Tài liệu về kỹ thuật trồng, đặc điểm sinh lý và phân bố của cây Sở potx - Pdf 20

SỞ

Camellia sasanqua Thunb., 1783

Tên đồng nghĩa: Camellia drupifera Lour., 1790; Camellia oleifera C. Abel, 1818; Thea
sasanqua (Thunb.) Pierre, 1887; Thea drupifera (Lour.) Pierre, 1887.
Tên khác: Sở, Chè dầu, trà mai, du trà, mạy slở (Tày)
Họ: Chè – Theaceae
Tên thương phẩm: Oil tea Hình thái

Cây bụi hay gỗ nhỏ, thường xanh, cao
3-6(-11)m; vỏ ngoài màu xám nhạt; cành
mảnh. Lá đơn, mọc so le; phiến hình bầu
dục, hình mác, hình trứng hoặc hơi tròn; kích
thước (1,6-)4-8(-12)x(1,2-)2,5-3,5(-5)cm; đầu
nhọn hoặc hơi tù; gốc hình nêm; mép khía
răng cưa nhỏ, đều; gân mờ; cuống lá ngắn,
dài 0,3-0,5cm, nhẵn, có rãnh.

Hoa mọc đơn độc hoặc đôi khi dạng
chùm 2-3 hoa, ở kẽ lá gần đầu cành. Hoa
lưỡng tính, kích thước lớn, đường kính (4-)6-
8(-10)cm; lá bắc nhỏ; đài có lông ở phía
ngoài; 5-6 cánh hoa, màu trắng hơi phớt
hồng hoặc hơi đốm vàng, hình trứng ngược
hay hình nêm và luôn có khía ở đầu; nhị
nhiều, thường dính nhau ở phía dưới và xếp
thành 2 vòng, bao phấn đính lưng; bầu 3-4 ô,

vực có độ cao tới trên 1.000m (Bảo Lạc - Cao Bằng, Mẫu Sơn - Lạng Sơn, Phong Thổ - Lai
Châu, Đồng Văn – Hà Giang).

- Nhóm các giống sở Bv: cây có kích thước tương đối lớn, cao 6-8(-11)m. Lá khá to, kích
thước 3,9-12x1,3-5,1cm. Hoa có đường kính trong khoảng 6-10cm. Quả có dạng hình cầu,
gần hình cầu, rất ít khi hình trứng; vỏ quả dày (0,3-0,6cm). Tỷ lệ nhân trong hạt 20-39%, vỏ
hạt dày. Hàm lượng dầu trong nhân đạt 41-56%. Cây thương được trồng ở độ cao dưới
500m và bắt đầu ra hoa, kết quả ở giai đoạn 6-8 năm tuổi.

Phân bố

Việt Nam:
Phân bố của sở ở Việt Nam
Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, Hà Giang, Tuyên
Quang, Yên Bái, Lai Châu, Phú Thọ, Hoà Bình, Thanh Hoá,
Nghệ An, Quảng Trị.

Thế giới:
Trung Quốc, Lào, Singapor, Indonesia, Myanmar, Nhật
Bản, Ấn Độ và Georgia.

Đặc điểm sinh học

Sở thường sinh trưởng tốt ở những khu vực có nhiệt độ
trung bình năm khoảng 18-24
0
C. Tuy vậy sở vẫn có khả năng
chịu lạnh tốt (có thể chịu nhiệt độ tối thấp 0
0
C, thậm chí -3

Khô bã dầu sở chứa khoảng 9-14,5% protein thô, 18,0-37,5% các chất đường bột và 25-
30% saponosid.

Là và vỏ cây chứa tanin.

Công dụng:
Dầu sở sau khi tinh chế có thể dùng làm dầu ăn thay thế dầu ôliu. Dầu sở thuộc loại dầu
không khô và có thể là nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp (sản xuất xà phòng,
các chất tẩy rửa, hoá mỹ phẩm, chất hoá dẻo, dầu in và để thắp sáng).

