Những tình huống giúp các bạn tham khảo để viết tiểu luận - Pdf 20

Những tình huống giúp các bạn tham khảo để viết tiểu luận
I. NHÓM TÌNH HUỐNG PHÂN CẤP THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
* Tình huống 1:
MỘT QUYẾT ĐỊNH ĐƯỢC BAN HÀNH KHÔNG ĐÚNG THỦ TỤC
1. Mô tả tình huống:
Trong quá trình thực hiện quản lý hành chính do UBND tỉnh A ban hành đều đảm bảo về
thể thức và nội dung. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý toàn diện đời sống kinh tế
xã hội ở địa phương, UBND tỉnh A đã ban hành rất nhiều các quyết định quản lý hành
chính. Phần lớn các quyết định, có tính khả thi cao. Nhưng ngày 20 tháng 2 năm 2000,
UBND tỉnh A đã ra quyết định số 30/ QĐ-UB "Về việc ban hành bản quy định đơn giá bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất" có những sai sót khá lớn.
Sau một thời gian ban hành quyết định nêu trên, rất nhiều dư luận trong nhân dân không
đồng tình với mức quy định về hỗ trợ và đền bù quá thấp của UBND tỉnh khi thu hồi đất. Sở
dĩ có hiện tượng trên là vì quá trình xây dựng và ban hành quyết định số 30/ QĐ-UB của
UBND tỉnh không được làm theo trình tự, thủ tục luật định. Văn phòng UBND tỉnh soạn
thảo quyết định trên mà không thu thập các tài liệu về giá đất, không sát thực tế, chủ tịch
UBND tỉnh cũng không thẩm định kỹ trước khi ký ban hành.
2. Phân tích tình huống:
Việc xây dựng và ban hành văn bản quản lý Nhà nước đòi hỏi tuân theo trình tự thủ tục rất
chặt chẽ để đảm bảo cho quyết định quản lý Nhà nước có hiệu lực và tác dụng tốt đến các
quá trình xã hội. Xuất phát từ ý đồ chủ quan, quan liêu nên bộ phận tham mưu văn phòng và
chủ tịch UBND tỉnh A đã có nhiều sai sót về trình tự, thủ tục khi xây dựng và ban hành văn
bản quản lý Nhà nước dẫn tới việc văn bản không những không phát huy hiệu lực, tác dụng
tích cực mà còn ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các tổ chức, công dân ở địa phương ,
ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh
3. Phương án giải quyết:
Sau khi phát hiện ra tính bất hợp lý 0000
cùng những sai phạm trong quá trình ban hành quyết định số 30 / QĐ - UB nêu trên, sở Tư
pháp nhanh chóng báo cáo và đề xuất với chủ tịch UBND tỉnh hủy bỏ quyết định số 30/QĐ-
UB ngày 20 tháng 2 năm 2000 đồng thời xin ý kiến chỉ đạo tiến hành khảo sát toàn diện các
yếu tố thực tiễn trên địa bàn tỉnh làm cơ sở để xây dựng và ban hành văn bản mới . Văn

còn tồn tại nhiều bất cập cần khắc phục trong thời gian tới.Tình huống trên là một ví dụ về
sự bất cập đó.
3. Phương án giải quyết:
Nhà nước ta cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong đó có nội dung về cải
các thủ tục lệ phí trước bạ. Đối với các công việc thủ tục lệ phí trước bạ làm sao Nhà nước
quy định giảm thủ tục thuận lợi hơn nữa để công dân , tổ chức khi mua tài sản làm thủ tục lệ
phí trước bạ và trả một lần ở hoá đơn mua hàng hoá. Sau đó trách nhiệm nộp lệ phí trước bạ
cho tài sản thuộc về nơi bán hàng hoá như vậy sẽ rất thuận tiện.Các tỉnh( thành) nên nhanh
chóng thành lập bộ phận "một cửa" để làm thủ tục đăng ký mô tô , xe máy, cung cấp dịch vụ
công nhanh chóng và thuận tiện cho công dân.
