MỤC LỤC
Chương I : Rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt
Nam.Những vấn đề lý luận chung.
I./ thị trường chứng khoán
II/Rủi ro trên thị trường chứng khoán.
Chương II : Rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương III: Một vài đề xuất giảm thiểu rủi ro trên thị trường
chứng khoán Việt nam.
1
Mở đầu
Quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá ở Việt Nam đặt ra một
yêu cầu cấp thiết là phải phát triển thị trường vốn hiệu quả nhằm cung
cấp vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Để có một thị trường vốn như
thế, đòi hỏi trước mắt là phải xây dựng được một thị trưng chứng khoán
vững mạnh. Thị trờng chứng khoán sẽ làm tăng tính thanh khoản của các
công cụ huy động vốn, từ đó thúc đẩy thị trường sơ cấp phát triển. Mặt
khác, thị trường chứng khoán khắc phục được đáng kể hạn chế về không
gian, thời gian và quy mô trong việc huy động vốn. Nhận thức tầm quan
trọng đó, sau nhiều cố gắng thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính
thức đi vào hoạt động ngày 20/7/2000, đánh dấu bước chuyển mình của
thị trường tài chính Việt Nam.
Tuy nhiên sau hơn bảy năm hoạt động, những kết quả đạt được của
thị trường chứng khoán Việt Nam chưa đáp ứng sự mong mỏi và kỳ
vọng của cả nền kinh tế nói chung và giới đầu tư nói riêng. Thị trường
vẫn hàm chứa rất nhiều rủi ro .Do đó đề án này với mục đích là nghiên
cứu các rủi ro của thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong đề án có thể
rất nhiều sai sót vì vậy mong được thầy giáo hướng dẫn và các bạn đọc
tận tình hướng dẫn để đề án được hoàn thiện hơn.
2
Chương I: Rủi ro trên thị trường chứng khoán .Những vấn đề lý
luận chung.
gia thị trường là : nhà phát hành, nhà đầu tư , các tổ chức kinh doanh
trên thị trường chứng khoán và các tổ chức liên quan đến thị trường
chứng khoán .
a. Nhà phát hành : là tổ chức muốn huy động vốn qua thị trường
chứng khoán bằng việc phát hành cổ phiếu , là hàng hóa của thị
trường.Các tổ chức này bao gồm :
− Chính phủ và địa phương là nhà phát hành trái phiếu Chính
phủ và trái phiếu địa phương. Mục đích là nhằm huy động vốn cho
các dự án của nhà nước và của địa phương. Đây là loại trái phiếu hầu
như không có rủi ro .
− Chứng khoán được phát hành từ các công ty . Các công ty
chính là những nhà phát hành các cổ phiếu chủ yếu trên thị trường
mục đích nhằm huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình.
− Các tổ chức tài chính cũng tham gia vào việc phát hành trái
phiếu , các chứng chỉ có giá nhằm huy động vốn cho công việc ,
mục đích của tổ chức.
b. Nhà đầu tư: bao gồm những nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có
tổ chức. Nhà đầu tư chính là những người mua bán nhiều nhất chứng
khoán trên thị trường .
− Nhà đầu tư cá nhân : Là những người có vốn nhàn rỗi tạm
thời như công nhân viên chức muốn đầu tư vào thị trường chứng
khoán nhằm thu thêm lợi nhuận .
4
− Nhà đầu tư có tổ chức: thường được gọi là các định chế tổ
chức thường xuyên mua bán chứng khoán với khối lượng lớn. Các tổ
chức này thông tin được thu thập một cách nhanh chóng hiệu quả
với một đội ngũ các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực chứng
khoán mục đích nghiên cứu thị trường nhằm đưa ra những quyết
định đầu tư đúng đắn nhất. Các nhà đầu tư có tổ chức chủ yếu như
− Các tổ chức tài trợ chứng khoán
3.Các nguyên tắc hoạt động trên thị trường chứng khoán :
a. nguyên tắc cạnh tranh : Theo nguyên tắc này giá cả các loại cổ
phiếu được quyết định theo quan hệ cung cầu về nhu cầu chứng khoán
và mối quan hệ cạnh tranh giữa các tổ chức phát hành.
