lun văn qun l ri ro tn dng
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam, mang lại 80-90% thu nhập của mỗi ngân hàng,
tuy nhiên rủi ro của nó cũng không nhỏ. Rủi ro tín dụng cao quá mức sẽ
ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đứng trước
những thời cơ và thách thức của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,
vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
trong nước với các ngân hàng thương mại nước ngoài, mà cụ thể là
nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro đã trở nên cấp thiết.
Bên cạnh đó, tình hình kinh tế thế giới đang diễn biến phức tạp và
nguy cơ khủng hoảng tín dụng tăng cao. Việt Nam là một nước có nền
kinh tế mở nên không tránh khỏi những ảnh hưởng của nền kinh tế thế
giới. Đứng trước tình hình đó, đòi hỏi các ngân hàng thương mại Việt
Nam phải nâng cao công tác quản lý rủi ro tín dụng, hạn chế đến mức
thấp nhất có thể những nguy cơ tiềm ẩn gây nên rủi ro.
Trước tính cấp thiết đó, đề tài “Quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân
hàng thương mại Việt Nam” được tiến hành nghiên cứu những nguy cơ
tiềm ẩn, tình hình kinh doanh tín dụng thực tế tại các ngân hàng
thương mại cổ phần Việt Nam để từ đó nhận diện dấu hiệu, tìm ra
nguyên nhân, đề ra giải pháp hữu ích cho việc quản lý rủi ro tín dụng
trong hệ thống ngân hàng thương mại.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài:
Từ trước đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hiệu quả hoạt động
tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước mà chưa có đề tài
nào nghiên cứu riêng có về rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương
mại cổ phần. Cụ thể như:
Luận án tiến sĩ kinh tế: “Hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng
thương mại nhà nước ở nước ta hiện nay”, tác giả Lê Đức Thọ (2005) đã
đề cập đến thực trạng hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương
Để phù hợp với nội dung, yêu cầu, mục đích của đề tài đề ra, phương
pháp được thực hiện trong quá trình nghiên cứu gồm phương pháp so
sánh, phân tích kết hợp với phương pháp điều tra chọn mẫu và hệ
thống hoá. Bên cạnh đó, đề tài cũng vận dụng kết quả nghiên cứu của
các công trình khoa học liên quan để làm phong phú và sâu sắc hơn
các cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài.
6.Những đóng góp mới của đề tài:
Đề tài làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng, rủi ro tín dụng,
kinh nghiệm thực tế của các nước như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản về
nhận diện, nguyên nhân và quản lý rủi ro tín dụng.
Trên cơ sở phân tích tình hình hoạt động tín dụng của các ngân hàng
thương mại cổ phần Việt Nam, đề tài nêu ra những dấu hiệu nhận biết
sớm các khoản nợ có vấn đề, tìm ra các nguyên nhân để từ đó kiến
nghị các giải pháp có hiệu quả và khả thi.
Trong đó, điểm nổi bật nhất của đề tài là nghiên cứu chi tiết về rủi ro
tín dụng của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, rút kinh nghiệm
từ các nước trên thế giới mà các đề tài đã có trước đây chưa phân tích.
7.Bố cục của đề tài:
Đề tài gồm 73 trang, 6 biểu đồ, 9 biểu bảng, lời mở đầu, kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung đề tài được trình bày trong 3
chương:
-Chương 1: Tổng quan rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại.
-Chương 2: Tình hình thực tế về quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân
hàng thương mại Việt Nam.
-Chương 3: Kiến nghị những giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại các
ngân hàng thương mại Việt Nam.
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1.KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1.1.2.2.Căn cứ vào hình thức tín dụng:
Dựa vào tiêu chí này tín dụng bao gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh
và cho thuê, trong đó:
-Chiếu khấu: là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương
ứng với giá trị của một giấy nợ trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để
sở hữu một giấy nợ chưa đến hạn.
-Cho vay: là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết
khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác
định.
Cho vay bao gồm các loại sau:
Thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người
vay được chi vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới
hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được
gọi là hạn mức thấu chi.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản,
phần lớn là không có đảm bảo. Do đó chỉ sử dụng đối với khách hàng
có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và ổn định.
Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay của ngân hàng đối
với các khách hàng có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất đặc biệt
mà không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được
cấp hạn mức thấu chi.
Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng
thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng
được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu
cầu vay vốn của khách hàng.
Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển
của hàng hoá. Ngân hàng cho doanh nghiệp vay để mua hàng và sẽ
thu nợ khi bán hàng.
Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng mà khách hàng trả gốc làm
nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận.
-Tín dụng có bảo đảm: là loại tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm
như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba bằng tài sản. Sự đảm
bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai
khi nguồn thu nợ thứ nhất không có hoặc không đủ.
-Tín dụng không bảo đảm: là loại tín dụng không có tài sản thế
chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba. Loại tín dụng này có thể được
cấp cho các khách hàng có uy tín, kinh doanh thường xuyên có lãi, tình
hình tài chính hiệu quả, vững mạnh.
1.1.2.4. Phân loại theo rủi ro:
Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính an
toàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời hiệu
quả. Có 2 loại như sau:
-Tín dụng lành mạnh: là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
-Tín dụng có vấn đề: là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành
mạnh như khách hàng chậm tiêu thụ, gặp thiên tai, tiến độ thực hiện
kế hoạch bị chậm, trì hoãn nộp báo cáo tài chính…
Tín dụng có vấn đề được chia làm 2 loại, đó là:
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là các khoản nợ đã quá hạn với
thời hạn ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm
bảo có giá trị lớn, thanh khoản cao…
Nợ quá hạn khó đòi: là các khoản nợ quá hạn khá lâu, khả năng trả
nợ kém, tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…
1.1.2.5.Phân loại khác:
-Theo đối tượng tín dụng thì có tín dụng vốn lưu động và tín dụng vốn
cố định.
-Theo mục đích có tín dụng sản xuất, tín dụng tiêu dùng…
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hoá
trong cấp tín dụng của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân
hàng sẽ mở rộng phạm vi tài trợ nhưng vẫn có thể duy trì những lĩnh
vực mà ngân hàng có lợi thế.
lợi tức. Nhờ vậy mà hoạt động tín dụng đã kích thích sử dụng vốn và sử
dụng có hiệu quả.
Khi sử dụng vốn vay ngân hàng, doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng
tín dụng, tức phải hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn, tôn trọng các điều
kiện khác đã ghi trong hợp đồng tín dụng, bằng các tác động như vậy
đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn tạo điều kiện
nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp.
1.1.3.5.Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh
nghiệp nước ngoài.
Trong điều kiện ngày nay, phát triển kinh tế của một quốc gia gắn liền
với kinh tế thế giới, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những
phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau.
Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín
dụng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá,
đồng thời nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp hoá và hiện
đại hoá nền kinh tế.
1.1.4.Bảo đảm tín dụng:
1.1.4.1.Khái niệm về bảo đảm tín dụng:
Bảo đảm tín dụng là sự bảo đảm cho ngân hàng rằng có một nguồn
vốn khác để hoàn trả hoặc bảo chi khi không thu hồi được nợ.
1.1.4.2.Vai trò của việc bảo đảm tín dụng:
-Bảo đảm tín dụng là một hình thức đảm bảo trong trường hợp khách
hàng không trả nợ hoặc trong các tình huống bất ngờ khác.
-Bảo đảm tín dụng để đảm bảo trong trường hợp khách hàng đi chệch
khỏi phương hướng đã vạch ra trong kế hoạch sản xuất kinh doanh,
ngăn ngừa gian lận.
-Các ngân hàng coi bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi
nguồn thu thứ nhất không thanh toán được.
-Trong hoạt động kinh doanh có muôn ngàn lý do dẫn đến nguồn thu nợ
đòi hỏi ngân hàng phải sử dụng đồng thời nhiều loại tài sản đảm bảo
và hình thức đảm bảo, vận dụng thích ứng với điều kiện của mỗi khách
hàng.
Trong kinh doanh cũng như ở chiến trường, ở đâu là điểm nóng thì ở đó
phải có những tuyến phòng thủ chắc chắn, dàn trải đều cho tất cả các
mặt trận không phải là chiến lược tối ưu. Tương tự, đối với khách hàng
và loại cho vay có rủi ro cao thì nên áp dụng loại bảo đảm có rủi ro
thấp và ngược lại.
1.2. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1.2.1.Tìm hiểu chung về rủi ro:
1.2.1.1.Khái niệm về rủi ro:
Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn thất
về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến
hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được
một nghiệp vụ tài chính nhất định.
-Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến
với nhau trong một phạm vi nhất định.
-Khi đề cập đến rủi ro người ta thường đề cập đến hai yếu tố mang tính
đặc trưng, đó là: biên độ rủi ro và tần suất xuất hiện rủi ro.
+Biên độ rủi ro: thể hiện mức độ thiệt hại do rủi ro gây ra.
+Tần suất xuất hiện rủi ro = KP/P
KP: số trường hợp thuận lợi để rủi ro xuất hiện
P: số trường hợp đồng khả năng
-Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên người ta không thể nào loại
trừ được hẳn mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như
những tác hại do chúng gây nên.
1.2.1.2.Quản trị rủi ro:
Quản trị rủi ro là việc nhận diện và đề ra các biện pháp nhằm hạn chế
sự xuất hiện của rủi ro và những thiệt hại khi chúng phát sinh, đồng
thời xác định tương quan hợp lý giữa vốn tự có của ngân hàng với mức
thường.
+Môi trường pháp lý không thuận lợi, lỏng lẻo trong quản lý vĩ mô.
1.2.2.Các loại rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng thương mại:
Trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng, nhận biết mỗi loại rủi ro khác
nhau giúp ngân hàng có thể kiểm soát, hạn chế được phần nào những
tác hại do rủi ro mang lại. Thực tế có rất nhiều loại rủi ro khác nhau,
sau đây là một trong số các loại rủi ro:
-Rủi ro tín dụng: là khả năng tiềm tàng khi người vay hay đối tác
không thể thực hiện được một số cam kết hay vỡ nợ.
-Rủi ro thị trường: là sự không chắc chắn bắt nguồn từ những thay
đổi về giá cả trên thị trường như lãi suất, tỷ giá hối đoái, định giá.
-Rủi ro thanh khoản: là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các
cam kết khi đến hạn bởi thiếu tiền (tài sản nợ) để tài trợ cho các hoạt
động sử dụng vốn (tài sản có) do lạm phát, mức lãi suất thực không
hấp dẫn hoặc người gửi tiền rút tiền ồ ạt…; hay bởi quản lý chênh lệch
kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ yếu kém, đầu tư vào các tài sản có
tính thanh khoản kém như trái phiếu của các công ty phát hành…
-Rủi ro hoạt động: các nguồn khởi phát rủi ro hoạt động gồm có:
• Công nghệ: sập hệ thống, lỗi phần mềm chương trình…
• Nhân viên: các nhân sự chủ chốt và mức độ thay thế, lỗi sơ suất, lừa
đảo, rửa tiền, vi phạm bảo mật…
• Quan hệ khách hàng: sự không hài lòng với hoạt động của ngân hàng,
bất đồng trong thoả thuận hợp đồng…
• Tài sản: an toàn, an ninh, các tình huống nằm ngoài khả năng kiểm
soát (force majors)…
• Bên ngoài: lừa đảo, thị trường suy sụp, chiến tranh…
-Các loại rủi ro khác mà ngân hàng phải đối mặt như: rủi ro tuân thủ
luật định, rủi ro pháp lý, rủi ro uy tín, rủi ro do kiểm soát/điều tiết, rủi ro
khác…
[IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/hung/IMPOST
Nam, nợ xấu bao gồm những khoản nợ quá hạn có hoặc không thể thu
hồi, nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lý và những khoản nợ quá hạn
không được Chính phủ xử lý rủi ro.
Nợ xấu là khoản nợ có các đặc trưng cơ bản sau đây:
-Khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các
cam kết đã hết hạn.
-Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn
đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả gốc lẫn lãi.
-Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất 90 ngày.
Nợ xấu được phân chia thành nhiều nhóm mục đích giúp các nhà quản
trị ngân hàng dễ quản lý, kiểm soát và đề ra phương pháp xử lý khác
nhau cho từng nhóm tương ứng. Theo quyết định 149/QĐ-TTg ngày
05/01/2001 thì nợ xấu có thể chia thành 3 nhóm:
Nhóm 1: Nợ xấu có tài sản đảm bảo, gồm có: nợ tồn đọng ngân
hàng đã thu giữ tài sản dưới hình thức gán, xiết nợ; nợ tồn đọng ngân
hàng chưa thu giữ tài sản như nợ có tài sản liên quan đến vụ án chờ xét
xử, nợ có tài sản đảm bảo đã quá hạn trên 360 ngày.