Mặt khác, để tránh phiền nhiễu cửa quyền từ phía các cán bộ, công chức làm thủ tục lệ phí
trước bạ, cần xây dựng quy chế, quy định mức độ sai phạm và hình thức xử lý đối với cán
bộ, công chức làm thủ tục lệ phí trước bạ và kiên quyết thực hiện các quy định này.
* Tình huống 3:
LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐƯỢC NHẬN NUÔI TRẺ BỊ BỎ RƠI
1. Mô tả tình huống
Chị Mai Thu H và anh Vũ Quốc B kết hôn với nhau đã nhiều năm, tình nghĩa gắn bó nhưng
lại hiếm muộn đường con cái. Một buổi sáng, chị H đi làm tình cờ nhìn thấy 1 bé sơ sinh
khoảng 1 đến 2 tháng tuổi được bọc trong một tấm tã bên đường không có giấy tờ hay vật gì
khác kèm theo. Đứa trẻ do bị nhiễm lạnh đã sốt cao, chị H vội đưa cháu vào bệnh viện điều
trị một thời gian rồi đưa về nhà.Từ đó, anh chị thương yêu cậu bé kháu khỉnh như con ruột
và muốn nhận nuôi cháu, nhưng không biết làm thủ tục đăng ký khai sinh và nhận con nuôi
như thế nào. Hơn thế, hàng xóm có người khuyên anh chị nên đến chính quyền nhờ giúp đỡ,
có người lại nói không nên đi, vì sợ gia đình đứa bé đến xin lại
Không muốn xa cậu bé, nhưng anh chị cũng không thể để cháu lớn lên mà không có giấy
khai sinh và hộ khẩu, anh chị B đã tìm nhiều cách :
- Dời đến một nơi khác để không ai biết cậu bé là ai và sẽ hợp thức hoá chuyện nuôi con
nuôi của mình
- Cố gắng" chạy chọt" để cháu bé được làm giấy khai sinh và sổ hộ khẩu.
Tuy nhiên, bé vẫn chưa có tên và cha mẹ hợp pháp. Cuối cùng anh chị đã nhờ UBND

- Tờ xác nhận tình trạng hiện không có tranh chấp, không nằm trong khu vực quy hoạch hay
giải toả (có xác nhận của địa phương)
Vợ ông đã chết, ông có 4 người con đã trưởng thành. Do hoàn cảnh khó khăn, ông đã bán
đất của mình cho ông B ngụ cùng phường với giá thoả thuận, hợp đồng mua bán nhà có các
điều khoản thoả thuận.Trước khi đem hợp đồng đến UBND phường xác nhận, ông A yêu
cầu ông B trả trước 50% giá trị căn nhà, khi nào ông B chuyển đến hẳn sẽ trả nốt phần còn
lại.
Nhưng ông B không đồng ý với lý do hợp đồng mới chỉ là dự thảo, nếu các con ông A sau
khi ông B đặt cọc lại ngăn cản việc bán nhà của ông A thì ông B sẽ mất đi 50% đó.Vì vậy
ông B yêu cầu phải có giấy đặt cọc xác nhận của chính quyền địa phương. Ông A lại khẳng
định mình có toàn quyền quyết định bán ngôi nhà ấy mà không cần giấy đặt cọc có xác nhận
của chính quyền địa phương. Hai bên không thống nhất với nhau nên đã ra UBND phường
nhờ giải quyết.
2. Phân tích tình huống
Có lẽ do tính độc đoán, gia trưởng của ông A với gia đình nên ông nghĩ rằng không cần hỏi
ý kiến những người con của mình, mặc dù các con ông đều đã trưởng thành.
Ông A cũng chưa hiểu hết những quy định của Luật Dân sự năm 2005 về hàng thừa kế thứ
nhất và những quy định về hợp đồng bán nhà thuộc quyền sở hữu chung của nhiều chủ sở
hữu nên giao dịch giữa ông A và ông B đã gặp khó khăn.
Hợp đồng mua bán trên có thể gây bất hoà ngay trong gia đình ông A và ảnh hưởng xấu đến
quan hệ láng giềng.
