de cuong on tap mon quan ly nguon nhan luc xa hoi - Pdf 20

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN
QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC XÃ HỘI
PHẦN DÂN SỐ
Câu 1: Trình bày khái niệm cơ cấu dân số? Ý nghĩa thực tiễn nghiên cứu.
Tlời:
Cơ cấu dân số là sự phân chia dân số thành các bộ phận theo những tiêu chí
nhất định, độ tuổi, nghề nghiệp, giới tính, trình độ, nghiên cứu sinh học.
Cơ cấu dân số là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc,
trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác
(Khoản 3 điều 3 PLDS)
Theo cách xác định trên, cơ cấu dân số nhằm phản ánh các đặc trưng của mỗi
người dân và của toàn bộ dân số. Các đặc trưng về giới tính, độ tuổi phản ánh
về nhân khẩu học, các đặc trưng về dân tộc, tôn giáo, tình trạng hôn nhân,
trình độ học vấn phản ánh về mặt kinh tế. Ngoài ra các đặc trưng khác về giai
cấp, thành phần xã hội nhằm phân loại tập hợp người theo các khía cạnh của
đời sống xã hội.
Trong thực tế, khi phân loại dân số theo các đặc trưng khác nhau với các mục
đích nghiên cứu khác nhau, chúng ta thường gặp khái niệm về cơ cấu dân số
xã hội như cơ cấu giai cấp bao gồm địa chủ, phú nông, bần cố nông, tư sản,
tiểu tư sản, dân sinh nghèothành thị, công nhân hoặc cơ cấu lực lượng sản
xuất bao gồm nông dân, thợ thủ công, công nhân, cán bộ, công chức.
Cơ cấu dân số phản ánh xu hướng nhân khẩu và phan ránh sự tiến bộ xã hội,
đồng thời cơ cấu dân số có ảnh hưởng nhất định tới sự phát triển và duy trì ổn
định xã hội. Cơ cấu dấn số hợp lý góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển duy trì
sự ổn định xã hội. Ngược lại, mất cân đối về cơ cấu dân số thì sẽ tác động tiêu
cực tơớiquaátrình phát triển kinh tế và gây mất ổn định trong xã hội.
Cơ cấu dân số theo nam, nữ nhìn chung chênh lệch không nhiều. Nam giới
chiếm tỉ lệ lớn hơn nữ giới ở độ tuổi dưới 15; từ 65 tuổi trở lên nữ giới có tỷ lệ
cao hơn hẳn nam giới. Cơ cấu dân số theo độ tuổi ở các nước đang phát triển
nhìn chung là trẻ. tại các nước này tỉ lệ dân số dưới 15 tuổi đạt mức kỷ lục vào
thời kỳ 1975 – 1990, số lượng vị thành niên chiếm 45% dân số, hiện nay

nguồn lao động cung ứng cho sự phát triển của kinh tế- xã hội và có hướng giải
quyết những vấn đề nảy sinh do sự tăng nhanh của lực lượng lao động.
Ở Việt Nam mỗi năm có thêm khoảng 1,39 triệu trẻ em. Nhà nước cần có chính
sách đáp ứng nhu cầu giáo dục đối với thế hệ trẻ, bảo vệ và chăm sóc trẻ
em Bên cạnh đó cần đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm sinh để có thể đạt mức
sinh thay thế. Tỷ lệ nam, nữ nhìn chung chệnh lệch không lớn. nữ giới VN có
tuổi thọ bình quân 69 tuổi trong khi năm giới 64 tuổi. Chính sách dân số cũng
như các chính sách xã hội khác cần có giải pháp hữu hiệu để nâng cao trình độ
học vấn cho nữ giới, thực hiện bình đẳng đối với nữ, chăm sóc sức khoẻ sinh
sản. Việc nghiên cứu cơ cấu dân số giúp Chính phủ đề ra các chiến lược phát
triển kinh tế xã hội phù hợp với tình hình dân số của cả nước.
Tuổi thọ bình quân của nước ta khá cao so với mức thu nhập thấp của nền kinh
tế và tiếp tục tăng từ 66 tuổi năm 1989, lên 68 tuổi năm 1999 và 71 tuổi năm
2002. Tuổi thọ bình quân của nam thường thấp hơn nữ 4 tuổi, trong khi mức
chênh lệch tuổi thọ giữa nam và nữ ở Nhật bản là 6 tuổi, ở các nước Châu âu
tới 8 tuổi. LHQ đánh giá VN là 1 trong 10 nước có tuổi thọ tăng nhanh nhất
trong thời kỳ 1950 - 2000. Tuy nhiên, tuổi thọ bình quân khỏe mạnh của nước
ta lại thấp đi rất nhiều, chỉ là 58,2 tuổi và xếp thứ 116 so với 174 nước trên thế
giới. Tính đến thời điểm 01/4/1999, cả nước vẫn còn 6,8 triệu người từ 10 tuổi
trở lên chưa bao giờ đến trường, trong đó có 5,3 triệu người hoàn toàn không
biết chữ. Tỷ lệ số người đã qua đào tạo ngề nghiệp và chuyên môn kỹ thuất
chiếm 7,6% dân số từ 13 tuổi trở lên, trong đó có 2,3% là công nhân kỹ thuật
và nhân viên nghiệp vụ có bằng cấp, 2,8% có trình độ trung học chuyên nghiệp,
0,7% cao đẳng, 1,7% đại học và 0,1% có trình độ trên ĐH. Cơ cấu đào tạo bất
hợp lý, quan hệ tỷ lệ đào tạo giữa 3 loại trình độ chuyên môn kỹ thuật theo tiêu
chuẩn quốc tế là đại học và trên đại học 1; trung học chuyên nghiệp 4; công
nhân kỹ thuật 10, thì nước ta là 1-1,13-0,92. Để tránh nguy cơ tụt hậu, cùng với
việc giải quyết vấn đề quy mô dân số đòi hỏi chúng ta phải xây dựng và thực
thi 1 chiến lược dài hạn nhằm nâng cao chất lượng dân số VN cả thể lực và trí
lực.