Nhóm 2: Nợ xấu không có tài sản đảm bảo và không có đối tượng
để thu, gồm có: nợ xóa thiên tai chưa có nguồn và còn hạch toán nội
bảng; nợ khoanh doanh nghiệp đã giải thể, phá sản; nợ khoanh doanh
nghiệp thuộc các vụ án; nợ khoanh do thiên tai của hộ sản xuất…
Nhóm 3: Nợ xấu không có tài sản đảm bảo nhưng con nợ vẫn còn
tồn tại, đang hoạt động, gồm có: nợ khoanh doanh nghiệp khó thu hồi;
nợ tín dụng chính sách còn khả năng thu hồi; nợ quá hạn trên 360
ngày.
Ngoài ra còn có nhóm nợ phát sinh sau ngày 31/12/2000, là những
khoản nợ không thu được nhưng không đủ điều kiện để khoanh, xoá.
Nợ quá hạn (non-performing loan):
Nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không
được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ. Các khoản nợ
-Trước khi quyết định cho vay đối với một khách hàng, ngân hàng phải
xem xét các điều kiện sau:
+Khả năng trả nợ của khách hàng phải lớn hơn hoặc bằng với mức cho
vay.
+Mức cho vay không được vượt quá 70% tài sản đảm bảo.
+Tổng dư nợ cho vay một khách hàng không được phép vượt quá 15%
vốn tự có của ngân hàng.
1.3.KINH NGHIỆM QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG Ở MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI
Trong cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng thời kỳ 1997-
1998, khởi đầu và tâm điểm là khu vực châu Á, đã có rất nhiều
ngân hàng trong khu vực và trên thế giới bị phá sản, kể cả
những ngân hàng có bề dày hoạt động hàng trăm năm. Ngày
nay, sự kiện nhiều ngân hàng trên thế giới công bố các khoản
nợ xấu và thua lỗ đang được cộng hưởng với tình trạng tiền
khủng hoảng tín dụng toàn cầu, mà bắt đầu là từ những gánh
nặng nợ khó đòi của hệ thống tín dụng liên quan đến thị trường
bất động sản phái sinh của Mỹ năm 2007.
Trước tình hình đó, các ngân hàng lớn, có tầm ảnh hưởng toàn
cầu đang tiến hành nhiều biện pháp để sẵn sàng đối phó với
khủng hoảng tín dụng thế giới. Sau đây là một số các kinh
nghiệm quản lý rủi ro tín dụng ở vài nước trên thế giới:
1.3.1.Kinh nghiệm của Trung Quốc:
Qua nghiên cứu thị trường tín dụng tại Trung Quốc cho thấy nguyên
nhân các khoản nợ xấu xuất phát từ:
+ Dư nợ tín dụng tăng quá nhanh trong khi trình độ chuyên môn của
cán bộ tín dụng chưa đạt tiêu chuẩn.
+ Cho vay những lĩnh vực ngoài thị trường truyền thống và dựa vào thế
chấp, người bảo lãnh, danh tiếng – là những nguồn trả nợ thứ yếu mà
không đánh giá nguồn trả nợ chính.
hàng Nhật không biết cách quản lý khi có phát sinh lãi lỗ tín dụng.
Các ngân hàng không hiểu rõ hậu quả nghiêm trọng của việc trì
hoãn những biện pháp dứt khoát đối với các khách hàng vay có rủi ro,
do đó mức lỗ lãi của ngân hàng không thể được giải quyết nhanh
chóng và với phí tổn thấp hơn.
Ngân hàng nên chủ động trong việc đánh giá một khách hàng có
tiềm năng rủi ro trong tương lai gần và xa, từ đó có biện pháp xử lý
càng sớm càng tốt.
Nếu mức lãi lỗ của ngân hàng vượt quá khả năng của các ngân
hàng thương mại, Nhà nước sẽ dùng các nguồn quỹ quốc gia để can
thiệp và tất yếu ban điều hành các ngân hàng cũng được thay thế.