3. Phương án giải quyết
Căn cứ Luật Dân sự 2005, Nghị định 75/2000/NĐ-CP của Chính phủ Về công chứng ,
chứng thực có thể giải quyết tình huống trên như sau:
- Sau khi bàn bạc thống nhất trong gia đình về việc bán nhà và nhận tiền của ông B, ông A
viết giấy đặt cọc (có xác nhận của chính quyền địa phương) cho ông B.
Hợp đồng mua bán nhà phải theo đúng quy định của Luật Dân sự 2005.
Hợp đồng phải được lập thành văn bản có chứng thực của UBND cấp có thẩm quyền hoặc
chứng nhận của công chứng nhà nước.
Sau khi hợp đồng bán nhà được chứng thực, ông B đóng thuế trước bạ và thực hiện chuyển

được khai tử mặc dù anh đã được mai táng hơn nửa tháng. Khi vợ anh mang được chứng
minh nhân dân của anh ra UBND , thời hạn đăng ký khai tử chưa hết, song do anh Q , cán
bộ xã TK làm việc chưa hết trách nhiệm của mình, nên đã phó mặc. Anh Q cũng không
hướng dẫn gia đình anh P thực hiện thủ tục đăng ký khai tử quá hạn.
Chính việc không tôn trọng thủ tục khai tử cho anh P của anh Q đã vô tình làm cho thủ tục
vốn rất quen thuộc này trở thành rắc rối, gây tâm lý ngại đến cơ quan nhà nước của nhân
dân.
3.Phương án giải quyết
Căn cứ Nghị định 158 /2005/NĐ-CP của Chính Phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch ngày 27
tháng 12 năm 2005 , có thể giải quyết tình huống trên như sau:
- UBND xã TK cử cán bộ hướng dẫn gia đình anh P làm thủ tục đăng ký khai tử quá hạn
cho anh.
- Gia đình anh P phải nộp giấy báo tử, chứng minh nhân dân, sổ hộ
khẩu gia đình cho cán bộ có trách nhiệm giải quyết.
- Sau khi nhận đủ các giấy tờ hợp lệ, cán bộ tư pháp hộ tịch có trách nhiệm: Ghi đầy đủ các
nội dung vào sổ đăng ký khai tử và giấy chứng tử ; ghi vào cột ghi chú là "đăng ký quá
hạn"; trình chủ tịch UBND xã ký giấy chứng tử; cấp cho người đi đăng ký khai tử một bản
chính giấy đăng ký chứng tử.
- UBND xã TK họp rút kinh nghiệm kiểm điểm anh Q.
II. NHÓM TÌNH HUỐNG PHÂN CẤP VỀ TỔ CHỨC CÁN BỘ TRONG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC
* Tình huống 1:
MỘT QUYẾT ĐỊNH KỶ LUẬT CÁN BỘ
1.1 Mô tả tình huống:
Anh Hoàng Văn B là cán bộ, giữ chức vụ trưởng Phòng Khoa học ở cơ quan D thuộc Sở A
của tỉnh V. Tháng 9 năm 2005 anh B xin cơ quan nghỉ phép năm và lãnh đạo cơ quan đã
nhất trí. Trong thời gian nghỉ phép vợ anh bị ngã xe máy, anh phải đưa vợ đi cấp cứu tại
bệnh viện Việt Đức Hà Nội. Anh đã không kịp tới cơ quan xin phép lãnh đạo nghỉ thêm
phép và anh đã nghỉ quá phép 10 ngày. Trong thời gian anh B nghỉ, cơ quan D phải báo cáo
nghiệm thu đề tài khoa học cho tỉnh. Một trong các đề tài khoa học của tỉnh do cơ quan D

việc ban hành hai quyết định vượt quyền, vượt cấp của mình. Ban giám đốc sở A cũng yêu
cầu lãnh đạo cơ quan D khôi phục danh dự và trả 50% tháng lương bị phạt cho anh Hoàng
Văn B.
* Tình huống 2:
VỀ MỘT QUYẾT ĐỊNH BỔ NHIỆM CÁN BỘ
2.1. Mô tả tình huống:
Anh Nguyễn Văn A và anh Nguyễn Văn B là cán bộ công chức của Sở X tỉnh Z. Anh A là
người thẳng thắn, trung thực, thật thà và có năng lực chuyên môn giỏi được nhiều người
trong cơ quan tín nhiệm, tin tưởng. Anh B là người cơ hội, năng lực chuyên môn trung bình
nhưng lại được lòng Giám đốc. Do yêu cầu về công tác chuyên môn và công tác quản lý.