Trên thị trường sơ cấp có sự cạnh tranh giữa các tổ chức phát
hành mà chủ yếu là các công ty trong việc bán cổ phiếu của mình ra cho
các nhà đầu tư. Trên thị trường thứ cấp các nhà đầu tư tự do cạnh tranh
tìm kiếm lợi nhuận cao nhất và giá cả được hình thành theo nguyên tắc
đấu giá.
b.nguyên tắc công bằng : theo nguyên tắc này tất cả các công ty,
các tổ chức phát hành, các nhà đầu tư ... tất cả đều có quyền lợi và nghĩa
vụ như nhau .Tất cả đều phải tuân thủ các quy tắc , quy định và đều bị
xử phạt nếu vi phạm.
c. Nguyên tắc công khai : Theo nguyên tắc này , mọi hoạt động
mua bán trên thị trường đều phải minh bạch.Sở giao dịch chứng khoán
6
công bố các thông tin về giao dịch chứng khoán trên thị truờng. Các tổ
chức niêm yết công bố công khai các thông tin tài chính định kỳ hằng
năm của công ty, các sự kiện bất thuờng xảy ra đối với công ty, nắm giữ
cổ phiếu của giám đốc, người quản lý, cổ đông đa số .
d.nguyên tắc đấu giá :Giá chứng khoán đuợc xác định thông qua
việc đấu giá giữa các lệnh mua và các lệnh bán. Tất cả các thành viên
tham gia thị truờng đều không thể can thiệp vào việc xác định giá này.
Có hai hình thức đấu giá là đấu giá trực tiếp và đấu giá tự động.
Đấu giá trực tiếp là việc các nhà môi giới gặp nhau trên sàn giao dịch và
trực tiếp đấu giá.
Đấu giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ các nhà môi giới đuợc
nhập vào hệ thống máy chủ của Sở giao dịch chứng khoán. Hệ thống
máy chủ này sẽ xác định mức giá sao cho tại mức giá này, chứng khoán
hạn khi tung đồng xu theo phương pháp diễn dịch có thể tính xác
suất xuất hiện mặt ngửa là 50% .
− Xác suất chủ quan là xác suất là ước tính chủ quan của cá
nhân với khả năng xáy ra. Khi một người mua vé sổ xố , lượng vé
bán ra là 1 triệu thì khả năng trúng là 1 phần triệu nhưng xác suất
chủ quan của người mua vé còn cao hơn rất nhiều lần so với xác suất
tiên nghiệm.
Trên thị trường chứng khoán rủi ro thể hiện qua sự sụt giảm , thua
8
lỗ hoặc những biến động thất thường về mức sinh lời của chứng khoán.
2. Phân loại rủi ro trên thị trường chứng khoán : trên thị trường
chứng khoán có 2 loại rủi ro chủ yếu là rủi ro hệ thống và rủi ro không
hệ thống .
a. Rủi ro hệ thống : những rủi ro do các yếu tố nằm ngoài công
ty, không kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thị trường và
tất cả mọi loại chứng khoán được gọi là rủi ro hệ thống hay là rủi ro không
phân tán được. Rủi ro hệ thống là những rủi ro từ bên ngoài của một
ngành công nghiệp hay của một doanh nghiệp, chẳng hạn như chiến
tranh, lạm phát, sự kiện kinh tế và chính trị... Đa dạng hóa đầu tư cũng
không thể loại bỏ loại rủi ro này. Những công ty chịu ảnh hưởng cao
của rủi ro hệ thống là những công ty mà doanh số, lợi nhuận và giá
chứng khoán thường theo sát các diễn biến kinh tế và những diễn biến
trên thị trường chứng khoán. Phần lớn các công ty trong những ngành công
nghiệp cơ bản và khai khoáng, những ngành có định phí lớn hay những
ngành liên quan đến sản xuất ô tô chịu ảnh hưởng rất cao của rủi ro hệ
thống, ví dụ ngành thép, cao su, kính,... Rủi ro hệ thống được chia làm 3
loại rủi ro chính: rủi ro thị rường, rủi ro lãi suất và rủi ro sức mua
* Rủi ro thị trường : Giá cả cổ phiếu giao động mạnh trong một
khoảng thời gian ngắn mặc dù thu nhập, tình hình kinh doanh của công
ty vẫn không thay đổi. Nguyên nhân của nó có thể rất khác nhau nhưng
phiếu công ty. Nói cách khác, chi phí vay vốn đối với các loại chứng
khoán không rủi ro thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi về chi phí vay vốn
10
của các loại chứng khoán có rủi ro.