Khi nền kinh tế có vấn đề thì ngành kinh doanh ngân hàng cũng
không thể hoạt động tốt được. Cho dù ngân hàng đóng vai trò hỗ trợ
đối với các ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ, nhưng hệ thống
ngân hàng cũng có thể làm tình hình xấu hơn và trì trệ sự ổn định của
nền kinh tế nếu bản thân ngân hàng cũng gặp khó khăn. Nếu như phần
lớn các khoản cho vay của ngân hàng cấp cho các doanh nghiệp không
khỏe mạnh, thì không chỉ ngân hàng hoạt động không hiệu quả mà nền
kinh tế cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Hiện nay các ngân hàng Nhật đã xử lý thành công các vấn đề liên quan
đến tài sản không thu hồi được. Tổ chức dịch vụ tài chính (The Financial
Service Agency) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc ép các ngân
hàng thực hiện công tác dự phòng cần thiết cũng như xử lý những
khoản nợ xấu mà trước đây đã từng gây ra các khoản lỗ lãi lớn kéo dài
trong nhiều năm đối với hầu hết các ngân hàng.
1.3.3.Kinh nghiệm của Mỹ:
Dựa vào các nghiên cứu về 9 đơn vị cho vay thành công ở Mỹ,
rút kết ra được những kinh nghiệm trong việc kiểm soát rủi ro
tín dụng hiệu quả như sau:
Các đơn vị cho vay hiệu quả thường nuôi dưỡng một mối quan hệ
được kinh nghiệm của mình trong kinh doanh.
Các đơn vị cho vay hiệu quả thường yêu cầu bên vay cung cấp thế
chấp cả tài sản cá nhân và tài sản doanh nghiệp cho dù là tài sản đảm
bảo có cần thiết hay không để tạo ra động lực về tâm lý cho bên vay
đối với khoản vay.
Các đơn vị cho vay hiệu quả thường tập trung quyết định cho vay
để bảo đảm tính thống nhất và kiểm soát. Mặc dù các bên cho vay nhỏ
hoặc lớn có thể khác nhau về phương pháp xem xét khoản vay, cả 2
đều yêu cầu có ít nhất một cán bộ, không phải là cán bộ thẩm định
khoản vay, để xem xét lại khoản vay và đưa ra quyết định phê duyệt
cuối cùng. Kết cấu này loại bỏ việc ra quyết định phê duyệt cuối cùng
từ nhiều cán bộ rải rác mà tập trung việc phê duyệt vào một cán bộ
hoặc một nhóm để đảm bảo tính thống nhất, kiểm soát và hiệu quả
trong thẩm định khoản vay.
Các đơn vị cho vay hiệu quả yêu cầu cán bộ cho vay phải có trách
nhiệm với khoản vay họ cho vay. Bởi vì quyết định tín dụng chỉ tốt khi
thông tin trình bày, việc phân tích phải đầy đủ, đa số các đơn vị cho
vay đều tin vào trách nhiệm của cán bộ cho vay. Mặc dù không có đơn
vị nào nhấn mạnh về việc phạt các cán bộ khi có nợ khó đòi, trong đa
số trường hợp các cán bộ cho vay phải hỗ trợ việc thu hồi các khoản
vay khó đòi.
Các đơn vị cho vay hiệu quả đều nhấn mạnh việc thẩm định khoản
vay hơn là việc kiểm soát khoản vay. Họ tin rằng việc cắt giảm hoặc
làm tắt trong quá trình thẩm định sẽ dẫn đến khoản nợ xấu. Thêm vào
đó, cho vay các khoản nợ có rủi ro sẽ không đáng nếu tính đến khối
lượng công việc phải thực hiện để khoản vay không bị quá hạn.
Các đơn vị cho vay hiệu quả áp dụng hệ số tín nhiệm cho các khoản
vay mới và thẩm định lại hệ số này theo định kỳ trong suốt thời hạn
của khoản vay. Tất cả các đơn vị cho vay đều hoặc đã có một hệ thống
chấm hệ số tín nhiệm hoặc có kế hoạch để tạo ra một chương trình
như Fannie Mae, Freddie Mac, Washington Mutual, Citigroup và
Wachovia hiện đang trong hoàn cảnh khó khăn. Cụ thể khởi đầu là hai
quỹ phòng hộ của Bear Stearns, và tài sản của một quỹ khác của Bear
Stearns bị đóng băng vì những khoản thua lỗ liên quan đến cho vay địa
ốc và chứng khoán. Đây là những quỹ đầu tư mạnh vào các loại trái
phiếu phát hành dựa trên các khoản vay cầm cố bất động sản. Ngày
08/08/2007, một trong những ngân hàng tư nhân lớn nhất của Châu Âu
là Sal.Oppenheim có trụ sở tại Luxembourg (Bỉ) tuyên bố tạm thời đóng
cửa một quỹ đầu tư chứng khoán địa ốc trị giá 750 triệu USD. Một ngày
sau đó, ngân hàng lớn nhất nước Pháp là BNP Paribas cũng hành động
tương tự khi đóng băng khối tài sản 2,2 tỷ USD và ngân hàng NIBC của
Đức công bố khoản lỗ gần 200 triệu USD do liên quan đến chứng
khoán, bất động sản Mỹ.
