Tín dụng ngân hàng cho các DNNVV tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp - Pdf 20

Đề tài: Tín dụng ngân hàng cho các DNNVV tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp
Chương 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ DNNVV VÀ
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CHO DNNVV
1.1. Khái niệm và phân loại các DNNVV.
Mặc dù nhiều người đồng ý rằng thị trường SME có qui mô và tầm quan trọng đáng kể,
định nghĩa về thị trường này vẫn còn khác nhau rất nhiều trên toàn thế giới. Thường không có
một định nghĩa duy nhất về SME ngay cả giữa các quốc gia:
Quốc Gia Nhân Viên
Doanh Thu Hàng Năm
(Doanh Thu)
Hoa Kỳ <500 cho phần lớn hoạt động
sản xuất và khai thác
<$7 triệu đối với đa số các ngành
không liên quan tới sản xuất, nhưng
dao động tới mức tối đa là $35,5 triệu
Canada 10 tới 250 <50 triệu CAD
Mexico <500 trong hoạt động sản xuất,
<50 trong hoạt động dịch vụ
Nam Phi 10–20 tới 100–200, tùy thuộc
vào từng ngành
200–300.000 ZAR tới 4–50 ZAR
triệu, tùy thuộc vào từng ngành
Thái Lan <200 trong các ngành sử dụng nhiều lao động và
<100 trong các ngành sử dụng nhiều vốn
Thổ Nhĩ Kỳ 10 tới 250
Nguồn: IFC (2004) SME Landscape in Egypt, U.S. Small Business
Administration, Statistics Canada
- Malaysia SMIDEC có định nghĩa khác về thị trường SME, theo ngành:
Qui mô
công ty
Sản Xuất,

Qui mô công ty Nhân viên (người) Tài sản Doanh thu hàng năm
Vi mô <10 <$100.000 <$100.000
Nhỏ 10 - <50 <$3 triệu <$3 triệu
Vừa 50 - <300 <$15 triệu <$15 triệu
[1]
Đề tài: Tín dụng ngân hàng cho các DNNVV tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp
Qui mô vay trung bình
Vi mô <$10.000
Nhỏ <$100.000
Vừa <$1 triệu (<$2 triệu đối với một số quốc gia tiên tiến)
Nguồn dữ liệu: Ayyagari, Beck, và Demirgüç-Kunt (2005)
- Tại Việt nam:
+ Theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp
phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, định nghĩa: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất,
kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không
quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình
hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp,
Chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc
một trong hai chỉ tiêu nói trên.”
+ Theo Nghị định số 56/2009/NĐ–CP ngày 30/06/2009 của Chính Phủ về trợ giúp
phát triển DNNVV (thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về
trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa), định nghĩa: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở
kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ,
nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác
định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng
nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Quy mô
Khu vực
DN siêu
nhỏ

lớn hơn rất nhiều so với dN may mặc có 150 công nhân.
1.2. Các đặc điểm của DNNVV
[2]
Đề tài: Tín dụng ngân hàng cho các DNNVV tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp
- Về vốn và bộ máy tổ chức quản lý:
+ Các DNNVV được tạo lập khá dễ dàng, có thể quản lý theo quy mô hộ gia đình,
hoặc quan hệ bạn bè. Để thành lập một DNNVV chỉ cần một số vốn đầu tư ban đầu không lớn.
+ Bộ máy tổ chức quản lý được thành lập rất gọn nhẹ, quyết định kinh doanh, điều
hành quản lý rất nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và chi phí quản lý. Thông thường theo mô
hình quản lý kiểu gia đình rất phổ biến đối với doanh nghiệp tư nhân.
- Về lao động: DNNVV thu hút số lượng lớn lao động có trình độ chuyên môn trung
bình và thấp vào làm việc. Nhưng mặt khác, điều kiện làm việc, chế độ lương bổng và chính
sách phúc lợi không được tốt như các doanh nghiệp lớn, do vậy DNNVV rất khó khăn trong
thu hút lao động có trình độ chuyên môn cao.
- Vế chiến lược, mục tiêu: Các DNNVV chưa quan tâm, cũng như chưa đủ điều kiện
hướng đến chiến lược kinh doanh dài hạn mà chủ yếu là quan tâm đến lợi ích trước mắt và kế
hoạch ngắn han.
- Về loại hình hoạt động và thị trường:
+ Bước khởi nghiệp của DNNVV không cần các nguồn lực quá mạnh về tài chính,
công nghệ, nhân sự… Do vậy, các DNNVV rất năng động trước những biến động của thị
trường, linh hoạt chuyển hướng kinh doanh, thay đổi sản phẩm, thời gian thu hồi vốn nhanh.
Tuy nhiên, do vốn đầu tư ít nên hoạt động kém ổn định, mức độ ứng dụng công nghệ vào sản
xuất kinh doanh còn ở mức thấp, khả năng tích lũy, tái đầu tư mở rộng kinh doanh thấp vì thế
dễ dẫn đến tình trạng suy thoái và thậm chí là phá sản.
+ DNNVV thường gặp khó khăn trong tiếp cận thông tin thị trường, tiếp cận công
nghệ sản xuất và công nghệ quản lý tiên tiến. Ngoài ra, do uy tín thương trường cũng như
thương hiệu của các DNNVV còn hạn chế nên DN khó khăn trong việc thâm nhập thị trường
quốc tế và mở rộng thị phần.
+ Ngoài ra, hoạt động của các DNNVV thiếu vững chắc, thiếu liên kết và dễ bị tác
động bởi những biến động vĩ mô. Với ưu thế linh hoạt, cơ cấu ngành nghề đa dạng, đáp ứng