*Rủi ro về sức mua :Rủi ro thị trường và rủi ro lãi suất có thể được
định nghĩa là những biến cố về số tiền thu được hiện nay của nhà đầu tư
.Trong khi đó rủi ro sức mua là biến cố của sức mua của đồng tiền thu
được. Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư,
biến động giá càng cao thì rủi ro sức mua càng tăng nếu nhà đầu tư
không tính toán lạm phát vào thu nhập kỳ vọng.
Nhà đầu tư nắm giữ chứng khoán mặc dù có khả năng thu được
lợi nhuận trong tương lai nhưng họ lại mất đi cơ hội mua sắm hàng hóa
dịch vụ trong thời gian nắm giữ chứng khoán .Mặt khác giá cả hàng
hóa tăng lên trong thời gian nắm giữ chứng khoán do yếu tố lạm phát
nhà đầu tư sẽ mất đi một phần sức mua từ thu nhập có được trong tương
lai .Giá trị phần sức mua bị giảm sút do lạm phát phản ánh mức rủi ro
sức mua của nhà đầu tư chứng khoán .
b.Rủi ro phi hệ thống : là những rủi ro có nguyên nhân xuất phát
từ nội tại của 1 công ty , một nghành nào đó mà không ảnh hưởng gắn
liền đến toàn bộ thị trường . Do đó ảnh hưởng của các rủi ro phi hệ
thống chỉ ảnh hưởng đến phạm vi một công ty , một nghành hay một
loại chứng khoán nào đó.Các yếu tố gây ảnh hưởng này có thể là những
biến động về lực lượng lao động, năng lực quản trị, kiện tụng hay chính
sách điều tiết của chính phủ .
Rủi ro phi hệ thống có thể phân tán giảm thiểu rủi ro được thông
qua mở rộng danh mục đầu tư .
Rủi ro phi hệ thống thường bao gồm các loại như rủi ro kinh
doanh , rủi ro tài chính , rủi ro quản lý...
* Rủi ro kinh doanh : Rủi ro kinh doanh là những rủi ro về sự
11
trọng đối với những người nắm giữ cổ phiếu thường, đó là làm tăng mức
biến động trong thu nhập của họ, ảnh hưởng đến dự kiến của họ về thu
nhập, và làm tăng rủi ro của họ.
Giả sử chúng ta có hai công ty có hoạt động kinh doanh như
nhau, chỉ khác nhau về cơ cấu vốn:
Công ty C, nguồn vốn hoàn toàn từ 1 triệu cổ phiếu thường, bán
với giá 20 đôla/1cổ phiếu.
Công ty khác, công ty D, có nguồn một nửa là từ cổ phiếu
thường 500.000 cổ phiếu, bán với giá 20 đô la/ cổ phiếu và một nửa là từ
vay nợ 10 triệu USD với lãi vay là 5%.
Như vậy, tài sản có của mỗi công ty là 20 triệu USD, dự kiến sẽ
có lợi nhuận 1 triệu USD, hay là 5% trên tổng tài sản.
Chúng ta giả sử rằng không có thuế thu nhập công ty. Thu nhập
1 triệu USD có thể dễ dàng chuyển đổi sang thu nhập cho mỗi cổ phiếu.
Công ty C sẽ có lãi 1 đô la/1 cổ phiếu. Công ty D phải trả lãi 500.000 đô
la và phần còn lại chia cho cổ phiếu cũng được lãi 1 đô la/1cổ phiếu. Tại
điểm này, cả hai công ty đều có mức thu nhập trên cổ phiếu là 1 đô la.
Như vậy ta không thấy có hệ quả của việc vay nợ đối với thu nhập của
cổ đông.
Nhưng nếu năm tiếp sau đó, lợi nhuận cả hai công ty tăng thêm
50%, vậy trong trường hợp của công ty D, cổ đông được hưởng thêm 1
đôla/cổ phiếu nhiều hơn cổ đông của công ty C chỉ được hưởng thêm 0,5
13
đôla/cổ phiếu, vì lợi nhuận D lúc đó là 1,5 triệu USD mà vẫn chỉ phải trả
lãi suất 5% trên số tiền cho vay.