Khô dầu sở dùng làm phân bón hoặc sản xuất thuốc trừ sâu thảo mộc và để duốc cá.

Lá và vỏ có thể dùng để lấy tanin.

Gỗ sở cứng, dẻo được dùng làm nông cụ và đồ gia dụng.

Hoa sở là nguồn mật quý cho nghề nuôi ong, nhất là vào mùa khô.

Sở là cây có tính chống chịu khoẻ, là đối tượng trồng và phục hồi rừng ở miền núi và trung
du. Cây vừa là nguồn cung cấp dầu béo, vừa góp phần bảo vệ đất, chống xói mòn. Kỹ thuật nhân giống, gây trồng

Nhân giống:
Sinh dưỡng: Mùa xuân thời tiết ấm áp, có mưa phùn rất thích hợp cho việc giâm cành và
chiết cành. Chọn cành bánh tẻ, không bị sâu bệnh từ những cây mẹ ở giai đoạn 20-30 năm
tuổi; sinh trưởng khoẻ, nhiều quả, có tỷ lệ hạt, nhân, dầu cao, vỏ quả và vỏ hạt mỏng. Đây là
biện pháp được áp dụng để nhân nhanh một vài giống sở có phẩm chất tốt, sạch bệnh từ
những cây đầu dòng nhằm tạo ra những quần thể sở thuần chủng. Ngoài ra còn có thể sử

cây vừa cho năng suất quả, hạt cao vừa đỡ bị sâu bệnh.

Cây sở khi còn non có thể bị bệnh thối, lở cổ rễ; ở cây trưởng thành có thể gặp bệnh chết
cành, thối quả do nấm Colletotrichum camelliae. Để phòng trừ, cần dùng thuốc diệt nấm xử lý
hạt và đất trong vườn ươm trước khi gieo. Với cây trưởng thành, có thể áp dụng các biện pháp
loại bỏ những cành, những chồi hoặc những quả đã bị nhiễm bệnh để hạn chế lây lan; đồng
thời phun thuốc diệt nấm. Sử dụng hỗn hợp cerezan + boocđô (bổ sung thêm 10% nước khô
bã sở) để phòng trừ loại bệnh này đã cho hiệu quả rất tốt tại nhiều khu vực trồng sở tập trung ở
Trung Quốc. Loài sâu hại chủ yếu ở quả sở là mọt (Curculio chinensis). Đây là loại sâu hại có
vòng đời tới 2 năm. Chúng đẻ trứng vào trong quả sở và ấu trùng gây hại, nên biện pháp phòng
trừ tích cực là diệt trừ mọt ở giai đoạn trưởng thành, trước khi sinh đẻ.

Khai thác, chế biến và bảo quản

Cần thu hái quả sở ở giai đoạn vừa chín tới, như vậy cả chất lượng hạt và hàm lượng dầu
trong hạt đểu cao. Mùa vụ thu hái quả đồng thời cũng là lúc cây sở chuẩn bị bước vào giai
đoạn ra nụ, nở hoa cho mùa quả tiếp theo. Do đó các biện pháp thu hái quả cần đảm bảo
không ảnh hưởng tới hoa quả của vụ tiếp theo. Biện pháp tạo dáng cây có độ cao và bộ tán
hợp lý, thuận tiện cho việc thu hái quả là rất cần thiết.

Hạt sở sau thu hoạch cần phơi khô, bảo quản ở nơi thoáng mát trước khi chế biến. Kỹ
thuật tách nhân, ép lọc và tinh chế dầu cũng tương tự như với các loại hạt có dầu khác.

Giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn

Dầu sở qua tinh chế có thể dùng để ăn thay dầu oliu. Tại Trung Quốc, Nhật Bản sở đã
được trồng với diện tích khá lớn, chủ yếu để lấy dầu.

Ở nước ta, trong thời kỳ 1960-1970, hàng năm ngành thương nghiệp quốc doanh cũng đã
thu mua được hàng ngàn tấn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status