hoạt động và các đặc điểm liên quan đến chủ/người điều hành DN.
1.2.2. Rủi ro về tài chính:
Thông thường các chủ nợ xác định rủi ro tài chính của một DN thông qua việc phân
tích cấu trúc tài chính của nó để nhận diện khả năng thực hiện các cam kết cho cho các nghĩa
vụ trả nợ cho tương lai. Thực vậy, khi phân tích các hồ sơ đề nghị vay vốn của DN, các định
chế tài chính quan tâm đến chủ yếu bản chất và số lượng các khoản nợ thể hiện trên các tài liệu
kế toán, nhằm mục đích xác định mức độ họ có thể tài trợ, bởi lẽ giữa khối lượng nợ và rủi ro
tài chính của DN có liên hệ với nhau. Nhưng không phải lúc nào DN có dư nợ càng lớn thì rủi
ro tài chính của DN càng cao.
1.3. Vai trò của DNNVV đối với sự phát triển của nền kinh tế
Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ thì DNNVV là cơ
sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu
nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được
xác định trong Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm.
DNNVV hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, ngành nghề kinh tế: thương mại, dịch vụ, công
nghiệp, xây dựng, nông, lâm, ngư nghiệp và dưới mọi hình thức như: doanh nghiệp nhà nước
(DNNN), doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài Thực tế cho thấy qua 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của
Đảng và Nhà nước, đến nay, khu vực DNNVV đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đóng
góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thứ nhất, DNNVV đã góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển của các ngành nghề và cả
nền kinh tế, tạo thêm nhiều hàng hoá, dịch vụ và đáp ứng ngày càng cao nhu cầu thị trường.
Theo Cục Phát triển doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2010, cả nước hiện nay có
453.800 DNNVV, chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp hiện có ở Việt Nam, đóng góp
khoảng 40% GDP cả nước. Do các DNNVV có đặc điểm là vốn đầu tư ban đầu nhỏ nên chu kỳ
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường ngắn, dẫn đến khả năng thu hồi vốn nhanh và
tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả. Bên cạnh đó, các DNNVV luôn thích ứng
cao trước những thay đổi của thị trường, có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển
hướng mặt hàng nhanh. Sản phẩm của các DNNVV đa dạng, phong phú nhưng số lượng không
lớn, nên dễ dàng chuyển hướng sang loại hình kinh doanh khác, phù hợp với thị trường. Vì

Các DNNVV thường có nhu cầu vay vốn ngân hàng để bổ sung vốn lưu động, đầu tư
các dự án nhỏ do tiềm lực tài chính, cũng như khả năng quản lý không đủ để đảm nhiệm các
dự án có tầm vóc lớn.
1.4.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV
Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển của các DNNVVlà một tất yếu
khách quan và cũng như các loại hình doanh nghiệp khác trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh, các doanh nghiệp này cũng sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu
cầu thiếu hụt vốn cũng như để tối ưu hóa hiệu quả sữ dụng vốn của mình. Vốn tín dụng các
ngân hàng đầu tư cho các DNNVV đóng vai trò rất quan trọng, nó chẳng những thúc đầy sự
phát triển khu vực kinh tế này mà thông qua đó tác động trở lại thúc đẩy hệ thống ngân hàng,
đổi mới chính sách tiền tệ hoàn thiện các cơ chế chính sách về tín dụng, thanh toán ngoại hối…
Để thấy được vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc phát triển DNNVV, ta xét một số vai
trò sau:
- Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế hỗ trợ sự ra dời và phát triển của các DNNVV,
góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho các DNNVV.
Trong cơ chế nền kinh tế thị trường hiện nay, bất cứ ai cũng muốn đồng vốn của mình
sinh lời. Những người có vốn tạm thời nhàn rỗi sẵn sàng cho vay số tiền đó để kiếm lãi, còn
[5]
Đề tài: Tín dụng ngân hàng cho các DNNVV tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp
những nhà doanh nghiệp cũng vì mục đích sinh lợi của vốn mà cần vay thêm tiền để mở rộng
sản xuất. Với tư cách là trung gian dẫn vốn, ngân hàng đã giải quyết mâu thuẫn đó. Với hoạt
động đi vay để cho vay, ngân hàng đã tạo cơ hội cho các chủ doanh nghiệp muốn thành lập
công ty hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh có thể vay vốn để thực hiện.
Tín dụng ngân hàng tác động điều tiết sự di chuyển vốn đầu tư làm bình quân hoá tỷ
suất lợi nhuận thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV, Tín dụng ngân hàng luôn chuyển hướng
đầu tư vào những doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận cao, hạn chế hoặc không đầu tư vào những
doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận thấp. Qua đó tín dụng ngân hàng làm thay đổi quan hệ về
cung- cầu hàng hoá và thay đổi cơ cấu ngành nghề kinh tế.
Ngoài nguồn vốn chủ sỏ hữu các doanh nghiệp có thể sử dụng các nguồn vốn khác như
vốn vay từ ngân hàng, vốn tín dụng thương mại, phát hành các giấy nợ, giấy tờ có giá Tuy