Ngược lại, nếu lợi nhuận giảm 50% sẽ làm cho lợi nhuận trên 1
cổ phiếu của công ty C giảm xuống 50% từ 1 đô la xuống 0.5 đô la
nhưng lợi nhuận trên một cổ phiếu của Công ty D sẽ giảm từ 1 xuống 0.
Qua đó chúng ta thấy được những hậu quả trực tiếp mà rủi ro tài chính
gây ra cho thu nhập của nhà đầu tư chứng khoán.
vào sử dụng để tạo lập danh mục đầu tư hữu hiệu
•Thị trường vốn là thị trường cạnh tranh hoàn hảo.Nhà đầu tư
được cung cấp thông tin đầy đủ , không có những hạn chế đầu tư
và không có nhà đầu tư nào đủ lớn để ảnh hưởng đến giá cả của
một loại cổ phiếu nhất định
•Không tồn tại các loại phí giao dịch trên thị trường hay bất
kỳ một sự cản trở nào trong môi trường cung và cầu của một loại
tài sản.
•Trên thị trường tồn tại loại tài sản không có rủi ro ( Risk-
free- Asset) mà nhà đầu tư có thể đầu tư lãi suất vay và lãi suất cho
vay cùng bằng nhau và bằng lãi suất không rủi ro.
3. Nội dung của mô hinh CAPM :
15
Theo mô hinh CAPM mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ
vọng
Rj = Rf +( Rm – Rf )βj
Trong đó :
Rj là lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán j.
Rf là lợi nhuận không rủi ro , lợi nhuận này có tỷ suất bằng lãi suất
của trái phiếu chính phủ
Rm là lợi nhuận kỳ vọng của thị trường.
Βj là hệ số beta , hệ số đo lường rủi ro của chứng khoán j
a. Quan hệ giữa lợi nhuận cá biệt và lợi nhuận thị
trường :
Trước tiên ta phải hiểu lợi nhuận thị trường là lợi nhuận của các
doanh mục đầu tư thị trường .Danh mục đầu tư thị trường được lựa chọn
theo từng loại thị trường .
Để tìm hiểu mối quan hệ giữa lợi nhuận cá biệt và lợi nhuận thị
trường ta xét ví dụ về lợi nhuận cổ phiếu của công ty A với sự biến động
của nền kinh tế.
Mặt khác, hệ số cũng có thể được viết bằng cách khác, đó là quan
17
hệ tỷ lệ giữa rủi ro của vốn chủ sở hữu so với rủi ro thị trường.
β= σRj/σRm.
Theo ví dụ trên chúng ta xem xét hệ số beta bằng tỷ số giữa mức
đọ biến động lợi nhuận cua A , ứng với tình trạng tăng trưởng và suy
thoái của nền kinh tế và mức độ biến động lợi nhuận thị trường .
Do đó : β= [ 20-(-10)]/[15-(-5)] =1.5
c. Cách tính hệ số beta :
Để tính hệ số beta là hệ số đo lường rủi ro chứng khoán trên thực
tế các nhà kinh tế học sử dụng phương pháp hồi quy, từ đó ước lượng hệ
số beta dựa trên các số liệu trong lịch sử.
Ta xây dựng một hàm hồi quy trong đó biến độc lập là suất sinh lợi
của danh mục đại diện cho toàn bộ thị trường, còn biến phụ thuộc là suất
sinh lợi của chứng khoán i. Tại các nước, vì thị trường chứng khoán bao
gồm rất nhiều chứng khoán khác nhau nên người ta coi danh mục thị
trường đồng nghĩa với danh mục cổ phiếu lập chỉ số chính của thị trường
cổ phiếu, ở Mỹ là S&P 500, ở Pháp là CAC 40, ở Nhật là Nikkei 225, ở
Việt Nam tất nhiên sẽ phải là VN-Index. Công thức của mô hình thị
trường như sau :
R
jt
= a
i
+ β
i
R
Mt
+ e
it
có Burns Fry limited cung cấp.
4. Quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận , đường SML :
Lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán có quan hệ đồng biến với
rủi ro của chứng khoán đó , nghĩa là nhà đầu tư kỳ vọng vào chứng
khoán có rủi ro cao thì sẽ có lợi nhuận cao và ngược lại. Nói 1 cách khác
nhà đầu tư chỉ giữ những chứng khoán có rủi ro cao khi lợi nhuận kỳ
vọng của nó đủ lớn để bù đắp rủi ro .Như ta đã biết hệ số beta là hệ số đo
lường rủi ro của một chứng khoán .Như vậy lợi nhuận kỳ vọng của một
chứng khoán có quan hệ đồng biến với hệ số của nó.