Theo Moody’s Economy.com, từ tháng 8 năm ngoái tới nay, các định
chế tài chính toàn cầu đã thua lỗ tổng số tiền khoảng 925 tỷ USD vì
khủng hoảng tín dụng, tương đương 3% tổng tài sản của họ. Trong số
này, trầm trọng nhất là khoản thua lỗ lên đến 525 tỷ USD liên quan
đến các khoản cho vay địa ốc.
Cuộc khủng hoảng tín dụng Mỹ lan nhanh sang các nước khác trên thế
giới, do có mức độ liên quan rất cao, ước tính có khoảng 50% các loại
chứng khoán phát hành từ các khoản nợ cho vay cầm cố ở Mỹ hiện
nằm trong tay các nhà đầu tư nước ngoài. Ngân hàng Thụy Sỹ UBS và
ngân hàng IKB Deutsche Industriebank của Đức phải gánh những
khoản thâm hụt tài sản do nợ xấu. Tại Norway, tám thành phố đã công
bố thua lỗ ít nhất 125 triệu USD vì đầu tư vào các loại chứng khoán bất
động sản Mỹ.
Khủng hoảng tín dụng Mỹ đã làm thị trường địa ốc ngày càng suy yếu
và trở thành thảm hoạ thực sự. Giá nhà đất ở Mỹ liên tục giảm xuống,
số vụ tịch biên nhà không ngừng tăng lên. Những tiêu chuẩn cho vay
mua nhà ngày càng thắt chặt và không đơn giản như trước, mục đích
khi cho vay, sử dụng nguồn huy động ngắn hạn để đầu tư vào những
khoản dài hạn như bất động sản nên không tránh khỏi rủi ro mất khả
năng thanh toán và không thu hồi được nợ. Đó cũng là bài học kinh
nghiệm quý báu cho Việt Nam khi rơi vào tình trạng tương tự.
Trong chương 1, tác giả đã tập trung nghiên cứu và làm rõ một số
vấn đề cơ bản sau:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng và rủi ro tín dụng:
khái quát về tín dụng, vai trò tín dụng đối với nền kinh tế, cũng như thế
nào là rủi ro, rủi ro tín dụng, các nguyên nhân và phương pháp quản lý
rủi ro.
Đồng thời, trong chương 1 cũng nghiên cứu kinh nghiệm của một số
nước trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ về quản lý rủi ro tín
dụng. Đối với Trung Quốc cho ta thấy được nguyên nhân của các khoản
nợ xấu xuất phát từ đâu để có thể học hỏi phòng tránh và giảm thiểu
nó. Đối với Nhật Bản, việc quản lý rủi ro tín dụng được đặt lên trên hết
và tiến hành ngay khi mới bắt đầu, công tác quản lý rủi ro tín dụng của
Nhật Bản khá thành công, đặc biệt trong các khâu xử lý tài sản thu hồi
các khoản nợ xấu đã gây ra những khoản lỗ kéo dài hàng năm qua.
Riêng đối với Mỹ, nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tín dụng và hàng
loạt các ngân hàng lớn, danh tiếng của Mỹ bị phá sản, là bài học kinh
nghiệm vô cùng quý giá cho việc quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân
hàng thương mại Việt Nam.
CHƯƠNG 2:
TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1.ĐẶC ĐIỂM NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT
ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
Việt Nam đang bị lạm phát nặng, mức lạm phát hai con số là nguy cơ cao đe doạ sự ổn
định vĩ mô nền kinh tế. Lương thực và dầu mỏ tiếp tục thổi mạnh vật giá và gây hậu quả
bất lợi cho các thành phần kinh tế. Thị trường chứng khoán gặp nhiều bất trắc, sức nóng
tín dụng, đẩy lãi suất thực khách hàng vay cao hơn nhiều so với trần lãi
suất Nhà nước quy định, làm cho khách hàng phải bỏ ra chi phí nhiều
hơn để trả lãi, như thế nguy cơ không trả được nợ là khá cao.