các doanh nghiệp này là tăng cường liên doanh liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản
[6]
Đề tài: Tín dụng ngân hàng cho các DNNVV tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp
xuất, trang bị kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh. Tuy nhiên để có một số vốn đủ lớn đầu
tư cho đầu tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có hạn hẹp, khả năng tích lũy thấp thì phải mất
nhiều năm mới thực hiện được. Và khi đó cơ hội đầu tư không còn nữa. Như vậy để đáp ứng
kịp thời, các DNNVV chỉ có thể tìm đến tín dụng ngân hàng. Chỉ có tín dụng ngân hàng mới
có thể giúp doanh nghiệp thực hiện được mục đích của mình là mở rộng phát triển sản xuất
kinh doanh.
- Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện cho các DNNVV tiếp cận nguồn vốn nước ngoài
Bên cạnh việc kích thích các tổ chức kinh tế và cá nhân trong nước thực hiện tiết kiệm,
thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn tiền tệ, TD ngân hàng còn thu hút nguồn vốn nước
ngoài dưới nhiều hình thức như trực tiếp vay bằng tiền, bảo lãnh cho các doanh nghiệp mua
thiết bị trả chậm, sử dụng hạn mức L/C… Như vậy quan hệ quốc tế của các doanh nghiệp đã
được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà kinh doanh đặc biệt trong lĩnh vực xuất
nhập khẩu.
Thông qua nguồn vốn vay này, DNNVV xác lập một cơ cấu vốn tối ưu đảm bảo kết
hợp hiệu quả giữa nguồn đi vay cũng như nguồn tự có nhằm sản phẩm sản xuất tại giá vốn
bình quân rẻ nhất, nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng hàng hoá và được thị trường chấp
nhận. Có như vậy thì doanh nghiệp mới đạt mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
- Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho các DNNVV.
Trong nền kinh tế thị trường hiếm có doanh nghiệp nào dùng vốn tự có để sản xuất
kinh doanh. Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hóa hiệu quả sử
dụng vốn. đối với các DNNVV do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là
khó khăn vì vốn hạn hẹp và nếu sử dụng thì giá vốn sẽ cao và sản phẩm khó được thị trường
chấp nhận. để hiệu quả thì doanh nghiệp phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấu hợp lí nhất là
nguồn vốn tự có và nguồn vốn vay nhằm tối đa hóa lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ
nhất.
1.4.4. Các loại hình tín dụng dành cho DNNVV
Từ các đặc điểm của các DNNVV, trên thực tế các sản phẩm tín dụng chủ yếu dành

DNNVV trong vay vốn ngân hàng, Ngân hàng phát triển VN có thể phát hành bảo lãnh vay
vốn cho các DNNVV.
- Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê
máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê
giữa bên cho thuê vơi bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị phương tiện vận
chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các
tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê
đã được hai bên thỏa thuận. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại
tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê tài
chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất,
tương đương với giá trị tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng. Về mặt lý thuyết, cho thuê tài
chính có thể là phương cách tiếp cận tín dụng trung dài hạn đối với các DN có quy mô vốn
nhỏ, ít có tài sản thế chấp hoặc mới thành lập. Đa phần các DNNVV nằm trong dạng này.
- Nghiệp vụ bao thanh toán:
Theo công ước quốc tế về bao thanh toán của Unidroit 1988, nghiệp vụ bao thanh tóan
được định nghĩa như là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao
dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng. Theo đó, tổ chức tài trợ thực hiện tối
thiếu hai trong số các chức năng sau: tài trợ bên cung ứng, quản lý sổ sách liên quan đến các
khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, đảm bảo rủi ro không thanh toán của bên mua hàng.
Còn hiệp hội bao thanh toán thế giới FCI thì định nghĩa : đây là một loại hình dịch vụ
tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo
dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ. Đó là sực thỏa thuận của người cung cấp dịch vụ bao
thanh toán với người cung ứng hàng hóa dịch vụ, hay còn gọi là người bán hàng trong quan hệ
mua bán hàng hóa. Theo như thỏa thuận, factor sẽ mua lại các khoản phải thu của người bán
dựa trên khả năng trả nợ của người mua trong quan hệ mua bán hàng hóa.
Ngoài ra, đối với một số tổ chức cung cấp dịch vụ bao thanh toán khác thì nghiệp vụ
bao thanh toán được định nghĩa là việc mua lại các khoản phải thu, hay việc cung cấp tài trợ tài
chính ngắn hạn thông qua việc trả các khoản phải thu ngay lập tức bằng tiền mặt để cải thiện
dòng ngân lưu của khách hàng, đồng thời nhận lấy rủi ro tín dụng. Các dịch vụ đi kèm gồm có
quản lý nợ, quản lý sổ cái bán hàng, xếp hạng mức tín dụng và thu hộ.

chỉ có khoảng 20% các DNNVV được tiếp cận với chính sách ưu đãi và trong số này, hơn 60%
cho rằng phải qua rất nhiều cửa ải và khá tốn kém.
Thứ tư, những vấn đề mà các DNNVV phải đối mặt trong vấn đề xuất nhập khẩu, gồm:
Việc tiếp cận với hạn ngạch xuất - nhập khẩu bị hạn chế và trên thực tế các DNNN vẫn giành
được sự ưu tiên; Thiếu thông tin về thị trường của đối tác, về khách hàng nước ngoài và thiếu
mạng lưới marketing; Tín dụng xuất khẩu và bảo hiểm xuất khẩu không đáp ứng được yêu cầu
của các doanh nghiệp; Thủ tục hải quan còn rườm rà
* Nguyên nhân của những rào cản trên:
Thứ nhất, đó là quan điểm nhìn nhận của xã hội về khu vực DNNVV còn nhiều định
kiến. Còn nhiều người trong cộng đồng vẫn coi khu vực này chưa có đủ tin cậy, họ cho rằng
các doanh nghiệp này hoạt động thường không ổn định và kém hiệu quả.
[9]
Đề tài: Tín dụng ngân hàng cho các DNNVV tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp
Thứ hai, vẫn còn khá nhiều các tổ chức kinh tế phân biệt đối xử đối với khu vực này,
điển hình là nhiều NHTM cho rằng các DNNVV không “đủ tin cậy” bằng các DNNN, vì vậy,
khả năng tiếp cận nguồn tín dụng của ngân hàng của các doanh nghiệp này thấp.
Thứ ba, các thủ tục hành chính đã tạo ra nhiều rào cản đối với các DNNVV. Thủ tục
hành chính phiền hà gây tốn kém về thời gian và tiền bạc của các DNNVV, làm các DNNVV
mất đi nhiều cơ hội kinh doanh của mình.
Thứ tư, bên cạnh những yếu tố khách quan trên thì bản thân khu vực DNNVV cũng tự
tạo ra những cản trở cho chính sự phát triển của mình, cụ thể như:
- Năng lực kinh doanh còn hạn chế, chưa thực sự tạo lập được uy tín và danh tiếng của
mình trên thị trường;
- Một số doanh nghiệp chạy theo lợi ích trước mắt, kinh doanh theo kiểu “chụp giật”, ít
có doanh nghiệp xây dựng chiến lược lâu dài hoặc chú trọng tới vấn đề xây dựng thương hiệu;
- Do quy mô vốn nhỏ nên các DNNVV không có điều kiện đầu tư quá nhiều vào nâng
cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại và việc sử dụng các công
nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tính cạnh tranh trên thị trường kém;
- Năng lực quản lý còn thấp: Số lượng DNNVV có chủ doanh nghiệp, giám đốc giỏi,
trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều. Một bộ phận lớn chủ doanh