quán và tâm lý chung của xã hội cũ đặc biệt ở vùng nông thôn truyền thốn đã
làm tăng mức sinh. Kết hôn muộn, gia đình ít con, bình đẳng giữa nam và nữ cả
trong gia đình và ngoài xã hội là tiêu biểu của tập quán và tâm lý xã hội mới.
Những yếu tố này đã tạo điều kiện cho quá trình sinh giảm mạnh.
Những yếu tố kinh tế: Nhóm yếu tố này rất đa dạng và tác động theo nhiều
hướng khác nhau. Có nhiều quan điểm khác nhau về ảnh hưởng của nó đối với
mức sinh. Trên bình diện chung đã chứng minh rằng, đời sống thấp thì mức
sinh cao và ngược lại. tuy nhiên, ở cấp độ hộ gia đình, đời sống vật chất đâyd
đủ có tác động trực tiếp làm mức sinh cao hơn và tác động gián tiếp làm mức
sinh giảm đi. khi phân tích ảnh ưởng của các yếu tố kinh tế đến mức sinh phải
thấy mối quan hệ phức tạp, tác động lẫn nhau giữa yếu tố này với yếu tố khác,
cả trực tiếp và gián tiếp, cả thuận và nghịch.
Chính sách dân số: là những chủ trương và biện pháp của Nhà nước nhằm điều
tiết quá trình biến đổi dân số. Đây là công cụ quan trọng và thực tế đã phát huy
tác dụng rất to lớn trong việc điều tiết quá trình biến động dân số theo hướng
cần thiết. Chính sách dân số có thể là khuyến khích hoặc hạn chế mức sinh, tuỳ
theo điều kiện của từng nước trong từng thời kỳ. Một số quốc gia Châu âu có
chính sách hoặc chủ trương khuyến khích sinh đẻ, trong khi đó đa số các nước
đang phát triển có chính sách điều tiết và giảm sinh như Trung quốc, Thái Lan,
Việt Nam
Mức sinh chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, nhưng nó vẫn diễn ra
theo một xu hướng nhất định, có tính quy luật. Trong cùng một thời kỳ, đối với
các nước, các vùng khác nhau, sự biến động mức sinh cũng khác nhau. Các chỉ
số về tỷ suất sinh thô và tổng tỷ suất sinh của các nước đang phát triển thường
cao hơn ở các nước đều có xu hướng giảm mạnh nhưng khoảng cách giữa 2
nhóm nước trên vẫn chưa thu hẹp nhiều.
Ở VN sau ngày hoà bình lập lại, trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp,
những tập quán và tâm lý lạc hậu về số lượng con và con trai đã có tác động
đến mức sinh cao. đánh giá mức sinh không chỉ căn cứ vào tỷ suất sinh thô, mà
còn phải dựa vào tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi; năm 1999 so với năm 1989,

sống của người dân được đảm bảo và được nâng cao. Nền kinh tế phát triển và
trình độ dân trí của người dân ngày càng được nâng cao, chăm sóc sức khỏe
con cái một cách khoa học, giảm tỷ lệ chết. và ngược lại nếu tỷ suất chết trẻ sơ
sinh cao thì nó thể hiện đó là một nền kinh tế kém phát triển, lạc hậu, đời sống
của người dân quá thấp, các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em
không đáp ứng được nhu cầu do đó mà tỷ suất chết trẻ sơ sinh cao.
Ví dụ: ở các nước Châu Phi có mức chết trẻ sơ sinh cao, do đó nghèo đói và
thiếu dinh dưỡng.
+Giải pháp nào làm giảm mức chết:
-Thực hiện mạnh mẽ chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình, giảm tỷ lệ sinh
dần dần tiến tới mức sinh ổn định, dân số ổ định.
-Đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội nâng cao đời sống cho người dân.
-Tăng cường các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe cho người dân.
-Tuyên truyền cách sống khoa học, chăm sóc con cái đúng cách để giảm tỷ lệ
chết.
Câu 5 : Công bằng giới có ý nghĩa lớn vì vậy giải quyết các vấn đề dân số
đặc biệt là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và dân số như thế nào ?
TLời:
Bình đẳng giới là tạo ra những điều kiện cơ hội ngang nhau để cả nam và nữ
thể hiện được khả năng của mình mà không là triệt tiêu những sự khác biệt tự
nhiên giữa giới nam và nữ.
Công bằng giới phải được thiết lập ở mọi lĩnh vực của đời sống, từng giai đoạn
cũng như toàn XH. Nó có ý nghĩa lớn đối với việc giải quyết vấn đề dân số.
Bởi vì số lần sinh con khoảng cách sinh con sử dụng các biện pháp tránh thai,
nuôi dạy con cái có chất lượng. Một phần lớn phụ thuộc vào ý thức, trách
nhiệm khả năng tham gia và sự hợp tác chặt chẽ của hai chủ thể chính trong
quá trình phát triển dân số là nam và nữ.
Cả nam và nữ đều là chủ thể quyết định quá trình phát triển dân số, nhưng do
sự tồn tại những suy nghĩ lệch lạc về giới của XH và trong bản thân mỗi con
người cũng làm tăng sức ép tâm lý của phụ nữ về trách nhiệm của người dân.