Tại cuộc họp giao ban cuối tháng 9 có nhiều ý kiến đề bạt anh Nguyễn Văn A làm trưởng
Phòng Khoa học, nhưng cũng có một số ít ý kiến đề bạt anh Nguyễn Văn B làm trưởng
Phòng Khoa học đó. Do được lòng lãnh đạo nên ông Giám đốc Sở X đã bổ nhiệm anh
Nguyễn Văn B làm trưởng phòng khoa học. Vì năng lực hạn chế nên sau 6 tháng anh B lên
làm trưởng phòng công việc của phòng không tiến triển mà trái lại còn tồn đọng rất nhiều.
Đã có nhiều ý kiến cho rằng việc đề bạt anh Nguyên Văn B là không dân chủ, công bằng, đã
có người làm đơn đề nghị lên UBND tỉnh xem xét lại quá trình đề bạt anh Nguyễn Văn B
làm trưởng phòng.
2.2.Phân tích tình huống:
Công tác cán bộ là công tác quan trọng và then chốt của Đảng vì vậy việc đề bạt cán bộ cần
phải được thực hiện dân chủ công khai theo đúng quy định của pháp luật. Việc đề bạt anh
Nguyễn Văn B lên làm trưởng phòng của Giám đốc Sở X là không dân chủ, đặc biệt là đã
không làm đúng quy trình bổ nhiệm cán bộ mà pháp lệnh cán bộ công chức năm 2002 đã
qui định nên đã gây ra hậu quả xấu về nhiều mặt.
2.3. Phương án giải quyết:
Lãnh đạo Sở X phải đưa ra tiêu chí bổ nhiệm cán bộ, lấy đó làm căn cứ đề bạt cán bộ vào vị
trí trưởng phòng khoa học. Để đề bạt cán bộ, lãnh đạo sở X phải làm đúng quy trình, cần lấy
phiếu thăm dò của các tổ chức cơ sở Đảng, đoàn thể và chính quyền nơi cán bộ dự định đề
bạt công tác. Căn cứ kết quả lấy phiếu tín nhiệm ở cơ sở, đối chiếu với các tiêu chí về phẩm
chất chính trị, đạo đức, năng lực công tác của cán bộ và lãnh đạo sở A bàn bạc dân chủ,

nghị định số 35/2005/NĐ-CP của chính phủ. Hội đồng kỷ luật sở A xem xét lại toàn bộ sự
việc và ra kết luận cuối cùng về vụ việc. Rõ ràng chị H không vi phạm kỷ luật lao động, do
vậy không thể tiến hành kỷ luật chị H. UBND tỉnh cũng yêu cầu ông giám đốc sở A kiểm
điểm về việc làm sai trái của mình và áp dụng hình thức kỷ luật cần thiết đối với ông giám
đốc sở A.
* Tình huống 4
ANH A, ANH B AI ĐÚNG AI SAI?
4.1. Mô tả tình huống:
Ông Nguyễn Văn A là đội trưởng đội quản lý thị trường số X thuộc Chi cục quản lý thị
trường tỉnh T. Ngày 5 tháng 12 năm 2005 nhận được giấy mời của UBND thị xã đến dự
buổi "tổng kết công tác phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại trên địa bàn tỉnh". Đang
trong tình trạng say rượu ông Nguyễn Văn A đã cho gọi anh Nguyễn Văn B là đội phó lên
phòng và uỷ quyền cho anh Nguyễn Văn B đến dự thay. Nhưng vì giấy mời ghi rõ ràng là
mời ông Nguyễn Văn A đội trưởng đội quản lý thị trường số X cùng thành phần khách mời
khác. Thấy mình không đúng thành phần được mời họp nên anh Nguyễn Văn B đã báo cáo
lại đội trưởng và không đến dự buổi tổng kết. Đến ngày 10 tháng 12 năm 2005 ông Nguyễn
Văn A đi họp ở chi cục, lãnh đạo Chi cục quản lý thị trường khiển trách anh A trước Chi
cục về hành vi không tham dự buổi tổng kết. Khi về đến đội ông Nguyễn Văn A đã nặng lời
với anh Nguyễn Văn B, cho là anh B không hoàn thành nhiệm vụ mà cấp trên giao cho.