sau đó giảm còn 31% năm 2009, tương đương khoảng 708,5 tỷ đồng. Năm 2011, khu vực
DNNVV đã đóng góp 33% sản lượng công nghiệp, 30% giá trị xuất khẩu cho đất nước…Các
DNNVV tạo ra 45 đến 50% khối lượng hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, đóng góp 20% cho
ngân sách nhà nước, thu hút 56% số lao động trong các DN. Ðây là một trong những yếu tố
đóng góp tích cực vào an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo bởi với tính linh hoạt, các DN này
có thể đi vào tận các vùng, miền.
Trong tiến trình cải cách và phát triển kinh tế ở Việt Nam, DNNVV luôn chiếm tỷ
trọng lớn. Tuy là những doanh nghiệp nhỏ về vốn, lao động hay doanh thu, song cùng với sự
gia tăng mạnh mẽ về số lượng và quy mô hoạt động, các DNNVV đã khẳng định được vai trò
quan trọng của mình trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng, thay đổi cơ cấu kinh tế, tạo việc
làm, giúp cải thiện mức sống của người dân, góp phần rất lớn vào công cuộc xóa đói giảm
nghèo.
Do những điều kiện hạn chế, bài tiểu luận chưa thể cập nhập đầy đủ các số liệu thống
kê liên quan đến DNNVV theo Nghị định số 56/2009/NĐ–CP. Các số liệu thống kê dưới đây
được lấy theo tiêu chuẩn phân loại DNNVV quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ–CP, đó là
các DN có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng và quy mô lao động đưới 300 người. Căn cứ vào tiêu
chí trên, đặc biệt tiêu chí về vốn thì đa số các DN ngoài quốc doanh (kinh tế tư nhân) của Việt
nam là DNNVV. Có thể thấy điều này qua số liệu thống kê doanh nghiệp Việt Nam từ năm
2000-2008 của Tổng cục thống kê Việt Nam, phản ảnh qua Bảng 2.1 dưới đây, theo đó, đến
cuối năm 2008 có đến DNNVV Việt Nam theo quy mô vốn là các doanh nghiệp thuộc kinh tế
tư nhân.
Bảng 1: Quy mô Doanh nghiệp Việt Nam theo lao động,
vốn phân theo thành phần kinh tế tính đến ngày 31/12/2008
Loại DN theo
thành phần
Tổng số DN
Số lượng Tỷ trọng
Tổng số DN 205.689 100% 201.580 171.232 98.00% 83.25%
DN nhà nước 3.287 1.60% 2.207 535 67.14% 16.28%
DN tư nhân 196.776 95.67% 194.916 169.092 99.05% 85.93%

Xét về cơ cấu ngành: DNNVV tập trung vào các phân ngành dệt may, da giày, gốm sứ
tiêu dùng và mỹ nghệ, rựợu bia, cơ khí sửa chữa, lắp ráp, sản xuất nông ngư cơ, hoá chất tiêu
dùng, chế biến gỗ…Hoạt động của DNNVV ngành công nghiệp đã làm ra nhiều của cải vật
chất cho xã hội và đã tạo việc làm cho một tỷ lệ lớn lao động công nghiệp.
Xét theo vùng kinh tế: các DNNVV công ngiệp địa phương, phát triển nói chung là
không đồng đều giữa các vùng, tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Hồng (60% số lượng
DNNVV của miền bắc, xấp xỉ 29% của cả nước) và vùng Đông Nam Bộ (80% của miền Nam,
xấp xỉ 39% của cả nước).
Xét theo thành phần kinh tế: khu vực quốc doanh địa phương, với số lao động chỉ bằng
1/8 số lao động của công nghiệp ngoài quốc doanh, nhưng đã tạo ra một giá trị xấp xỉ khu vực
ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, công nghiệp quốc doanh địa phương có tốc độ tăng trưởng chậm
hơn, hoạt động kém hiệu quả hơn, có tới 60% số DN tồn tại chỉ đơn thuần là giải quyết công ăn
việc làm cho số lao động hiện có.
Xét theo ngành kinh tế - kỹ thuật: tỷ trọng các DNNVV trong một số phân ngành sản
xuất khá lớn, ví dụ trong công nghiệp chế biến: 86%, trong phân phối diện, khí đốt và nước:
khoảng 62%, trong công nghiệp khai thác mỏ: khoảng 84%; trong sửa chữa lắp ráp cơ khí nhỏ,
xe có động cơ, mô tô, xe máy, đồ dùng: 93% , sản xúât vật liệu xây dựng: khoảng 20%, sản
xuất các sản phẩm tiêu dùng truyền thống: 15%, các sản phẩm khác khoảng 10%
Một điểm đặc thù trong lĩnh vực này là sự hình thành và phát triển các khu - cụm -
điểm công nghiệp địa phương Khác với khu công nghiệp tập trung quốc gia, khu - cụm - điểm
công nghiệp địa phương có phạm vi nhỏ, cơ sở hạ tầng không đòi hỏi cao, phục vụ trực tiếp
cho các DNNVV, được hình thành chủ yếu để bổ sung những mảng quy hoạch mà KCN tập
trung cấp quốc gia chưa bao quát được.
2.1.2.1. Quy mô vốn và cách tiếp cận nguồn vốn của các DNNVV
Trong hoạt động sản xuất, vốn được xem là nền tảng cơ bản nhất. Vốn trong DN được
thể hiện được dạng máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nguyên - nhiên vật liệu và các tài sản vô
hình khác. Với các DNNVV, nguồn vốn đóng vai trò khá quan trong. Do xuất phát điểm của
các DNNVV thấp, lại khó tiếp cận với các nguồn tín dụng chính thức nên nguồn vốn chủ yếu
của các DNNVV được huy động chủ yếu từ các nguồn sau:
- Huy động nguồn vốn tự có: Nguồn vốn tự có đóng vai trò quan trọng trong việc khởi

