Tài liệu về kỹ thuật trồng, đặc điểm sinh lý và phân bố của cây Sa Nhân tím - Pdf 20

SA NHÂN TÍM

Amomum longiligulare T. L. Wu, 1977

Tên khác: Sa nhân tím, mé trẻ bà; mác nẻng (Tày); co nẻng (Thái); sa ngần
(Dao); pa đoóc (K’ Dong); la vê (Ba Na); Malabar cardamom, tavoy
cardamom (Anh); amome à ligule longue (Pháp).
Họ: Gừng - Zingiberaceae
Tên thương phẩm: Sa nhân, amomon Hình thái

Cây thảo, sống lâu năm, cao 1,5 – 2,5 m hoặc
hơn. Thân rễ có các lá bẹ, mọc bò lan chằng chịt trên
mặt đất. Lá mọc so le thành hai dãy, hình mác, dài 20
– 30 cm, rộng 5 – 6 cm, gốc hình nêm, đầu thuôn
nhọn, mép nguyên, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng,
mặt dưới nhạt; cuống lá dài 5 – 10 mm; bẹ lá to, dài,
có khía, lưỡi bẹ mỏng, dài 1,5 – 3,0 cm, phần gốc ôm
lấy thân.

Sa nhân tím
Amomum longiligulare T.L.Wu
1- Cụm thân mang lá; 2- Lá bẹ; 3- Cụm quả
Cụm hoa mọc từ thân rễ thành bông ngắn. Hoa 5
– 7, tổng bao gồm lá bắc ngoài hình bầu dục, màu
nâu, lá bắc trong dạng ống; đài nhỏ dài 1.5 cm, có 3
răng nhọn; tràng hình ống dài 1,3 – 1,5 cm, màu
trắng, chia 3 thuỳ, mặt ngoài có lông thưa, thuỳ giữa
hình trứng ngược, hai thuỳ bên hẹp; cánh môi gần


Phân bố

Việt Nam:
Quảng Nam (các huyện Đông Giang, Tây Giang, Trà My);
Quảng Ngãi (Ba Tơ, Sơn Hà, Trà Bồng, Sơn Tây, Đức Phổ);
Bình Định (Vĩnh Sơn, Vân Canh); Phú Yên (Sông Hinh, Sơn
Hoà); Khánh Hoà (Khánh Sơn, Khánh Vĩnh); Kon Tum (Sa
Thầy); Gia Lai (K’ Bang, An Khê); Đắk Lắk (M’ Đrắk, Krông
Bông, Krông Năng); Thuộc Miền Bắc mới chỉ thấy ở Thanh
Hoá (Quan Hoá); Phú Thọ (Yên Lập). Ngoài ra, cây được
trồng ở một vài địa phương khác.
Thế giới:
Trung Quốc (Hải Nam) và Lào.
Phân bố sa nhân tím ở Việt Nam

Đặc điểm sinh học

Sa nhân tím là cây ưa ẩm, hơi chịu bóng hoặc có thể trở nên ưa sáng khi đã phát triển
thành các quần thể nhỏ, dày đặc trên các nương rẫy cũ. Cây thường mọc thành đám ở ven
rừng kín thường xanh nguyên sinh hay đã thứ sinh, nhất là dọc theo hành lang các khe suối; độ
cao 450 – 700 m. Nhìn vào Phân bố sa nhân tím ở Việt Nam cho thấy, cây mọc tự nhiên chủ
yếu ở các tỉnh phía Nam, từ Quảng Nam trở vào đến Bình Thuận. Những tỉnh Tập trung nhiều
sa nhân tím phải kể đến: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai và Đắk Lắk.

Sa nhân tím thuộc loại cây có biên độ sinh thái rộng, cây thích nghi cao với điều kiện khí
hậu nhiệt đới điển hình ở các tỉnh phía Nam, với hai mùa mưa và khô rõ rệt, nhiệt độ không khí
trung bình năm khoảng 22 – 24
o
C. Khi đem sa nhân tím ra trồng ở các tỉnh vùng núi phía Bắc,


Ngày dùng: 3 - 6 g dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán; thường dùng phối hợp với các vị
thuốc khác. Hiện đã thống kê được trên 60 bài thuốc có vị sa nhân (Nguyễn Chiều, 1993;
Nguyễn Tập và cộng sự, 1995).

Kỹ thuật nhân giống, gây trồng

Nhân giống:
Có thể nhân giống sinh dưỡng hoặc bằng hạt.

Nhân giống sinh dưỡng:
Nhánh con: Trong quần thể sa nhân trồng hoặc hoang dại, chọn các nhánh non dưới một
năm tuổi. Nhổ mạnh cho tách khỏi cây mẹ, chặt bỏ bớt phần thân rễ và phần ngọn của thân khí
sinh, chỉ để lại khoảng 50 cm. Xếp và bó gọn khoảng 100 nhánh / bó; bao bọc xung quanh
bằng lá chuối hay lá dong tươi; để nơi đất ẩm (phần gốc xuống dưới), râm mát.

Cây giống là các nhánh con, tốt nhất nên trồng ngay; song cũng có thể vận chuyển hoặc
để được 15 đến 20 ngày.

Gieo hạt:
Khi thu hái cần chọn những quả già (hạt màu nâu đen), bóc ra lấy khối hạt, đãi bỏ phần áo
hạt; chỉ lấy hạt chìm. Hạt thu được gieo ngay lúc còn tươi.

