượng) đều luôn biến đổi, phát triển

nhiên của lòch sử, phát hiện sợi dây lòch sử của toàn bộ sự phát triển. Từ cái lòch sử
chúng ta sẽ phát hiện ra cái quy luật phát triển của đối tượng.Tức là tìm ra cái
lôgíc của lòch sử, đó chính là mục đích của mọi hoạt động nghiên cứu khoa học.
Phương pháp lôgíc
Nếu phương pháp lòch sử là nhằm diễn lại toàn bộ tiến trình của lòch sử thì
phương pháp lôgíc nghiên cứu quá trình phát triển lòch sử, nghiên cứu các hiện
tượng lòch sử trong hình thức tổng quát, nhằm mục đích vạch ra bản chất quy luật,
khuynh hướng chung trong sự vận động của chúng. Do đó phương pháp lôgíc có
những đặc điểm sau :
Phương pháp lôgíc nhằm đi sâu tìm hiểu cái bản chất, cái phổ biến, cái lặp
lại của các hiện tượng. Muốn vậy, nó phải đi vào nhiều hiện tượng, phân tích, so
sánh, tổng hợp… để tìm ra bản chất của hiện tượng.
Nếu phương pháp lòch sử đi sâu vào cả những bước đường quanh co, thụt lùi
tạm thời của lòch sử, thì phương pháp lôgíc lại có thể bỏ qua những bước đó, mà
chỉ nắm lấy bước phát triển tất yếu của nó, nắm lấy cái xương sống phát triển của
nó, tức là nắm lấy quy luật của nó. Lôgíc không phải là sự phản ánh lòch sử một
cách đơn thuần, mà là sự phản ánh đã được uốn nắn lại nhưng uốn nắn theo quy
luật mà bản thân quá trình lòch sử đem lại. Nhờ những đặc điểm đó mà phương
pháp lôgíc có những khả năng riêng là :
Phương pháp lôgíc giúp chúng ta nhìn nhận ra cái mới. Bởi vì, lôgíc là sự
phản ánh của thế giới khách quan vào ý thức con người, mà thế giới khách quan
thì không ngừng phát triển, cái mới luôn luôn nảy sinh. Do luôn luôn chú ý đến cái
phổ biến, cái bản chất mà tư duy lôgíc dễ nhìn thấy những bước phát triển nhảy
vọt và thấy cái mới đang nảy sinh và phát triển như thế nào. Đặc điểm của cái
mới là nó khác về chất với cái cũ. Mặc dù là hình thức thì chưa thay đổi, nhưng
chất mới đã nảy sinh.
- Do thấy được mầm mống của cái mới mà phương pháp lôgíc có thể giúp
ta thấy được hướng đi của lòch sử, nhằm chỉ đạo thực tiễn, cải tạo thế giới.
- Phương pháp lôgíc còn có ưu điểm là giúp chúng ta tác động tích cực
vào hiện thực, nhằm tái sản sinh ra lòch sử ở một trình độ cao hơn, nghóa là chủ

Phương pháp này được sử dụng khi chưa tìm ra lời giải chính xác của vấn
đề. Đây cũng chính là cách tiếp cận chủ yếu của loài người từ xưa đến nay. Điểm
khác ở đây là chúng ta đưa ra những giải pháp mang đặc trưng của máy tính, dựa
vào sức mạnh tính toán của máy tính. Chúng ta có thể áp dụng các phương pháp
gián tiếp như sau :
a) Phương pháp thử – sai :
Khi xây dựng lời giải bài toán theo phương pháp thử – sai, người ta thường
dựa vào 3 nguyên lý sau :
- Nguyên lý vét cạn : Đây là nguyên lý đơn giản nhất, liệt kê tất cả các
trường hợp có thể xảy ra.
- Nguyên lý ngẫu nhiên : Dựa vào việc thử một số khả năng được chọn
một cách ngẫu nhiên. Khả năng tìm ra lời giải đúng phụ thuộc rất nhiều vào chiến
lược chọn ngẫu nhiên.
- Nguyên lý mê cung : Nguyên lý này được áp dụng khi chúng ta không
thể biết được chính xác “hình dạng” lời giải mà phải xây dựng dần lời giải qua
từng bước một giống như tìm đường đi trong mê cung.
Để thực hiện tốt phương pháp thử - sai, chúng ta nên áp dụng nguyên lý :
- Nguyên lý vét cạn toàn bộ : Muốn tìm được cây kim trong đống rơm,
hãy lần lượt rút ra từng cọng rơm cho đến khi rút được cây kim
- Nguyên lý mắt lưới : Lưới bắt cá chỉ bắt được những con cá có kích
thước lớn hơn kích thước mắt lưới.
- Nguyên lý giảm độ phức tạp của thử và sai : Thu hẹp trường hợp trước
và trong khi duyệt, đồng thời đơn giản hóa tối đa điều kiện chấp nhận một trường
hợp.
- Nguyên lý thu gọn không gian tìm kiếm : Loại bỏ những trường hợp
hoặc nhóm trường hợp chắc chắn không dẫn đến lời giải.
- Nguyên lý đánh giá nhánh cận : Nhánh có chứa quả phải nặng hơn
trọng lượng của quả.
Ví dụ : Cho 3 dãy số nguyên X, Y, Z lần lượt gồm M, N và K phần tử đã
được sắp theo thứ tự không giảm. Tìm các phần tử giống nhau có trong X, Y, Z