dưới
5 tỷ
Từ 5 tỷ đến
dưới
10 tỷ
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
2000 42.288 16.267 38.47 6.534 15.45 10.759 25.44 2.745 6.49
2001 51.680 18.326 35.46 8.403 16.26 14.556 28.17 3.385 6.55
2002 62.908 18.591 29.55 10.994 17.48 20.141 32.02 4.490 7.14
2003 72.012 18.790 26.09 12.954 17.99 24.737 34.35 5.496 7.63
2004 91.756 23.187 25.27 16.191 17.65 32.739 35.68 7.303 7.96
2005 112.950 26.687 23.63 20.434 18.09 41.856 37.06 9.255 8.19
2006
131.31
8

Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
2000 42.288 21.069 49.82 12.071 28.54 5.633 13.32 1.124 2.66
2001 51.680 25.828 49.98 15.737 30.45 6.304 12.20 1.193 2.31
2002 62.908 30.218 48.04 20.718 32.93 7.541 11.99 1.354 2.15
2003 72.012 33.529 46.56 25.220 35.02 8.531 11.85 1.407 1.95
2004 91.756 44.436 48.43 32.443 35.36 9.808 10.69 1.535 1.67
2005 112.950 57.820 51.19 38.957 34.49 10.933 9.68 1.626 1.44
2006
131.31
8
74.814 56.97 39.365 29.98 11.677 8.89 1.737 1.32
2007 155.771 85.897 55.14 50.588 32.48 13.333 8.56 1.962 1.26
2008 205.689
114.92
8

lao động được qua đào tạo và 18% nguồn lao động có chất lượng rất thấp. Khả năng hợp tác
[15]
Đề tài: Tín dụng ngân hàng cho các DNNVV tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp
cũng như kỹ năng làm việc theo tổ nhóm của lao động trong các DNNVV còn hạn chế. Thậm
chí trình độ học vấn của đội ngũ chủ DNNVV cũng không cao. Theo kết quả điều tra của Bộ
Kế hoạch – Đầu tư, phần lớn cho thấy các DNNVV ngoài quốc doanh có 55,6% chủ DN có
trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó có 43,3% trình độ sơ cấp và phổ thông. Đặc
biệt, rất ít chủ DN tư nhân được đào tạo bài bản những kiến thức về quản trị kinh doanh, phần
lớn chỉ dựa vào kinh nghiệm và kiến thức tự học.
Các DNNVV hiện nay không chỉ thiếu lao động và lao động chưa đáp ứng được yêu
cầu mà các DN cũng rất thụ động trong công tác đào tạo nghề. Hầu hết các DN chỉ hứng phần
ngọn, tuyển dụng những lao động đã được đào tạo nhưng mỗi DN có công nghệ khác nhau, sản
xuất những loại sản phẩm khác nhau nên lao động đã qua đào tạo chưa chắc đã đáp ứng được
nhu cầu của công việc.
Đối với những lao động làm việc trong các DNNVV, do những điều kiện khách quan
về hạn chế đối với nguồn vốn và quy mô, hầu hết các DNNVV không đủ khả năng cạnh tranh
với các DN lớn trong việc thuê những lao động có tay nghề cao. Bên cạnh đó, định kiến của
người lao động và những người thân của họ về khu vực này vẫn còn khá lớn. Ngoài ra, những
người lao động không được đào tạo để nâng cao tay nghề trong quá trình hoạt động.
Khả năng thích ứng và hợp tác làm việc theo nhóm của người lao động trong các
DNNVV là rất thấp. Kể cả trong số người lao động lành nghề và những người quản lý của
DNNVV phần lớn đều thiếu khả năng giao tiếp quốc tế do hạn chế về ngoại ngữ. Thực tế đó
làm họ gặp nhiều khó khăn trong hợp tác kinh doanh với đối tác nước ngoài để mở rộng sản
xuất kinh doanh.
* Các bất cập xảy ra khi thực hiện chính sách với người lao động
Chính sách tiền lương chưa đảm bảo hợp lý với một số ngành và khu vực, đặc biệt với
khu vực DN ngoài quốc doanh lương bình quân chỉ bằng 56,6% khu vực DN nhà nước, bằng
68,4% khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh một số ngành nghề có lương cao thì lại có
một số ngành lương bình quân quá thấp như: Nuôi trồng thủy sản 1,1 triệu đồng, lâm nghiệp
1,374 triệu đồng, dệt may 1,43 triệu đồng, da giầy 1,38 triệu đồng, hoạt động tái chế 0,98 triệu