Bây giờ ta giả sử rằng thị trường tài chính hiệu quả và nhà đầu tư đa
dạng hóa danh mục đầu tư sao cho rủi ro phi hệ thống được loại bỏ. Khi
đó, chỉ còn rủi ro hệ thống ảnh hưởng đến lợi nhuận của cổ phiếu . Cổ
19
phiếu có beta càng cao thì độ rủi ro càng cao vì vậy cần một lợi nhuận
kỳ vọng đủ lớn để bù đắp.
Như đã nói ở trên , theo mô hình CAPM mối quan hệ giữa lợi
nhuận và rủi ro được diễn tả bới công thức :
Rj = Rf +( Rm – Rf ) βj
Phương trình trên biểu diễn nội dung mô hình CAPM , có dạng hàm
số bậc nhất y = ax + b với biến phụ thuộc ở đây là Rj, biến độc lập là βj
và hệ số góc là ( Rm – Rf ).
Xét về mặt hình học , mối quan hệ giữa lợi nhuận kỳ vọng cổ phiếu
và hệ số rủi ro beta được biểu diễn bằng đường thẳng : đường thị trường
chứng khoán
SML ( security market line )
20
ĐƯỜNG SML
Từ công thức và đồ thị ở trên ta có thể thấy :
•Beta = 0 : Lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán có beta = 0
chính là lợi nhuận không rủi ro và bằng Rf , Tại đây tỷ suất lợi
đầu tư nhiều cổ phiếu 5. Một số phát hiện bất thường khi sử dụng mô
hình CAPM
22
Rát nhiều học giả kinh tế khi áp dụng mô hình CAPM đã phát
hiện ra một số điểm bất thường khiến cho mô hình không còn đúng như
bình thường.Những điểm bất thường bao gồm:
•Ảnh hưởn của quy mô công ty : Người ta phát hiện rằng cổ
phiếu của công ty có giá trị thị trường nhỏ đem lại lợi nhuận cao
hơn cổ phiếu của công ty có giá trị thị trường lớn.Các yếu tố khác
như nhau
•Ảnh hưởng của các tỷ số PR và MB : Người ta cũng thấy
rằng cổ phiếu của những công ty có tỷ số PE và tỷ số MB thấp
đem lại lợi nhuận cao hơn cổ phiếu của những công ty có tỷ số PE
và MB cao
•Ảnh hương tháng giêng : Những người nào nắm giữ số cổ
phiếu trong khoảng thời gian từ tháng 12 đến tháng 1 thường có
lợi nhuận cao hơn so với những người khác. Tuy vậy , không phải
năm nào cũng xảy ra hiện tượng này
23
CHƯƠNG II : RỦI RO TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
I. Quá trình hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam
1. Sự ra đời của Ủy ban chứng khoán nhà nước :
Xây dựng và phát triển TTCK là mục tiêu đã được Đảng và Chính
phủ Việt Nam định hướng từ những năm đầu thập kỷ 90 (thế kỷ 20)
nhằm xác lập một kênh huy động vốn mới cho đầu tư phát triển. Việc
nghiên cứu, xây dựng đề án thành lập TTCK đã được nhiều cơ quan Nhà
nước, các Viện nghiên cứu phối hợp đề xuất với Chính phủ.
Một trong những bước đi đầu tiên có ý nghĩa khởi đầu cho việc xây
dựng TTCK ở Việt Nam là việc thành lập Ban Nghiên cứu xây dựng và
Đây là bước đi có ý nghĩa rất quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình
hình thành TTCK, làm tiền đề cho sự ra đời cơ quan quản lý nhà nước
với chức năng hoàn chỉnh và đầy đủ hơn.
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) được thành lập ngày
28/11/1996 theo Nghị định số 75/CP của Chính phủ, là cơ quan thuộc
Chính phủ thực hiện chức năng tổ chức và quản lý Nhà nước về chứng
khoán và thị trường chứng khoán. Việc thành lập cơ quan quản lý thị
trường chứng khoán (TTCK) trước khi thị trường ra đời là bước đi phù
25