MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ RỦI RO
TÍN DỤNG TẠI NH TMCP CT VN CN 7 TP HCM
3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TP HCM ĐẾN NĂM 2015
Trong giai đoạn 2010 – 2015, TP HCM phát huy vai trò trung tâm về nhiều mặt
của khu vực và cả nước, chủ động hội nhập và tăng tốc phát triển; thúc đẩy kinh tế tăng
trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững, không ngừng nâng cao chất lượng sống nhân dân;
giữ vững ổn định chính trị - xã hội; từng bước trở thành một trung tâm công nghiệp,
dịch vụ, khoa học - công nghệ của khu vực Đông Nam Á; góp phần quan trọng vào sự
nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Về kinh tế, phấn đấu đạt chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước
giai đoạn 2011 - 2015 đạt 12%, trong đó, tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng ngành dịch
vụ bình quân 12,7%/năm, công nghiệp- xây dựng đạt 11%/năm, nông nghiệp đạt 4%.
Dự kiến cơ cấu GDP đến năm 2015 là dịch vụ khoảng 60,4%, công nghiệp - xây dựng:
39,2% và nông nghiệp 0,4%.
Tập trung phát triển, có tính đột phá đối với 9 nhóm ngành dịch vụ có tiềm năng
và là thế mạnh của TP: thương mại; du lịch; tài chính; vận tải và kho bãi; công nghệ
thông tin và truyền thông; kinh doanh tài sản, bất động sản; tư vấn, khoa học, công
nghệ; y tế; giáo dục - đào tạo.
Tập trung xây dựng một vài khu công nghiệp chuyên ngành như khu công nghiệp
cơ khí chế tạo, khu côngnghiệp hóa chất để tạo điều kiện thuận lợi ứng dụng công nghệ
cao; hoàn tất các điều kiện cần thiết đưa Khu Công nghệ cao TP vào hoạt động.
Xây dựng nền nông nghiệp gắn liền với đặc trưng của một đô thị lớn, theo hướng
đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển theo chiều sâu các mô
hình sản xuất kết hợp với kinh doanh, dịch vụ phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, các
mô hình tổ chức sản xuất có hiệu quả như kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác, kinh tế hộ
gia đình. TP sẽ tập trung đẩy nhanh tiến đô triển khai xây dựng các khu đô thị mới như
Khu Thủ Thiêm, Khu đô thị Nam Sài Gòn, Khu đô thị Tây Bắc TP và các khu dân cư
mới khác, tạo điều kiện để tái bố trí dân cư hợp lý, bảo đảm các tiêu chuẩn của một đô
thị hiện đại.
TP phấn đấu trong năm 2010, đảm bảo 95% dân số nội thành cũ, 80% dân số nội
thành mới và 60% dân số ngoại thành được cung cấp nước sạch từ hệ thống cấp nước
+ Tỷ lệ cho vay KCBĐTS: xây dựng kế hoạch theo hướng nâng dần tỷ lệ cho vay
bảo đảm bằng tài sản.
+ Tỷ lệ cho vay DNNN: xây dựng theo kế hoạch dư nợ cho vay đối với công ty
NN hoạt động theo luật DNNN và phải phù hợp với việc khai báo thông tin loại hình
khách hàng theo hồ sơ thông tin khách hàng trên INCAS.
+ Tỷ lệ cho vay trung, dài hạn: nêu một số khách hàng có dư nợ trung, dài hạn
lớn, liệt kê những dự án lớn của CN dự kiến giải ngân gồm: tên KH, tên DA, số tiền phê
duyệt, dự kiến giải ngân trong năm 2010.
+ Về chỉ tiêu nợ nhóm 2, nợ xấu: xây dựng trên tinh thần nâng cao chất lượng
nợ, giảm thiểu nợ nhóm 2, nợ xấu. tỷ lệ nợ nhóm 2, nợ xấu trên tổng dư nợ đến
31/12/2010 phải thấp hơn so với 31/12/2009 nhưng tối đa không quá 3% đối với nợ
nhóm 2 và 2% đối với nợ xấu.
+ Về chỉ tiêu thu hồi nợ XLRR: xây dựng kế hoạch năm 2010 bằng mọi biện
pháp nhằm tận thu hồi nợ XLRR.
+ Về chỉ tiêu thu phí dịch vụ: để thực hiện cơ cấu lợi nhuận, đẩy mạnh nguồn thu
từ phí dịch vụ nhằm tăng trưởng tỷ trọng thu phí dịch vụ/ tổng doanh thu…
3.2.2, Mục tiêu phấn đấu:
Trong năm 2010, VietinBank chi nhánh 7, TP HCM phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu
kế hoạch kinh doanh- tài chính được NH TMCP CT VN giao, cụ thể như sau:
Bảng 3.1: Kế hoạch kinh doanh năm 2010 tại Vietinbank CN7
Chỉ tiêu kinh doanh Kế hoạch 2010
1/ NV huy động 3600 tỷ đồng
Trong đó: TGDN 2295 tỷ đồng
2/ Tổng dư nợ 2500 tỷ đồng
3/ Cơ cấu nợ:
- Tỷ lệ cho vay DNNN
- Tỷ lệ cho vay TDH
- Nợ nhóm 2
- Nợ xấu
6%
trường nếu có.