= 20 -> 29 tuổi, trung bình
=>30 tuổi, rất già.
# Qui mô dân số :
Theo tổng điều tra dân số 1999 qui mô dân số nước ta là 76.327.919 người.
Nước ta là nước đứng thứ 2 Đông Nam Á và đứng hàng thứ 13 trên Thế giới.
Qui mô dân số nước ta ngày càng lớn và nhịp độ tăng trưởng dân số ngày càng
tăng nhanh, đặc biệt thời gian để dân số tăng gấp đôi luôn được rút trong những
năm gần đây.
Với qui mô dân số và cơ cấu dân số như vậy có một số khó khăn và thuận lợi
phát triển kinh tế XH
Cơ cấu dân số theo độ tuổi ở VN đang biến đổi theo hướng giảm tỷ trọng trẻ
em dưới 15 tuổi và tăng tỷ trọng người già trong tổng số dân. tuy nhiên về cơ
bản, VN có kết cấu dân số trẻ. Tỷ số giới tính liên tục tăng từ 94,2 năm 1979
lên 96,7 năm 1999 nhưng vẫn còn mất cân đối giữa nam và nữ trong tổng số
dân.
1/ Thuận lợi :
- Với qui mô dân số đông nước ta có nguồn lao động dồi dào, đáp ứng cho việc
phát triển KT-XH.
- Với qui mô dân số trên, nguồn lao động dồi dào, giá nhân công tương đối rẻ
so với các nước khác trong khu vực, do đó thu hút được đầu tư nước ngoài vào
VN, đặc biệt là ở những ngành công nghiệp cần nhiều công nhân.
- Cơ cấu dân số trẻ, có người lao động trẻ, khoẻ dễ tiếp thu được khoa học công
nghệ tiên tiến trên thế giới, hăng say làm việc.
- Tạo lợi thế cho nước ta về lao động, xuất khẩu lao động ra nước ngoài, thu hút
đầu tư, giảm giá thành sản phẩm tăng sức cạng tranh của sản phẩm. Sản phẩm
của VN thường có giá thành rẻ hơn so với các sản phẩm cùng loại, cùng chất
lượng với sản phẩm của các nước trong khu vực.
2/ Khó khăn :
- Với qui mô dân số quá đông như vậy đã gây sức ép về lao động và việc làm,
với sự tăng nhanh của lực lượng lao động, mỗi năm tăng thêm 1,2 triệu lao

KHHGĐ tăng cường vai trò của gia đình và thực hiện bình đẳng giới trong việc
sức khoẻ sinh sản KHHGĐ là các giải pháp cơ bản để đảm bảo tính bền vững
của chương trình.
- Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và chính quyền các cấp trên cơ sở có bộ máy
chuyên trách đủ mạnh và đẩy mạnh XH hoá là yếu tố quyết định đảm bảo sự
thành công của chương trình dân số và phát triển.
Làm rõ quan điểm “ Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho sự phát triển bền
vững và mang lại hiệu quả KT-XH trực tiếp và rõ rệt”
Đầu tư cho con người là một việc rất tốn kém, trong suốt quá trình phát triển
của một con người ngay từ khi còn trong bụng mẹ trẻ em phải được chăm sóc
một cách tốt nhất về thể chất, đến khi được sinh ra thì nhu cầu đòi hỏi trong
việc hình thành nhân một con người hoàn chỉnh từ nhu cầu ăn mặc, chăm sóc
sức khoẻ, học hành đến giải trí, do đó việc giảm dân số là một chiến lược lâu
dài và bền vững, giảm đầu tư của gia đình, xã hội. trong điều kiện kinh tế hạn
hẹp muốn nâng con chất lượng dân số, cuộc sống thì phải giảm dân số mới tạo
điều kiện phát triển bền vững.
Câu 8 : Nêu các mục tiêu và biện pháp thực hiện chính sách dân số VN
hiện hành, các giải pháp nào là giải pháp cơ bản.
Mục tiêu :
Mục tiêu tổng quát của chính sách dân số là thực hiện gia đình ít con, khoẻ
mạnh, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; nâng cao chát lượng
dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hoá - hiện đại hoá, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Mục tiêu cụ thể: là mỗi gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con, để tới năm 2015 bình
quân trong toàn xã hội mỗi cặp vợ chồng có 02 con, tiến tới ổn định quy mô
dân số từ giữa thế kỷ 21. Duy trì xu thế giảm sinh một cách vững chắc để đạt
mức sinh thay thế bình quân trong toàn quốc để quy mô dân số và phân bố dân
cư phù hợp với phát triển kinh tế- xã hội vào năm 2010; nâng chất lượng dân số
về thể chất, trí tuệ và tinh thần, phấn đấu đạt chỉ số phát triển con người (HDI)
ở mức trung bình tiên tiến thế giới vào năm 2010.