4.2. Phân tích tình huống:
Việc anh Nguyễn Văn B không đi họp vì không đúng thành phần (có báo cáo lại đội trưởng)
là đúng. Việc anh Nguyễn Văn A say rượu không đi họp là vi phạm kỷ luật lao động phải bị
phê bình, rút kinh nghiệm làm gương cho toàn đội.
4.3. Phương án giải quyết:
Chi cục QLTT chỉ đạo đội QLTT X tiến hành họp kiểm điểm rút kinh nghiệm về những sai
trái trong điều hành đội QLTT X và quá trình đảm trách công vụ của đội trưởng đội QLTT
X. Sau khi làm rõ sai phạm của anh A lãnh đạo chi cục QLTT phê bình anh A trước toàn thể
chi cục để giữ nghiêm kỷ luật lao động.
* Tình huống 5
VỀ MỘT QUYẾT ĐỊNH CỬ CÁN BỘ ĐI HỌC

* Tình huống 1
VỀ VIỆC LẤN CHIẾM ĐẤT CÔNG CỦA ÔNG D
1. Mô tả tình huống:
Xã A là một xã thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng thuộc huyện B, tỉnh C.
Năm 1989 tại địa phận thôn C thuộc xã A có một mảnh đất rộng khoảng 300m2 đã bỏ
hoang từ lâu. Thấy mảnh đất bỏ hoang đã lâu, gia đình ông D đã tự ý khai hoang, cải tạo
mảnh đất để trồng lúa, sau đó làm nhà để ở.
Tới thng 1 năm 1990, nhận được phản ánh của nhân dân về việc lấn chiếm đất của gia đình
ông D, UBND xã A đã tiến hành kiểm tra và xử phạt gia đình ông D một khoản tiền là
100.000 đồng. Đến tháng 5/1990 gia đình ông D đã làm đơn gửi ông chủ tịch UBND xã A
đề nghị UBND xã giao mảnh đất gia đình ông đã có công khai hoang nêu trên đó gia đình
ông đã sử dụng làm đất thổ cư.
Chủ tịch UBND xã A căn cứ vào công khai hoang của gia đình ông D, ngày 20/6/1990 đã ra
quyết định giao mảnh đất trên cho gia đình ông D. Sau khi UBND xã A quyết định giao đất
cho gia đình ông D, nhân dân thôn C, xã A rất bức xúc đã gửi đơn phản đối việc làm sai
thẩm quyền của UBND xã A tới các cơ quan chức năng của huyện B, tỉnh C. Vì các cơ quan
chính quyền xã A, huyện B, tỉnh C không tập trung giải quyết dứt điểm nên vụ việc kéo dài.
Gia đình ông D vẫn sinh sống trên mảnh đất 300m2 đã lấn chiếm bất hợp pháp. Các cán bộ
UBND xã A liên quan đến việc giao đất vượt thẩm quyền vẫn không bị xử lý nên gây phản
ứng và dư luận không tốt, uy tín chính quyền địa phương bị giảm sút nghiêm trọng.
2. Phân tích tình huống:
Tình huống nêu trên đề cập tới hành vi lấn chiếm đất công của công dân, cấp đất sai thẩm
quyền của chính quyền cấp xã ở nông thôn là hiện tượng khá phổ biến hiện nay. Hơn nữa,
trước các sai phạm đó các cơ quan chức năng cấp trên không tích cực
vào cuộc giải quyết vụ việc triệt để, trên cơ sở pháp luật nên hiệu lực, hiệu quả QLNN về
đất đai ở địa phương bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nguyên nhân của hiện tượng trên là do sự
yếu kém, buông lỏng quản lý của chính quyền địa phương. Do ý thức chấp hành pháp luật
hạn chế trong một bộ phận không nhỏ nhân dân hiện nay.