kiện cụ thể của DNNVV, nhiều đơn vị chưa có máy fax, giám đốc phải lo từng ngày để trả
lương đúng hạn cho nhân viên thì cũng khó nói tới việc ứng dụng CNTT.
Thứ ba, khả năng cung ứng sản phẩm và dịch vụ CNTT tốt cho DNVV còn hạn chế.
Rất dễ tìm phần mềm kế toán nhưng khó tìm được những sản phẩm đặc thù như thiết kế cho
ngành may, ngành cầu đường… Chưa kể đến chất lượng sản phẩm không tốt, giá lại cao so với
khả năng của DNNVV. Theo một nghiên cứu về thị trường dịch vụ, hơn 70% DN ở Việt Nam
(trông đó có cả DNNVV) không thỏa mãn với các dịch vụ được cung cấp.
Ngoài ra phải kể đến một nguyên nhân khác là môi trường pháp lý cho ứng dụng CNTT
và TMĐT ở nước ta còn chưa hoàn thiện, đã có Luật song chưa có văn bản dưới luật cụ thể.
Nếu như quá trình ứng dụng CNTT vẫn tiếp tục trì trệ và đặc biệt cụ thể là sau chương trình
112, người dân và các DN vẫn chưa thấy được hiệu quả của CNTT, tham gia TMĐT, các
DNNVV cần xây dựng và duy trì cho trang thiết bị công nghệ hoạt động một cách hấp dẫn, có
hiệu quả. Công nghệ cần được tổ chức xây dựng, vận hành, khai thác như là một đơn vị của
DN, nghĩ là có biên chế, có mặt bằng để hoạt động. Hơn thế nữa nó lại là bộ phận có thể hoạt
động không phụ thuộc vào không gian, thời gian.Việc sử dụng công nghệ cần luôn luôn gắn
chặt với hoạt động thực hiện mục tiêu của DN. Các chủ DN cần chỉ đạo trực tiếp các chương
trình kế hoạc ứng dụng CNTT, TMĐT của cơ sở mình. Điều cốt yếu là xây dựng cơ sở tri thức
– các CSDL có định hướng của chủ DN. Các DN nên hợp nhau lại hoặc hợp tác với những đối
tác giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực CNTT, TMĐT để giảm thiểu những rủi ro, bất trắc. Về
phía Nhà nước, để việc hỗ trợ các DNNVV thực sự có hiệu quả, cần sớm hoàn thiện, đồng bộ
hóa các văn bản dưới luật liên quan đến CNTT, viễn thông, TMĐT và gưỡng mẫu đi đầu thực
hiện, minh bạch hóa các nội dung thông tin quản lý DN.
2.1.2.4. Khả năng tiếp cận thị trường
Khả năng tiếp cận thị trường của các DNNVV nhiều hạn chế, đặc biệt đối với thị
trường nước ngoài. Nguyên nhân chủ yếu là do các DNNVV thường là những DN mới hình
thành, khả năng tài chính cho các hoạt động marketing không có và họ cũng chưa có nhiều
khách hàng truyền thống. Thêm vào đó, quy mô thị trường của các DN này thường bó hẹp
trong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất khó khăn.
[17]
Đề tài: Tín dụng ngân hàng cho các DNNVV tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp

tài chính. Quản lý đầu tư các dịch vụ hỗ trợ khác cho khách hàng là đối tượng DNNVV. Trợ
giúp tài chính còn được thực hiện thông qua các chương trình trợ giúp đào tạo. Nhà nước hỗ
trợ các DNNVV nâng cao năng lực lập dự án, phương án kinh doanh nhằm đáp ứng các yêu
cầu của tổ chức tín dụng (TCTD) khi thẩm định hồ sơ vay vốn của DNNVV.
Gần đây, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã nhận ủy thác cho vay nhiều nguồn vốn khác
nhau từ các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC), Quỹ
Phát triển các DNNVV do Ủy ban Châu Âu tài trợ, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Công
ty Tài chính Quốc tế (IFC) Nguồn vốn cho vay ủy thác có mức cho vay khá cao, thời gian
cho vay dài và ít đòi hỏi về tài sản đảm bảo. Các hỗ trợ khác của chương trình này cũng rất
đáng được quan tâm như đào tạo quản trị DN, tư vấn lập phương án kinh doanh, cung cấp
thông tin kinh tế
[18]
Đề tài: Tín dụng ngân hàng cho các DNNVV tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp
Tuy vậy, trên thực tế, việc tiếp cận các nguồn vốn nói trên của các DNNVV vẫn chưa
dễ dàng. Chẳng hạn, điều kiện tiên quyết là phải có dự án rất khả thi, là điều mà chỉ có một số
ít các DNNVV có thể đạt được. Bên cạnh đó, chỉ có một số ít lĩnh vực được xem xét tài trợ,
với những điều kiện rất khắt khe như điều kiện công nghệ, xử lý môi trường, khả năng thu hút
lao động
Đối với lĩnh vực cho vay trung dài hạn, các ngân hàng thương mại thường đưa ra
những điều kiện về tài sản thế chấp chặt chẽ trong khi các DNNVV ít khi có đủ tài sản đáp ứng
các nhu cầu như thế. Để phần nào giải quyết vấn đề trên, gần đây, vào thánh 3-2010, Ban Quản
lý các dự án tín dụng quốc tế về viện trợ phát triển (ODA), Ngân hàng Nhà nước cùng 17 ngân
hàng thương mại đã ký thoả thuận khung về tài trợ DNNVV giai đoạn 3 (SMEFP 3) với tổng
số tín dụng là 15 tỷ yên (khoảng 170 triệu USD). Dự án SMEFP do chính phủ Nhật Bản tài trợ
thông qua Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC), đã bắt đầu triển khai từ năm 2003 và
đã thực hiện qua 2 giai đoạn. Trong 3 giai đoạn, các ngân hàng tham gia đã tăng từ 9 lên 17
ngân hàng. Mục tiêu của dự án SMEFP là tạo điều kiện tiếp cận các nguồn vốn trung dài hạn
và tăng cường năng lực tài chính cho các DNNVV.
2.1.3.2. Thành lập Quỹ phát triển DNNVV
Mục đích hoạt động: tài trợ các chương trình giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho

bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
- Giới thiệu, cung cấp thông tin về công nghệ, thiết bị cho các DNNVV, hỗ trợ đánh giá,
lựa chọn công nghệ.
2.1.3.5. Trợ giúp trong xúc tiến mở rộng thị trường
Hàng năm, các Bộ, ngành và địa phương xây dựng kế hoạch và bố trí kinh phí thực
hiện các hoạt động xúc tiến mở rộng thị trường cho DNNVV.
Cơ quan quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại quốc gia hàng năm dành một phần
ngân sách xúc tiến thương mại quốc gia cho DNNVV, và thông báo kết quả thực hiện cho cơ
quan quản lý nhà nước về trợ giúp phát triển DNNVV quy định tại Điều 15 Nghị định số
56/2009/NĐ–CP.
2.1.3.6. Trợ giúp về thông tin và tư vấn
Nghị định số 56/2009/NĐ–CP quy định Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thông qua cổng thông tin điện tử cung cấp thông tin về
các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của DN, các chính sách, chương trình trợ giúp phát
triển DNNVV và các thông tin khác hỗ trợ hoạt động kinh doanh của DN.
2.1.3.7. Trợ giúp phát triển nguồn nhân lực
Nghị định số 56/2009/NĐ–CP giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trị, phối hợp với
các cơ quan liên quan hướng dẫn xây dựng kế hoạch trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực cho các
DNNVV, chủ yếu tập trung vào quản trị DN. Kế hoạch trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực cho
các DNNVV của các Bộ, ngành và địa phương sẽ được lồng ghéo vào kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội hàng năm, năm năm của Bộ, ngành và địa phương.
Cục Phát triển DNNVV thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã được gia nhiệm vụ thực hiện
chương trình đào tạo bồi dưỡng kiến thức cho các DNNVV trong giai đoạn 2004 – 2008 với
tổng kinh phí lên đến 119 tỷ đồng. Mục tiêu của Chương trình là thúc đẩy tạo điều kiện để các
DNNVV tăng khả năng cạnh tranh và phát triển cả về số lượng và chất lượng hệ thống các nhà
cung cấp dịch vụ hôc trợ/ phát triển kinh doanh. Riêng mục tiêu ngắn hạn là cung cấp những
kiến thức cần thiết về thành lập DN cho doanh nhân và nững người có ý định thành lập doanh
nghiệp; khắc phục những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng quản trị doanh nghiệp; trợ giúp
DNNVV xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường xuất khẩu,…
Đối tượng chính của chương trình là chủ và nhà quản lý của các DNNVV, các giảng

thực hiện một số giải pháp cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho DNNVV. Theo đó,
Chính phủ đã chỉ đạo NHNN chủ trì việc tiếp tục thực hiện các biện pháp điều chỉnh chính
sách tiền tệ để kiểm soát hoạt động tín dụng theo hướng tập trung phục vụ các nhu cầu vốn đối
với các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp, nông thôn, DNNVV.
Lần lượt trong các quý 3, 4/2010, Chính phủ yêu cầu NHNN đề xuất các giải pháp thúc
đẩy phát triển các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với DNNVV như bao thanh toán, cho thuê tài
chính ; Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì xây dựng Đề án thành lập Quỹ phát triển DNNVV,
trình Thủ tướng.
- Ngày 21/12/2010, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 64/NQ-CP về việc đơn giản hóa thủ
tục thuộc thẩm quyền giải quyết của Ngân hàng Chính sách xã hội. Theo đó, Chính phủ chủ
trương giao Ngân hàng Chính sách xã hội, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan, trước
ngày 31/3/2011 phải tiến hành đơn giản hóa các thủ tục theo hướng thuận tiện nhất cho doanh
nghiệp, đặc biệt là các DNNVV.
- Ngày 07/9/2012 Chính phủ ban hành Quyết định 1231/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch
phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2011 – 2015.
Theo quyết định nói trên, mục tiêu đặt ra trong giai đoạn 2011-2015 là: Số DNNVV thành
lập mới đạt 350.000 doanh nghiệp; đến thời điểm ngày 31/12/2015, cả nước có 600.000 doanh
nghiệp hoạt động. Trong giai đoạn 2011-2015, phấn đấu tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu
vực DNNVV chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc; đầu tư của khu vực doanh
nghiệp nhỏ và vừa chiếm 35% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa
[21]
Đề tài: Tín dụng ngân hàng cho các DNNVV tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp
đóng góp khoảng 40% GDP; 30% tổng thu ngân sách nhà nước. Doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo
thêm khoảng 3,5-4 triệu chỗ làm việc mới.
Để triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển DNNVV giai đoạn 2011-2015, có 8 nhóm giải
pháp được đưa ra, gồm:
+ Nhóm giải pháp thứ nhất là hoàn thiện khung pháp lý về gia nhập, hoạt động và rút
lui khỏi thị trường của doanh nghiệp.
+ Nhóm giải pháp thứ hai là hỗ trợ tiếp cận tài chính, tín dụng và nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Quỹ Bảo lãnh tín dụng TP như: Xúc tiến, phối hợp với các sở ngành, các hiệp hội/câu lạc bộ
ngành nghề và các ngân hàng thương mại cùng gặp gỡ, trao đổi về điều kiện, thủ tục bảo lãnh
tín dụng, các chương trình hỗ trợ của Chính phủ, của TP.HCM cho các DN vay, hướng dẫn hồ
sơ vay vốn…
[22]
Đề tài: Tín dụng ngân hàng cho các DNNVV tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp
Năm 2006, UBND TP.HCM đã cấp ngân sách 41,83 tỷ đồng (chiếm 90,68% vốn điều
lệ), cùng với vốn góp của 6 tổ chức tín dụng là 4,3 tỷ đồng để cùng cho ra đời Quỹ Bảo lãnh
tín dụng hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn đầu tư xây dựng nhà xưởng, đổi mới
công nghệ, thiết bị.
Đến năm 2009, trước tình hình khó khăn, khủng hoảng, UBND TP tiếp tục cấp vốn bổ
sung 148 tỷ đồng để tăng vốn điều lệ của quỹ này lên thành 194 tỷ đồng (vốn ngân sách chiếm
97,79% vốn điều lệ của quỹ). Hoạt động của quỹ cũng bắt đầu được mở rộng, số dư bảo lãnh
tính đến đầu năm nay khoảng 350 tỷ đồng, với số dư bảo lãnh này giúp các DN tiếp cận được
vốn vay tại 17 chi nhánh ngân hàng với tổng hạn mức tín dụng gần 500 tỷ đồng.
Đến nay, số DN còn đang được bảo lãnh tại quỹ đã trên 30 DN. Tuy nhiên, với con số
rất nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhu cầu vay vốn trong tổng số hơn 170.000 doanh
nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP mà chỉ hơn 30 DN được bảo lãnh vay vốn là còn quá ít.
Do vậy, hiện nay Quỹ Bảo lãnh tín dụng tập trung tư vấn miễn phí cho các DN theo
hướng trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong công tác lập dự án đầu tư, phương án
sản xuất kinh doanh, tư vấn tài chính kế toán giúp DN lành mạnh tình hình tài chính để có thể
đáp ứng hồ sơ vay vốn cho ngân hàng.
2.1.4.1. Cục Phát triển DN
Cục Phát triển DN thuộc Bộ KH&ĐT giúp Bộ trưởng Bộ KH&ĐT thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về phát triển DNNVV theo quy đinh các nội dung sau:
- Xây dựng hoặc tham gia xây dựng các chính sách, các văn bản quy phạm phát luật về
phát triển DNNVV trình cấp có thẩm quyền ban hành; tổng kết kế hoạch, chương trình trợ
giúp, định hướng mục tiêu trợ giúp, xác định tiêu chí, lĩnh vực giúp DNNVV.
- Tổ chức tập huấn nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác trợ giúp DNNVV,
bồi dưỡng kỹ năng trợ giúp phát triển DNNVV, hướng dẫn xây dựng và nâng cao năng lực cho