ngành theo kế hoạch dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý thống nhất của Nhà
nước.
- Tăng cường vai trò của cộng đồng.
- Huy động sự đóng góp tự nguyện của các tổ chức, công đồng và người dân
đối với công tác dân số.
# Tài chính và hậu cần.
- Huy động sự đóng góp tài chính từ nhiều nguồn dưới sự lãnh đạo của Nhà
nước và chính quyền các cấp.
- Sử dụng và quản lý nguồn lực.
- Chủ động sản xuấtt, nhập khẩu và cung ứng các phương tiện, dụng cụ tài liệu.
- Nâng vao hiệu quả hệ thống hậu cần về CSSKSS/KHHGĐ từ trung ương đến
địa phương
# Đào tạo và nghiên cứu .
- Nâng cao chất lượng hệ thống đào tạo chuyên ngành dân số theo hướng đổi
mới cả về phương pháp và nội dung phục vụ thjiết thực các yêu cầu mới của
công tác dân số.
- Gắn nghiên cứu với thực tế, triển khai đồng bộ các loại hình nghiên cứu, thừa
kế vốn sản có, phát huy nội lực đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế nhằm tạo
ra những nghiên cứu có chất lượng, vừa phục vụ công việc trước mắt, vừa
chuẩn bị cho các bước phát triển của chương trình.
Câu 9 : Nêu nội dung quản lý Nhà nước về công tác dân số và KHHGĐ
của nước ta .
TLời : Được quy định tại điều 33 PLDS
1/ Xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch, chương trình dự án về dân số
trình chính phủ phê duyệt và tổ chức chỉ đạo thực hiện chương trình dự án đó
trong phạm vi cả nước.
2/ Phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng các dự án luật, pháp lệnh văn
bản dân số luật chính sách về dân số KHHGĐ để trình Chính phủ, ban hành
theo thẩm quyền qui định, Thông tư, để hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện các
quyết định của Nhà nước, qui chế quản lý của các chương trình dự án dân số

làm ở nước ta hiện nay.
Trả lời:
Thực trạng dân số Việt Nam:
- Quy mô dân số ngày càng lớn và nhịp độ tăng dân số ngày càng nhanh chóng,
đặc biệt thời gian để dân số tăng gấp đôi luôn được rút ngắn.
-Tổng điều tra dân số năm 1999 nước ta có tổng dân số là 76.327.919 người.
-Cơ cấu dân số Việt Nam theo độ tuổi đang biến đổi theo hứơng giảm tỷ trọng
trẻ em dưới 15 tuổi và tăng tỷ trọng người già. Tuy nhiên nhìn chung dân số
nước ta vẫn là dân số trẻ.
-Tỷ số giới tính liên tục tăng từng 94,2 (năm 1979) lên 96,7 (năm 1999) nhưng
vẫn mất cân đối giữa nam và nữ.
-Mật độ dân số Việt Nam tăng lên nhanh chóng và thuộc loại cao trong khu vực
và trên thế giới nhưng phân bố không đồng đều giữa các vùng.
-Vùng đất hẹp thì tập trung nhiều: đồng bằng chiếm 24,3% diện tích lãnh thổ
nhưng lại có tới 56,26% dân số.
-Dân số Việt Nam đại bộ phận sống ở nông thôn (76,5%).
Từ thực trạng dân số VN có ảnh hưởng quy mô và chất lượng nguồn nhân lực.
-Với dân số tới dưới 80 triệu người đây là nguồn hình thành nguồn nhân lực tự
nhiên của nước ta, nước ta có quy mô nguồn nhân lức đông đảo có khoảng dưới
40 triệu trong độ tuổi lao động.
-Dân số nước ta là dân số trẻ, do đó có nguồn nhân lực dồi dào, mỗi năm nước
ta tăng thêm khoảng 1 đến 1,2 triệu lao động, hiện nay nước ta có khoảng 40
triệu người trong độ tuổi lao động.
-Dân số đông, nguồn nhân lực dồi dào tạo động lực để phát triển đất nước, phát
triển kinh tế- xã hội, thu hút được nhiều sự đầu tư của nước ngoài do giá nhân
công ở nước ta tương đối rẻ so với các nước khác trong khu vực, đồng thời
nguồn nhân lực nước ta có sức khỏe, ham học hỏi, tiếp thu khoa học công nghệ
tiên tiến rất nhanh của thế giơ.
-Ngoài ra cũng có những tác động tiêu cực, với dân số động và tăng nhanh
trong đó kinh tế lại chưa phát triển tiến kịp với phát triển dân số do đó đã tạo ra