Do vậy, tình hình kinh tế của một quốc gia có ảnh hưởng không nhỏ
đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng.
2.2.TÌNH HÌNH TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRONG THỜI GIAN QUA
2.2.1.Tổng quát tình hình hoạt động của các ngân hàng thương
mại:
2.2.1.1.Tình hình tăng trưởng huy động:
NHTM là một doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh về tiền tệ
và tín dụng. Hoạt động kinh doanh cơ bản của các NHTM là các hoạt
động đem lại lợi nhuận cho NHTM bao gồm: hoạt động huy động vốn,
hoạt động cho vay và hoạt động kinh doanh dịch vụ khác.
Như vậy huy động vốn là một trong các hoạt động đem lại lợi nhuận
cho ngân hàng. Qua nghiên cứu, các ngân hàng thương mại có tỷ lệ
tăng trưởng huy động khá cao. Năm 2007, ngân hàng An Bình có tốc
độ tăng trưởng huy động tăng cao 337%, kế đến là ngân hàng Kỹ
thương 156%, ngân hàng Á Châu tuy tốc độ tăng trưởng kém hơn
nhưng lại có tổng huy động cao hơn cả, hơn 55 ngàn tỷ đồng.
[IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/hung/IMPOST
%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image005.gif[/IMG]
2.2.1.2.Tình hình tăng trưởng tín dụng:
Nếu như năm 2007, ngân hàng Á Châu có tổng huy động cao hơn hẳn,
thì trong tăng trưởng tín dụng, ngân hàng Sài Gòn Thương tín lại có dư
nợ tín dụng nhiều hơn, khoảng 35 ngàn tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng
136%, cùng tốc độ tăng trưởng đó là ngân hàng Kỹ thương với dư nợ
tín dụng hơn 20 ngàn tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất
vẫn là ngân hàng An Bình, 506%.
[IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/hung/IMPOST
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của ngân hàng Á Châu giảm dần qua
các năm và thấp nhất trong 8 ngân hàng đang nghiên cứu, cụ thể là từ
1.66% năm 2005 xuống còn 0.31% năm 2007, điều này cho thấy ngân
hàng kiểm soát rủi ro tín dụng tốt, quản lý nợ quá hạn có hiệu quả.
Bảng 2.1: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của các ngân hàng
2005
2006
2007
ACB
1.66%
1.11%
0.31%
SACOM
0.88%
0.95%
0.39%
ĐÔNG Á
1.26%
1.00%
0.64%
AN BÌNH
4.34%
5.15%
2.36%
TCB
1.85%
1.43%
1.41%
EXIMBANK
1.98%
Bảng 2.2: Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản của các ngân hàng
2005
2006
2007
ACB
38.65%
38.11%
37.25%
SACOM
58.00%
59.00%
54.00%
ĐÔNG Á
69.99%
66.20%
64.94%
AN BÌNH
59.79%
36.32%
39.93%
TCB
49.63%
50.19%
51.81%
EXIMBANK
56.59%
55.71%
54.74%
MHB
66.80%
Nợ đủ tiêu chuẩn
ACB
98.34%
98.89%
99.69%
SACOM
99.12%
99.04%
99.62%
ĐÔNG Á
98.74%
99.00%
99.36%
AN BÌNH
95.66%
94.85%
97.64%
TCB
98.15%
98.57%
98.59%
EXIMBANK
98.02%
98.44%
98.49%
MHB
96.07%
95.63%
96.64%
PHƯƠNG NAM
1.49%
1.16%
PHƯƠNG NAM
2.29%
7.70%
4.38%
Nợ dưới tiêu chuẩn
ACB
0.04%
0.08%
0.03%
SACOM
0.07%
0.31%
0.02%
ĐÔNG Á
0.09%
0.07%
0.03%
AN BÌNH
1.06%
0.87%
0.29%
TCB
0.43%
0.32%
0.41%
EXIMBANK
0.16%
0.10%
EXIMBANK
0.44%
0.36%
0.37%
MHB
0.52%
0.93%
0.62%
PHƯƠNG NAM
0.62%
0.85%
1.58%
Nợ có khả năng mất vốn
ACB
0.22%
0.07%
0.03%
SACOM
0.37%
0.22%
0.18%
ĐÔNG Á
0.74%
0.56%
0.34%
AN BÌNH
0.00%
0.01%
0.78%
TCB