Người xin vay vốn Ngân hàng có thực hiện tốt việc bảo vệ môi trường không,
đặc biệt là khi người đó còn hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực khác nhau, hoàn toàn
không liên quan gì đến dự án xin vay, phải xem xét khách hàng đó đã tính toán đề phòng
mọi phương án bảo vệ môi trường của tất cả các lĩnh vực kinh doanh đó. Điều này sẽ có
ảnh hưởng nhiều tới tình trạng tài chính của doanh nghiệp và khả năng hoàn trả nợ Ngân
hàng đúng hạn.
Ở phần phân tích này tác giả sẽ đưa ra một ví dụ cụ thể đã từng xảy ra tại
khách sạn Nhân Việt: khi chủ khách sạn đến vay tiền tại Vietinbank chi nhánh 7,
khoản vay được đảm bảo bằng giá trị của một khách sạn lớn, có đủ giấy tờ pháp lý, ở
một vị trí thuận lợi; qua thẩm định KQHĐKD thì CBTD nhận thấy khách sạn có lợi
nhuận cao và ổn định qua các năm chứng tỏ khách sạn làm ăn phát đạt, nhưng trong
năm 2008 bên cạnh khách sạn có một công trình xây dựng trong quá trình thi công đã
gây rạn nứt cho khách sạn, cộng với môi trường ồn ào không trong sạch đã làm cho
lượng khách hàng đến khách sạn ít hơn thậm chí không muốn đến khách sạn đó nữa.
Chính tại thời điểm đó, chủ khách sạn đã gặp phải nhiều khó khăn trong kinh doanh,
mặt khác nảy sinh nhiều tranh chấp, kiện tụng với công trình xây dựng do gây thiệt hại
đến khách sạn. Hệ quả là khoản vay của người chủ khách sạn tại ngân hàng đã không
thể trả đúng hạn. Theo hồ sơ tại chi nhánh thì CBTD mất khoảng gần một năm mới thu
hồi đầy đủ khoản vay trên, tuy nhiên nếu xét trên phương diện quản trị rủi ro tín dụng,
về phân loại nợ để trích lập dự phòng thì ta có thể thấy đây là một khoản nợ có tiềm ẩn
rủi ro mà cụ thể là đã hình thành nên nợ xấu hay nợ nhóm 4.
Một ví dụ điển hình khác liên quan đến yếu tố môi trường trong thời gian
gần đây được nhiều dư luận nhắc đến là tại Công ty Tung Kuang. Mặc dù trong
website của mình, Cty cổ phần công nghiệp Tung Kuang luôn khẳng định là nhà máy
sản xuất thanh nhôm có quy mô và hiện đại bậc nhất Việt Nam. Tuy nhiên, theo các
thông tin thu thập được của cơ quan điều tra tại hiện trường thì hệ thống xử lý chất thải
dường như chỉ để đối phó với các cơ quan chức năng, các bể lắng lọc đều gần như cạn,
rêu phong bám dầy trên thành bể thể hiện không có việc bơm nước vào bể thường
xuyên; phía tủ điều khiển của hệ thống, nhà máy cho lắp đặt một đường ống ngầm, đấu
các luật và văn bản luật đều quy định bộ máy kiểm toán nội bộ trực thuộc Tổng giám
đốc, trong khi Tổng giám đốc và ban điều hành đều là đối tượng của kiểm soát nội bộ.
Mặt khác, nếu chỉ tập trung vào tình trạng của TCTD tại một thời điểm nhất định
nào đó thì không thể khẳng định được liệu TCTD trong thực tế sẽ phải chịu rủi ro trong
tương lai gần hay không? Vì vậy cần áp dụng nhiều phương thức kiểm tra để đem lại
hiệu quả tốt nhất, cụ thể như sau:
Các cán bộ làm công tác kiểm soát nội bộ có trách nhiệm kiểm tra chéo việc áp
dụng nghiệp vụ theo đúng quy trình.
Mỗi quy trình phải có sự tham gia ít nhất là hai người, phân công trách nhiệm
kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ và chi tiết cho từng nhân viên khi tham gia quy
trình.
Cho phép kiểm soát viên tiếp cận với các tài liệu, cũng như những người có liên
quan đến hoạt động kiểm soát nội bộ.
Khi xây dựng chiến lược hoạt động cần phân tích, tính toán các điều kiện kinh tế
vĩ mô, xu hướng phát triển của thị trường trong đó phải xem xét đến tình hình
quốc tế.
Bổ sung và sử dụng các giải pháp mang tính chất công nghệ cao như giải pháp
ICTNews của hãng APC. Giải pháp này với các dữ liệu được cập nhật chính xác
và nhanh chóng tại trung tâm sẽ giúp giảm thiểu rủi ro đáng kể trong kinh doanh
tại chi nhánh.
Kiểm soát viên nội bộ phải thành thạo công việc và được đào tạo thường xuyên,
ngoài ra họ phải tự học hỏi để không ngừng nâng cao năng lực của mình. Đặc
biệt với các chức danh Trưởng, phó kiểm toán nội bộ, trong điều kiện xét tuyển
nên tăng số năm kinh nghiệm (tối thiểu phải 5 năm) làm việc trong lĩnh vực tài
chính, ngân hàng, từ đó đảm bảo tính chuyên nghiệp của hoạt động kiểm toán nội
bộ.
Có chính sách khuyến khích, khen thưởng những cán bộ thực hiện tốt, đồng thời
có biện pháp xử lý thích đáng đối với những trường hợp gian lận, vi phạm
nguyên tắc.
Bên cạnh đó, nội dung kiểm soát tại ngân hàng còn rườm rà, chưa có chương