-Chính sách đa dạng hóa các hoạt động y tế chăm sóc sức khoẻ người dân, xã
hội hóa sự nghiệp giáo dục y tế.
-Chính sách đầu tư cho y tế, sử dụng ngân sách sự nghiệp.
-Chính sách bảo hiểm y tế.
-Chính sách phòng trừ các tệ nạn xã hội và các dịch bệnh.
-Chính sách về thể dục thể thao, phát triển cộng đồng.
Rèn luyện thể dục thể thao, không chỉ rèn luyện thể lực mà còn giáo dục tin
thần ý chí tập thể, đồng đội một phẩm chất quan trọng nguồn nhân lực.
Một trong những chính sách được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và đầu tư
nhiều nhất là vấn đề giáo dục đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực VN để
đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước. Đảng và nhà nước coi sự nghiệp
giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Do đó đầu tư cho giáo dục là đầu tư
cho sự phát triển bền vững của đất nước và sẽ thu được những thành quả to lớn
từ sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Trong những năm qua chúng ta đã chúng trọng đầu tư cho sự nghiệp giáo dục
đào tạo đã đa dạng hóa các loại hình đào tạo từ công lập dân lập, bán công, tư
thục các cơ sở trường lớp dụng cụ giảng dạy được đầu tư tăng cường đội ngũ
giáo viên ngày càng được nâng cao về trình độ chuyên môn Chất lượng giáo
dục ngày càng được nâng cao. Do đó chất lượng nguồn nhân lực ngày càng
được nâng cao, số người lao động qua đào tạo đã tăng lên đáng kể, đáp ứng
được ngày càng nhiều yêu cầu phát triển của đất nước.
Tuy nhiên sự nghiệp giáo dục đào tạo của đất nước ta vẫn còn nhiều bất cập.
Ngân sách đầu tư cho giáo dục vẫn còn rất hạn chế, chất lượng giáo dục vẫn
còn nhiều điều cần phải bàn, sự quản lý của nhà nước đối với giáo dục vẫn
chưa sát sao và không có hiệu quả, các chương trình đào tạo có rất nhiều bất
cập so với sự phát triển của đất nước, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân
lực VN vẫn còn một số lượng lớn lực lượng lao động chưa qua đào tạo không
có tay nghề tình hình thất nghiệp tăng nhanh, trình độ nguồn nhân lực chưa đáp
ứng yêu cầu của đất nước.
Câu 2: Trình bày và phân tích các đặc điểm chủ yếu của nguồn nhân lực

không làm chủ được các công nghệ hiện đại tiên tiến của thế giới, không cạnh
tranh được với thị trường lao động của khu vực và trên thế giới do đó nó sẽ kìm
hãm sự phát triển của đất nước.
-Cơ cấu nguồn nhân lực VN vẫn còn rất lạc hậu so với thế giới, đặc biệt so với
các nước phát triển. Người lao động VN còn tập trung quá nhiều ở khu vực
nông nghiệp, chiếm tới 62,56%.
Trong đó ở các nước phát triển thì tỷ lệ này là rất thấp.
Tỷ lệ ở các ngành công nghiệp và dịch vụ thì lại chiếm rất ít: 13,5% và 24,29%.
Trong đó ở Anh công nghiệp 30%, Nhật 34%.
Có tình trạng phân bố cơ cấu nguồn nhân lực như vậy là do kinh tế của ta chưa
phát triển, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chủ yếu, công nghiệp và dịch vụ
mới đang bước đầu phát triển .
Trong những năm tới cơ cấu nguồn nhân lực sẽ có sự thay đổi tăng dần tỷ trọng
lao động công nghiệp và dịch vu, giảm dần tỷ trọng lao động nông nghiệp, để
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá .
Muốn làm được điều đó thì chúng ta phải phát triển đồng bộ tất cả lĩnh vực
kinh tế xã hội văn hoá, ytế giáo dục Để đưa đất nước ta lên. Phân công lại lao
động trong các thành phần kinh tế, ngành kinh tế, vùng kinh tế để phát triển
phù hợp với tình hình mới. Chính vì nguồn nhân lực là mục tiêu và là động lực
chủ yếu của sự phát triển, nên trong nghị quyết đại hội VIII đã nêu: nâng cao
dân trí, phát huy nguồn nhân lực to lớn của Việt Nam là nhân tố quyết định nền
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về nguồn nhân lực thể hiện rất rõ qua các chủ trương, chính sách nhằm tác
động đến nguồn nhân lực như kế hoạch hoá gia đình, xuất khẩu lao động, đào
tạo và đào tạo lại với chương trình ngắn hạn, dài hạn cho phù hợp và cân đối,
cùng với tính cần cù chịu khó, thông minh, sẽ tạo ra nguồn lực trong tương lai
có đủ khả năng đáp ứng sự phát triển kinh tế xã hội cho đất nước.
Câu 3 : Phân tích vai trò chính sách giáo dục và đào tạo trong phát triển
nguồn nhân lực. Liên hệ thực tiển thực hiện chính sách đó nhằm nâng cao
phát triển nguồn nhân lực