c) Phương pháp trí tuệ nhân tạo :
Phương pháp thử – sai và phương pháp Heuristic, đều dựa trên một điểm cơ
bản là trí thông minh của chính con người để giải bài toán, máy tính chỉ đóng vai
trò thực thi mà thôi. Còn các phương pháp trí tuệ nhân tạo lại dựa trên trí thông
minh của máy tính. Trong những phương pháp này, người ta sẽ đưa vào máy tính
trí thông minh nhân tạo giúp máy tính bắt chước một phần khả năng suy luận như
con người. Từ đó, khi gặp một vấn đề, máy tính sẽ dựa trên những điều nó đã
được “học“ để tự đưa ra phương án giải quyết vấn đề.
Trong lónh vực “máy học”, các hình thức học có thể phân chia như sau :
- Học vẹt.
- Học bằng cách chỉ dẫn.
- Học bằng qui nạp.
- Học bằng tương tự.
- Học dựa trên giải thích.
- Học dựa trên tình huống.
- Khám phá hay học không giám sát.
Các kỹ thuật thường được áp dụng trong “máy học” là :
- Khai khoáng dữ liệu.
- Mạng nơ ron.
- Thuật giải di truyền.
- …
o MỘT SỐ NGUYÊN TẮC (CÔNG CỤ) GIẢI QUYẾT VẤN
ĐỀ - BÀI TOÁN TIN HỌC
Nhà khoa học Atshuler trong suốt quá trình làm việc của mình đã đưa ra một
hệ thống các nguyên tắc sáng tạo. Nó cung cấp hệ thống các cách xem xét sự vật;
tăng tính nhanh nhạy của việc tiếp thu và đánh giá giá trò của thông tin; đưa ra và
lựa chọn các cách tiếp cận thích hợp để giải quyết vấn đề. Đó là hệ thống 40
nguyên tắc sáng tạo, các nguyên tắc này giúp cho chúng ta xây dựng được tác
phong, suy nghó và làm việc một cách khoa học, sáng tạo, góp phần xây dựng tư
duy biện chứng.

Bù trừ trọng lượng của đối tượng bằng cách tương tác với môi trường như sử
dụng các lực thủy động, khí động …
9. Nguyên tắc gây ứng suất sơ bộ :
Gây ứng suất trước đối với đối tượng để chống lại ứng suất không cho phép
hoặc không mong muốn khi đối tượng làm việc (hoặc gây ứng súât trước để
khi làm việc sẽ dùng ứng súât ngược lại).
10.Nguyên tắc thực hiện sơ bộ :
Thực hiên trước sự thay đổi cần có, hoàn toàn hoặc từng phần, đối với đối
tượng.
Cần sắp xếp đối tượng trước, sao cho chúng có thể hoạt động từ vò trí thuận lợi
nhất, không mất thời gian dòch chuyển.
11.Nguyên tắc dự phòng :
Bù đắp độ tin cậy không lớn của đối tượng bằng cách chuẩn bò trước các
phương tiện báo động, ứng cứu, an toàn.
12.Nguyên tắc đẳng thế :
Thay đổi điều kiện làm việc để không phải nâng lên hay hạ xuống các đối
tượng.
13.Nguyên tắc đảo ngược :
Thay vì hành động như yêu cầu bài toán, hành động ngược lại (ví dụ : không
làm nóng mà làm lạnh đối tượng).
Làm phần chuyển động của đối tượng (hay môi trường bên ngoài) thành đứng
yên và ngược lại phần đứng yên thành chuyển động.
14.Nguyên tắc cầu (tròn) hoá :
Chuyển những phần thẳng của đối tượng thành cong, mặt phẳng thành mặt
cầu, kết cấu hình hộp thành kết cấu hình cầu.
Sử dụng các con lăn, viên bi, vòng xoắn.
Chuyển sang chuyển động quay, sử dụng lực ly tâm.
15.Nguyên tắc linh động :
Cần thay đổi các đặc trưng của đối tượng hay môi trường bên ngoài sao cho
chúng tối ưu trong từng giai đoạn làm việc.