Tại vườn ươm, trước hết cần gieo hạt trên cát vàng ẩm. Hạt gieo vào tháng 7 - 8, sau 20 -
25 ngày sẽ nẩy mầm; nếu gieo vào tháng 11 - 12, sau 35 - 40 ngày mới nảy mầm. Tỷ lệ hạt nảy
mầm đạt 64 - 72%. Khi cây mầm có hai lá thật, cao 10 - 15 cm nhổ ra cấy vào bầu đất. Đất
trong bầu được làm nhỏ, trộn phân chuồng mục và khoảng 1 / 3 cát vàng.

Cây con cấy trong bầu sẽ được chăm sóc ở vườn ươm (có giàn che lưới hoặc phên) từ 12
đến 14 tháng, sau mới đem trồng. Lúc này cây con đã cao 30 - 40 cm, có 4 - 5 lá thật, thậm chí

lên 1 - 3 chồi gốc / khóm và sau 8 - 12 tháng số nhánh có thể tăng lên gấp đôi, thậm chí gấp 3,
gồm 6 - 9 nhánh. Chiều cao trung bình 30 - 65 cm, với 3 - 6 lá.

Việc chăm sóc sa nhân chủ yếu là thường xuyên phát bỏ các cây cỏ tái sinh, nhất là phải
nhổ hết các cây xâm lấn xung quanh gốc sa nhân.

Để tạo cho cây sinh trưởng phát triển tốt, từ năm thứ hai trở đi, mỗi năm cần bón thúc một
lần bằng phân vi sinh hay NPK (2 - 3 tấn / ha), vào đầu mùa xuân. Sau khi đã làm sạch cỏ sa
nhân có hệ thân rễ mọc nổi trên mặt đất, vì thế trong quá trình chăm sóc không cần vun gốc.
Cây trồng sau 2 năm bắt đầu có hoa quả (tỷ lệ 25 - 28% / tổng số khóm) từ năm thứ 3 trở đi
tăng dần.

Từ năm thứ 5 trở đi, ước tính năng suất sa nhân trồng có thể đạt 0,2 – 0,3 tấn / ha / năm.

Khai thác, chế biến và bảo quản

Như trên đã đề cập, sa nhân tím có thể thu hái 2 lần / năm. Lần thứ nhất vào tháng 6 – 7
(vụ chính), lần thứ hai: tháng 10 - 11 (vụ phụ).

Thu hái sa nhân khi quả bắt đầu già. Lúc đó trên cụm quả không còn hoa, vỏ quả ngả sang
màu đất, gai ở vỏ quả không còn sắc nhọn, bóp mạnh thấy cứng, khi bóc ra thấy khối hạt đầy
đặn, hạt màu nâu nhạt.

Dùng dao cắt cả chùm quả, sau đó đem về phơi hay sấy ở nhiệt độ 50 - 60
o
C cho đến khô.
Tách lấy quả (bỏ cuống chung), đóng bao. Qủa sa nhân già có tỷ lệ khô / tươi vào khoảng 65 -
70%.

Ở Trung Quốc, khi quả sa nhân khô vẫn còn vỏ được gọi là ’’Xác sa”; phần hạt đã bóc vỏ

định, hàm lượng tinh dầu cũng như thành phần hoá học của tinh dầu cả 4 loài gần giống nhau
và đều đạt tiêu chuẩn trong Dược điển Việt Nam quy định. Vì thế, trên thực tế quả của các loài
sa nhân kể trên từ nhiều năm nay vẫn được thị trường chấp nhận

Theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ tính riêng ở Miền Bắc, từ năm1956 –1970, ngành Ngoại
thương đã xuất khẩu mỗi năm từ vài chục tấn đến 200 tấn (Đinh Vân Tự, 2001). Ước tính cả
nước ta hiện nay, mỗi năm cũng khai thác được 400 - 600 tấn. Do người dân tự đi khai thác
trong tự nhiên, nên sa nhân của Việt Nam trên thị trường chỉ đạt loại trung bình (gọi là sa nhân
xô), nghĩa là trong đó có cả quả già, quả bánh tẻ và quả non. Giá bán tại chỗ dao động từ
30.000 đến 40.000đ / kg quả khô. Tại thị trường các tỉnh biên giới phía Bắc (Cao Bằng, Lạng
Sơn, Lai Châu…) giá bán này từ 50.000 đến 80.000 đ / kg quả khô (tuỳ năm)

Sa nhân của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan…
Giá sa nhân trên thị trường thế giới từ 7 đến 10 đô la Mỹ / kg. Nếu mỗi năm nước ta xuất khẩu
được khoảng 400 tấn sa nhân, sẽ thu được từ 2,8 đến 4 triệu USD.
Sa nhân là loại cây có giá trị kinh tế cao. Để nâng cao khối lượng sa nhân của Việt Nam
trên thị trường quốc tế, cần lưu ý 2 giải pháp sau:

Quy hoạch vùng sa nhân:
Điều tra, quy hoạch toàn bộ vùng có cây sa nhân (gồm 4 loài trên) mọc tập trung tự nhiên.
Căn cứ vào chính sách giao đất giao rừng, giao cho các hộ nông dân bảo vệ, trồng, chăm sóc
và thu hái quả. Việc thu hái quả cần đúng thời vụ; chế biến đúng kỹ thuật.

Phát triển trồng thêm sa nhân:
Kết quả nghiên cứu trồng thử 2 loài sa nhân tím (A. longiligulare T. L. Wu) và sa nhân (A.
villosum Lour.) của Viện Dược liệu đã khẳng định, loài sa nhân tím mọc tự nhiên cũng như khi
được trồng, ra hoa, quả hàng năm nhiều hơn loài sa nhân kia. Vì thế, trước mắt nên chọn sa
nhân tím là đối tượng để phát triển.

Sa nhân tím là cây dễ trồng và có thể trồng được ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, nhất là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status