lập, bán công tư thục , đây là những cơ sở đào tạo tay nghề chính cho nguồn
nhân lực nước ta.
Chúng ta đã cơ bản xoá được nạn mù chữ, phổ cập giáo dục Tiểu học, đây là
tiền đề quan trọng để đào tạo nguồn nhân lực có trình độ có chất lượng và tiếp
thu nhanh được khoa học công nghệ tiên tiến của khu vực và Thế giới ,
Các cấp bậc học, ngành học ngày càng được mỡ rộng, các trường Trung học
chuyên nghiệp, dạy nghề được phát triển rộng khắp, đây là cơ sở để đào tạo tay
nghề trực tiếp cho nguồn nhân lực nước ta .
Đội ngũ cán bộ giảng dạy ngày càng được nân cao về trình độ chuyên môn đây
là đội ngũ rất quan trọng để phát triển chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam .
Cơ sở vật chất cho giáo dục đào tạo ngày càng được nâng cao đáp ứng ngày
càng tốt hơn cho sự nghiệp giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn
nhân lực .
Các chương trình giảng dạy ngày càng được cải tiến cho phù hợp với tình hình
mới, đây là điều kiện để nước ta hội nhâp với khu vực và trên thế giới
Liên hệ thực tế :
Tuy nhiên trong thực tiển hiện nay thì vấn đề giáo dục đào tạo còn có rất nhiều
điều cần phải bàn về chất lượng giáo dục, cơ sở vật chất, chính sách, ngân
sách .
- Tuy chúng ta đã phát triển mỡ rộng được các loại hình đào tạo, tuy nhiên chất
lượng của các trường dân lập, bán công bổ túc vẫn còn rất nhiều hạn chế
- Mặc dù các cấp học bậc học đã được mỡ rộng tuy nhiên hệ thống các trường
Trung học chuyên nghiệp, trung học dạy nghề vẫn còn thiếu rất nhiều, nguồn
nhân lực chưa qua đào tạo
- Chế độ đào tạo giảng dạy đã rất củ mà chưa được đổi mới về giáo trình, bài
giảng vẫn đến không tiếp cận những chương trình giảng dạy của khu vực và thế
giới .
Hướng giải quyết :
- Tiến hành xã hội hoá giáo dục nhanh hơn nữa trong thời gian tới, khuyến
khích các thành phần tham gia vào sự nghiệp giáo dục của Nhà nước, dưới sự

phát triển toàn diện mọi mặc kinh tế xã hội .
Lực lượng lao động nước ta ngày càng được đào tạo chuyên môn kỹ thuật do
đó chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao, đáp ứng sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá .
Giá nhân công nước ta tương đối rẽ do đó tạo điều kiện thu hút được sự đầu tư
nước ngoài > Xuất khẩu lao động
Lực lượng lao động đông trong khi kinh tế chưa phát triển kịp so với sự gia
tăng dân số . Hiện nay để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chúng ta phải
chú ý tới những giải pháp sau :
+ Tăng cường giáo dục đào tạo
+ Phát triển kinh tế xã hội.
+ Xuất khẩu lao động .
+ Giảm tỷ lệ sinh .
Đầu tư hơn nữa cho công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực .
Câu 5: Tại sao nói nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất
nước trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá .
Trả lời :
Nguồn nhân lực là mục tiệu tác động chính của sự phát triển.
Nói đến vai trò nguồn nhân lực là nói đến vai trò của con người trong sự phát
triển. Con người là trung tâm của mọi sự phát triển, mọi sự phát triển đều
hướng vào mục tiêu duy nhất là phục vụ con người .
Vai trò của con người được thể hiện ở hai mặt : Trước hết con người là người
tiêu dùng đồng thời con người cũng là chủ thể sản xuất ra các sản phẩm .
Sự tiêu dùng của con người là nguồn góc của sự phát triển, với nhu cầu ngày
càng phát triển và đòi hỏi đáp ứng nhu cầu của con người ngày càng nâng cao,
Sản xuất là để phục vụ tiêu dùng và tiêu dùng là động lực thúc đẩy sản xuất .
Con người thông qua quá trình lao động sản xuất đã ngày càng đáp ứng hơn
nhu cầu tiêu dùng của mình, thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người
ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn, chỉ có thông qua lao động sản xuất con
người mới sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần, lao động của con người