- Phối hợp với các bộ, ngành và các tổ chức liên quan thực hiện trợ giúp phát triển
DNNVV ở địa phương theo quy định hiện hành.
2.1.4.5. Quỹ bảo lãnh tín dụng
Trong quan hệ tín dụng với các DNNVV, dù không thể hiện trực tiếp trên các chính
sách tín dụng nhưng yêu cầu về tài sản đảm bảo, bảo lãnh cho món vay đã trở thành điều kiện
phổ biến. Món vay có đảm bảo sẽ góp phần hạn chế rủi ro đối với người cho vay nhưng đối với
các DNNVV thì nó là một khó khăn, rào cản thật sự. Để góp phần hỗ trợ các DNNVV có thể
tiếp cận các nguồn tín dụng ngân hàng, chính phủ đã ban hành Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg
ngày 21/2/2009 về bảo lãnh tín dụng, ngân hàng Phát triển VN (VDB) được giao nhiệm vụ bảo
lãnh tín dụng cho doanh nghiệp. Theo quyết định trên, doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 20 tỷ trở
xuống và sử dụng tối đa 1.000 lao động sẽ được xem xét và bảo lãnh vay vốn tại VDB để đầu
tư tài sản cố định theo dự án hoặc vốn lưu động để ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh.
Theo báo cáo của VDB, năm 2009 VDB được giao nhiệm vụ bảo lãnh tín dụng cho
DNNVV vay vốn của các NHTM 17.000 tỷ đồng. Sau tám tháng triển khai quyết định
14/2009/QĐ-TTg, VDB đã thực hiện bảo lãnh được 12.000 tỷ đồng và việc bảo lãnh sẽ không
thực hiện tràn lan mà chỉ dồn vốn cho một số lĩnh vực và nguyên tắc đảm bảo an toàn nguồn
vốn sẽ được đặt lên hàng đầu.
Quy định doanh nghiệp có vốn điều lệ tối đa 20 tỷ đồng hoặc sử dụng tối đa 1.000 lao
động vay vốn NHTM đều được VDB đứng ra bảo lãnh tín dụng cũng không còn phù hợp với
tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP. Qua đó doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản và công nghiệp, xây dựng có vốn điều lệ từ 20 tỷ đồng
đến 100 tỷ đồng hoặc sử dụng trên 200 đến 300 lao động, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực thương mại và dịch vụ có vốn điều lệ trên 10 đến 50 tỷ hoặc sử dụng từ 50 lao động đến
100 lao động được coi là doanh nghiệp vừa. Nếu căn cứ theo QĐ 14, rất nhiều doanh nghiệp có
quy mô vừa sẽ không được bảo lãnh tín dụng và điều này không phù hợp với chủ trương trợ
giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa được Chính phủ ban hành tại Nghị định 56/2009/NĐ-
CP.
2.2. Thực trạng hoạt động tín dụng ngân hàng đối với DNNVV thời gian qua
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV vay vốn, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban
hành Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg ngày 10/01/2011 của Thủ tướng Chính Phủ về Quy chế

cần huy động sẽ xấp xỉ cả triệu tỷ đồng Việt Nam. Hiện có nhiều kênh cung cấp vốn cho
DNNVV, trong đó kênh vốn tín dụng ngân hàng là kênh trực tiếp quan trọng và là tổ chức,
trung gian tạo điều kiện cho DNNVV tiếp cận nguồn vốn ưu đãi. Kết quả điều tra gần đây của
Cục Phát triển doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, chỉ có 32,38% DNNVV có
khả năng tiếp cận được các nguồn vốn, 35,25% khó tiếp cận, còn lại không thể tiếp cận. Trong
số các DNNVV tại Việt Nam không tiếp cận được vốn vay ngân hàng thì 80% không đáp ứng
đủ điều kiện vay vốn.
Bên cạnh đó, Chính sách cho phép doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV) vay vốn từ
Quỹ Bảo lãnh tín dụng đã có từ gần chục năm nay nhưng cơ hội vay vốn của các DN này rất ít.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam (DIV) được Chính phủ giao nhiệm vụ bảo lãnh cho DNNVV
vay vốn tại các ngân hàng thương mại (NHTM). Tuy nhiên, đến hết tháng 06/2012 mới có
1.950 lượt DN được NHTM chấp thuận cho vay, với hạn mức tín dụng được bảo lãnh là
15.316 tỉ đồng.
Chính vì sự khó khăn này nên có nhiều ý kiến cho rằng, ngân hàng đang “gây khó dễ”
với các DNNVV. Thực tế cho thấy, có hiện tượng các ngân hàng dư thừa vốn nhưng không tìm
[25]

Trích đoạn Phát triển các mối quan hệ liên doanh, liên kết Tăng cường khả năng tự tài trợ và khai thác các nguồn vốn phi ngân hàng khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status