21.Nguyên tắc “vượt nhanh” :
Vượt qua các giai đoạn có hại hoặc nguy hiểm với vận tốc lớn.
Vượt nhanh để có được hiệu ứng cần thiết.
22.Nguyên tắc biến hại thành lợi :
Sử dụng những tác nhân có hại (ví dụ tác động có hại của môi trường) để thu
được hiệu ứng có lợi.
Khắc phục tác nhân có hại bằng cách kết hợp nó với tác nhân có hại khác.
Tăng cường tác nhân có hại đến mức nó không còn có hại nữa.
23.Nguyên tắc quan hệ phản hồi :
Thiết lập quan hệ phản hồi.
Nếu đã có quan hệ phản hồi, hãy thay đổi nó.
24.Nguyên tắc sử dụng trung gian :
Sử dụng đối tượng trung gian, chuyển tiếp.
25.Nguyên tắc tự phục vụ :
Đối tượng phải tự phục vụ bằng cách thực hiện các thao tác phụ trợ, sửa chữa.
Sử dụng phế liệu, chất thải, năng lương dư.
26.Nguyên tắc sao chép (copy) :
Thay vì sử dụng những cái không được phép, phức tạp, đắt tiền, không tiện lợi
hoặc dễ vỡ, sử dụng bản sao.
Thay thế đối tượng hay hệ các đối tượng bằng bản sao quang học(ảnh, hình vẽ
với các tỷ lệ cần thiết.
Nếu không thể sử dụng bản sao quang học ở vùng biểu kiến (vùng ánh sáng
nhìn thấy được bằng mắt thường), chuyển sang sử dụng các bản sao hồng
ngoại hoặc tử ngoại.
27.Nguyên tắc “rẻ” thay cho “đắt” :
Thay đối tượng đắt tiền bằng bộ các đối tượng rẻ có chất lượng kém hơn (ví
dụ như tuổi thọ).
28.Thay thế sơ đồ cơ học :
Thay thế sơ đồ cơ học bằng điện, quang, nhiệt, âm hoặc mùi vò.
Sử dụng điện trường, từ trừơng và điện từ trường trong tương tác với đối

35.Thay đổi các thông số hoá lý của đối tượng :
Thay đổi trạng thái đối tượng.
Thay đổi nồng độ hay độ đậm đặc; Thay đổi dộ dẻo.
Thay đổi nhiệt độ, thể tích.
36.Sử dụng chuyển pha :
Sử dụng các hiện tượng nảy sinh, trong các quá trình chuyển pha như thay đổi
thể tích, tỏa hay hấp thu nhiệt lượng …
37.Sử dụng sự nở nhiệt :
Sử dụng sự nở (hay co) nhiệt của các vật liệu.
Nếu đã dùng sự nở nhiệt, sử dụng với vật liệu có các hệ số nở nhiệt khác
nhau.
38.Sử dụng các chất ôxy hóa mạnh :
Thay không khí thường bằng không khí giàu ôxy.
Thay không khí giàu ôxy bằng chính ôxy.
Dùng các bức xạ iôn hóa tác động lên không khí hoặc ôxy.
Thay ôxy giàu iôn (hoặc ôxy bò iôn hóa) bằng chính ôxy.
39.Thay đổi độ trơ :
Thay môi trường thông thường bằng môi trường trung hòa.
Đưa thêm vào đối tượng các phần, các chất, phụ gia trung hòa.
Thực hiện quá trình trong chân không.
40.Sử dụng các vật liệu hợp thành (composite) :
Chuyển từ các vật liệu đồng nhất sang sử dụng những vật liệu hợp thành
(composite), Hay nói chung sử dụng các loại vật liệu mới.
o MỘT VÀI VÍ DỤ ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN TẮC GIẢI
QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG LĨNH VỰC TIN HỌC :
- p dụng Nguyên tắc phân nhỏ : Trong bài toán độ thò, người ta sử dụng
nguyên lý kỹ thuật cho hiển thò hình ảnh thông qua hàng triệu điểm có tọa độ (x,y)
rời rạc - từng pixel rời rạc, và trong mỗi pixel chứa các thuộc tính màu sắc, ánh
sáng… Với kỹ thuật này, ta có thể tạo, xóa hay thay đổi thuộc tính của từng pixel
của các đối tượng, hình ảnh được hiển thò như một lưới điểm rời rạc (grid), từng