động vào sản xuất xã hội mà còn thể hiện ở trình độ phát huy mọi tiềm năng
sẵn có của mọi lực lượng lao động trong quá trình hoạt động.
-Theo nghĩa hẹp thì sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực xã hội là được thể hiện
các chỉ tiêu mức độ sử dụng thời gian lao động và mức tăng năng suất lao động
cá nhân.
Sử dụng nguồn nhân lực xã hội là đề cập người lao động có việc làm trong xã
hội, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực xã hội không chỉ là mức độ thu hút
lực lượng lao động vào sản xuất xã hội, là thu hút khả năng sẵn có của mọi lực
lượng lao động sản xuất trong xã hội.
#Tại sao lại sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực xã hội:
-Thứ nhất: Công nghiệp sản xuất hiện đại luôn đòi hỏi đội ngũ lao động phát
huy cao độ trí tuệ và óc sáng tạo. Điều đó phụ thuộc rất lớn vào cách thức và
hình thức sử dụng nguồn nhân lực một cách có hiệu quả. Tổ chức lao động
không tốt trước hết không phát huy được trí tuệ của con người đã được đào tạo
và thiếu sáng tạo.
-Cùng với vai trò to lớn của khoa học công nghệ, nguồn nhân lực, đặc biệt là
lao động có trí tuệ ngày càng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển sản
xuất xã hội. Tuy nhiên lực lượng lao động có trí tuệ có được đưa vào phát triển
kinh tế xã hội hay không lại phụ thuộc rất lớn vào tổ chức lao động xã hội.
Thực tiễn nhiều quốc gia cho thấy hiện tượng chảy máu chất xám, sự lệch lạc
trong phân công lao động xã hội gây ra những tổn thất đáng kể các nguồn lực,
đặc biệt là nguồn lực trí tuệ.
-Tính tích cựa và hoạt động sáng tạo của con người lao động một yếu tố cơ bản
của tăng năng suất lao động và là yếu tố không thể thiếu được của sự phát triển
hiện đại, chỉ có được bởi việc quản lý và sử dụng con người một cách khoa
học, dân chủ, nhân văn
-Một trong những con đường tạo nên sức mạnh cạnh tranh hàng hóa thị trường
trong nước khu vực và thế giới là hạ thấp chi phí tiền lương trong giá thành sản
phẩm. Điều đó chỉ có được khi sử dụng ngày càng cao có hiệu quả hơn sức lao
động xã hội. Để có được những điều trên thì nguồn nhân lực không chỉ được

sóc sức khỏe cho người dân đã đạt được những thành công đáng kể góp phần
nâng cao sức khỏe cho người dân và ổn định xã hội, đã cải thiện đáng kể chất
lực nguồn nhân lực VN.
-Mạng lưới y tế đã được củng cố và phát triển mạnh mẽ từ TƯ đến địa phương,
tận thôn bản. Cuối năm 2002: cả nước có 9/61 tỉnh thì có 100% số xã phường
có Bác sĩ, 23/61 tỉnh thành đạt được 100% số xã phường có y sĩ <40% số thôn
bản có cán bộ y tế.
-Ngành y tế tích cực pgối hợp với chính quyền đòan thể trong việc tuyên truyền
đẩy mạnh vận động giáo dục vệ sinh phòng bệnh.
-Các chỉ số sức khỏe cộng đồng được nâng cao.
-Hệ thống các bệnh viện phòng bệnh được đầu tư, nâng cấp các cơ sở chữa
bệnh tăng lên ngòai công lập.
-Hệ thống y dược học cổ truyền phát triển rất mạnh, sản xuất cung ứng thuốc
trang thiết bị y tế ngày càng hiện đại, áp dụng công nghệ tiên tiến trong chữa
bệnh cho người dân, trình độ chuyên môn của các Bác sĩ được nâng cao.
-Những thành tựu trên của hoạt động y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân đã góp
phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tuy nhiên hoạt động y tế vẫn còn rất
nhiều thách thức cho sự phát triển.
-Sự eo hẹp về đầu tư tài chính cho y tế trong khi yêu cầu đối với khám chữa
bệnh ngày càng cao.
-Tính nhân đạo và mục tiêu phấn đấu để có một nền y tế công bằng luôn luôn bị
tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường.
-Làm thế nào vừa phát triển y tế phổ cập vừa phát triển y tế chuyên sâu tránh
cho y học VN không bị tụt hậu.
-Vấn đề hệ thống Bảo hiểm y tế hiện nay mới đảm bảo 1 phần số lượng, (12 ->
13% dân số). Đối tượng có Bảo hiểm y tế không là người nghèo, mà là những
người có thu nhập cao.
-Sự mất cân đối trong phân bố cán bộ y tế về các tuyến tạo nên sự quá tải cho
các tuyến y tế cấp trên.
-Sự quản lý nhà nước còn kém hiệu quả.

tay nghề cao. Hiện nay nước ta phần động là lao động phổ thông không qua đào
tạo. Số lượng lao động được đào tạo mới chiếm 10%, phấn đấu đạt 25% vào
năm 2000.
-Sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực trước hết phải dựa vào đội ngũ huấn
luyện có số lượng đông đảo và có chất lượng cao.
-Nâng cao ý thức công dân, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và phong cách
làm việc công nghiệp của người lao động.
#Về phẩm chất tâm lý xã hội:
-Có tác phong công nghiệp.
-Có ý thức kỷ luật tự giác cao.
-Có niềm say mê nghề nghiệp, chuyên môn.
-Sánh tạo năng động trong công việc.
#Liên hệ thực tiễn:
Chất lượng NNL trong những năm qua đã được nâng lên đáng kể. Tuy nhiên
chất lượng NNL VN vẫn chưa được đáp ứng yêu cầu của sự CNH-HĐH của
nước ta.
-Về mặt thể lực: NNL VN tuy đã được nâng cao về mặt thể lực, sức khỏe, sự
chịu đựng dẻo dai đã được nâng lên đáng kể. Tuy nhiên người VN vẫn chưa thể
đáp ứng được những yêu cầu về thể lực của tình hình mới và còn xa kém so với
các nước trên thế giới và khu vực.
-Về mặt trí lực: NNL tuy đã được đào tạo và nâng cao về trình độ và tay nghề,
tuy nhiên nhìn chung NNL vẫn là người lao động phổ thông, thủ công chưa qua
đào tạo, số lượng lao động phổ thông vẫn chiếm 72%, số người được đào tạo
vẫn còn thấp và chất lượng đào tạo vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu công việc,
công nghệ cao
-Về tâm lý: Nhìn chung người lao động VN vẫn còn giữ tác phong làm việc
nông nghiệp lạc hậu, khả năng làm việc độc lập kém, không chịu năng động
sáng tạo, sức ỳ vẫn còn rất lớn.
Câu 9: Tại sao nói NNL con người VN là lợi thế và nguồn lực quan trọng
nhất trong phát triển kinh tế xã hội (tương tự câu 5).

cho người khác theo đúng pháp luật, phát huy đến mức cao nhất nhân tố con
người.
-Hình thành và phát triển thị trường lao động trong hệ thống thị trường xã hội
thống nhất.
-Phương hướng có tính chiến lược để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động tiếp
tục phát triển mạnh kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, mở rộng kinh tế đối ngoại.
-Thực hiện phương châm nhân dân tự lo việc làm trong các thành phần kinh tế
là chính, khắc phục tâm lý ỷ lại trông chờ vào nhà nước.
-Nhà nước có trách nhiệm chăm lo giải quyết việc làm cho người lao động.
-Để có việc làm bản thân người lao động phải tự thay đổi nhận thức về việc
làm, trực tiếp liên hệ để tìm việc làm tuỳ theo nguyện vọng, khả năng trình độ
nghề nghiệp và sức khỏe của mình.
-Doanh nghiệp cũng có trách nhiệm đối việc làm của người lao động, doanh
nghiệp có thể nhận người vào học nghề để làm cho doanh nghiệp.
Câu 11: Trình bày các chỉ tiêu đánh giá phát triển NNL. Dựa vào các chỉ
tiêu đó đánh giá chất lượng NNL trong giai đoạn hiện nay.
#Về mặt thể lực:
-Sức khỏe là mục đích của sự phát triển đồng thời là điều kiện của sự phát triển.
Đó là sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần.
-Việc đảm bảo các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe làm tăng chất lượng NNL
cả trong hiện tại lẩn trong tương lai. Việc nuôi dưỡng, chăm sóc cho trẻ em là
nền tảng để có chất lượng NNL trong tương lai. Chăm sóc sức khỏe tốt kéo dài
tuổi lao động.
Việc đầu tư chăm sóc sức khỏe cũng có thể cải thiện nâng cao hiệu quả của các
nguồn lực khác.
-Nâng cao sức khỏe là 1 đòi hỏi chính đáng mà xã hội phải đảm bảo.
-Đánh giá chất lượng NNL và thể lực dựa trên 2 chỉ tiêu:
+Chiều cao trung bình;
+Cân nặng trung bình của thanh niên.

động thực tế có việc làm và những người thất nghiệp.
-Lực lượng lao động bao gồm cả những người có việc làm và những người thất
nghiệp.
-Theo quan điểm này thì lực lượng lao động của ta rộng hơn so với các nước
khác, tổ chức lao động vì nó bao gồm những người cò việc làm và chưa có việc
làm không ở độ tuổi lao động. Vì ở nước ta số trẻ em chiếm tỷ lệ lớn chưa đến
tuổi lao động vẫn phải đi làm. Và những người đã quá tuổi lao động nhưng vẫn
phải đi làm.
-Khái niệm thị trường sức lao động, ca`1c đặc điểm thị trường sức lao động
VN.
-Là không gian diễn ra sự mua bán hàng hóa đặc biệt, hàng hóa sức lao động, là
nơi thực hiện các giá trị sức lao động.
-Đặc điểm thị trường lao động: Khu vực thành thị chính thức là nơi hầu hết mọi
việc làm nếu như có khả năng, khu vực này bao gồm các tổ chức kinh tế lớn
như: Ngân hàng, công ty Bảo hiểm, nhà máy giữa người lao động luôn chò
đóng sức hấp dẫn đối với họ là trả lương cao và công việc ổn định. Lý do cơ
bản để họ được trả lương cao là gì nơi đó thuê nhân công với trình độ chuyên
môn cao, có trình độ ĐH, THCN. Vì vậy khu vực này thường xuyên có 1 dòng
người lao động chờ việc làm.
-Khu vực thành thị không chính thức: là những cơ sở nhỏ hơn ở khu vực thành
thị d0ó là những cửa hàng và cơ sở kinh doanh bên lề đường, sản xuất và buôn
bán bằng nhiều loại hàng hóa và đôi khi cũng có thể cạnh tranh được với những
khu vực lớn hơn.
-Khu vực nông thôn: Lao động ở khu vực này thường làm việc trong phạm vi
gia đình mà mục đích không phải là để lấy tiền công mà để đóng góp phần của
mình vào sản lượng trong gia đình. Tuy vậy vẫn thuộc thị trường lao động làm
thuê, nhất là theo mùa vụ, những người làm thuê thường là do những hộ gia
đình đông con đất trồng trọt lại thiếu.
TIỀN LƯƠNG BẢO HIỂM
Câu 1: Bản chất của tiền lương trong kinh tế thị trường, vai trò tiền lương


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status