else { x++; px += ry2*2; p += rx2 - py + px; }
plot(xc, yc, x, y, color);
}}
void main()
{
int gr_drive = DETECT, gr_mode;
initgraph(&gr_drive, &gr_mode, "");
Bresenham_Ellipse(getmaxx() / 2, getmaxy() / 2, 150, 80, 4);
getch();
closegraph();
}
- Áp dụng nguyên tắc chứa trong : Ngày này trong các dự án tin học lớn,
người ta không còn tạo ra một chương trình chính giải quyết xuyên suốt một loạt
các yêu cầu từ đầu đến cuối; mà người ta phân ra thành từng những modun chức
năng và trong mỗi mỗi modun lại chứa các chương trình con. Trong mỗi chương
trình con lại chứa những chương trình con khác.
Hay chương trình quản lý file Explore trong windows, việc tổ chức tạo và
lưu trữ cây thư mục và file, từng Folder có thể chứa những Folder con khác và tiếp
tục như vậy những Folder khác lại chứa những Folder con khác nữa. Việc thiết kế
theo nguyên tắc chứa trong này làm cho việc lưu trữ trong sáng, gọn gàng, dễ
dùng và dễ quản lý.
- Áp dụng nguyên tắc tác động theo chu kỳ : Các hãng sản xuất máy tính
áp dụng chia thời gian xử lý của CPU thành những chu kỳ xung - clock frequency
nhỏ, trong mỗi clock bộ vi xử lý procesor của CPU giải quyết 1 vấn đề – từ đó giải
quyết được bài toán hệ điều hành đa nhiệm (Multi Tasking), chẳng hạn hệ điều
hành Windows, WinXP,… cùng lúc có thể chạy được nhiều chương trình ứng dụng,
thay cho hệ điều hành MS DOS trước đây chỉ chạy được tuần tự từng chương trình
ứng dụng.
Hay trong việc truyền file trên internet, người ta sử dụng nguyên tắc chu kỳ,
trong một chu kỳ mỗi máy tính chỉ được gởi hay nhận từng gói tin nhỏ (Block/

để thông báo cho người sử dụng biết trạng thái hoạt động máy tính, tình trạng
chương trình nhà sản xuất phần mềm thường sử dụng màu sắc giúp cảnh báo vấn
đề cho người sử dụng. Thông thường màu xanh biểu hiện cho trạng thái bình
thường, màu đỏ biểu hiện cho trạng thái không an toàn bất ổn.
- Áp dụng nguyên tắc vượt nhanh: Trong máy tính, khi chúng ta khởi động
máy, máy sẽ kiểm tra bộ nhớ RAM, chúng ta muốn vượt qua phần kiểm tra này thì
bấm phím “ESC”. Trong các ngôn ngữ lập trình, cấu trúc rẽ nhánh giúp chương
trình vượt nhanh qua các phần không thỏa điều kiện. Hay để dừng, ngắt thoát khỏi
vòng lặp bò lặp vô tận thường ta sử dụng phím “Break”, hay tổ hợp phím “Cotrol
+ Alt + Del”
- Áp dụng nguyên tắc vạn năng : Máy vi tính ngày càng có nhiều chức
năng từ việc đáp ứng nhu cầu xử lý, tính toán công việc hàng ngày, điều khiển tự
động, thiết kế đồ họa, tìm kiếm thông tin, nó còn sử dụng để học ngoại ngữ, giải
trí như : Nghe nhạc, xem phim, chơi game.
- Áp dụng nguyên tắc “tách khỏi”: Chúng ta thấy rằng, các thế máy tính
đầu tiên sử dụng bóng đèn điện tử, hệ điều hành máy tính, phần mềm sử dụng
được thiết kế tích hợp vào bên trong phần cứng cồng kềnh, muốn chỉnh sửa không
được; phần mềm đi liền với phần cứng khiến giá cả đắt. Trong khi đó ngày nay hệ
điều hành, phần mềm sử dụng được tách khỏi phần cứng, nên chúng dễ dàng
chỉnh sửa, nâng cấp và đa dạng phong phú người sử dụng tha hồ sử dụng tùy thích
mà giá cả lại không đắt.
Ví dụ : Việc tìm một khóa trên BST có thể thực hiện nhờ đệ quy. Chúng ta bắt đầu
từ gốc. Nếu khóa cần tìm bằng khóa của gốc thì khóa đó trên cây, nếu khóa cần
tìm nhỏ hơn khoa ở gốc, ta chỉ phải tìm nó trên cây con trái, nếu khóa cần tìm lớn
hơn khóa ở gốc, ta chỉ phải tìm nó trên cây con phải. Nếu cây con (trái hoặc phải)
là rỗng thì khóa cần tìm không có trên cây.
Search_binary_tree(node, key);
If node is Null then
return; None /* key not found */
Else


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status