3. Phương án giải quyết:
Trên cơ sở những quy định của luật đất đai năm 1993(sửa đổi các năm 1998,2001,2003) và

đã nhận khoán của HTX nông nghiệp xã A. Sau khi kiểm tra tổ kiểm tra đã tiến hành lập
biên bản kết luận gia đình ông A đã sử dụng đất sai mục đích, yêu cầu gia đình ông A đình
chỉ sản xuất VAC trên diện tích 3.000m2 đất nông nghiệp đã nhận khoán đồng thời khôi
phục lại hiện trạng ban đầu cho diện tích đất nói trên. Ông A cùng gia đình đã phản ứng rất
quyết liệt với lập luận: Gia đình ông vẫn đóng thuế nông nghiệp cho HTX đầy đủ, gia đình
ông sản xuất VAC theo đúng chủ trương của xã, của Huyện, của Tỉnhvì vậy, cho đến nay,
đầu tháng 7/2006 vụ việc vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
2. Phân tích tình huống:
Tình huống nêu trên là thực tế thường gặp ở các địa phương nông thôn hiện nay. Chủ
trương của Đảng nhà nước, của các cấp chính quyền phát triển sản xuất VAC, chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất với mục tiêu tăng cao hiệu quả sử dụng
đất mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhà nước, cho bà con nông dân. Tuy nhiên quá trình
phát triển VAC phải đặt trong quản lý nhà nước về đất đai chặt chẽ của các cấp chính
quyền. Do vậy, người nông dân không thể tự ý, tuỳ tiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã
nhận khoán. Việc làm tuỳ tiện của gia đình ông A trong tình huống vừa nêu sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước vò đất đai tại địa phương và dẫn tới hậu quả không
tốt. Do vậy khi phát hiện sai phạm của gia đình ông A, các cơ quan chức năng ở địa phương
cần dựa trên cơ sở các quy định pháp luật về đất đai sử lý vụ việc một cách tích cực, triệt để.
3. Phương án giải quyết:
Trên cơ sở những quy định của luật đất đai năm 1993 (sửa đổi các năm 1998,2001,2003) và
một số văn bản pháp luật khác có liên quan.
UBND huyện C và xã B thành lập tổ kiểm tra xuống điều tra việc sử dụng đất nông nghiệp
của gia đình ông A.
Sau khi phát hiện các sai phạm tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất, xây công trình kiến
trúc trái phép trên đất nông nghiệp, của gia đình ông A. Tổ kiểm tra làm kết luận báo cáo
UBND huyện C.
Căn cứ vào tính chất, mức độ sai phạm mà gia đình ông A UBND huyện C sẽ tiến hành sử
phạt hành chính đối với hành vi tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Đối với diện tích đất
mà gia đình ông A đang sản xuất VAC nếu nằm trong quy hoạch phát triển sản xuất VAC
của xã B thì yêu cầu ông A làm đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất và tiếp tục cho phép

3. Phương án giải quyết:
Trên cơ sở những quy định của luật đất đai năm 1993(sửa đổi các năm 1998,2001, 2003 và
một số văn bản pháp luật khác có liên quan.
UBND tỉnh cựng với chớnh quyền nơi cú đất cho thuờ thành lập đoàn kiểm tra xuống điều
tra tỡnh hỡnh sử dụng đất đó thuờ của nhà nước của cỏc doanh nghiệp vừa và nhỏ trờn địa
bàn. Sau khi đối chiếu với mục đớch sử dụng đất đó được trỡnh bày tại đề ỏn xin thuờ đất
của cỏc doanh nghiệp nếu phỏt hiện thấy cỏc doanh nghiệp chưa Sử dụng diện tích đất đã
được thuê hoặc sử dụng diện tích đất sai mục đích thì đoàn kiểm tra kết luận sự việc và báo
cáo UBND tỉnh xử lý theo hai hướng:
Một là: Đối với diện tích đất đã được thuê mà các doanh nghiệp bỏ hoang, chưa sử dụng từ
năm 2000 đến nay 2005 nếu người thuê đất không có điều kiện, không cam kết triển khai
sản xuất kinh doanh như trình bày tại đề án thuê đất thì trong thời hạn 3 đến 6 tháng UBND
tỉnh ra quyết định thu hồi đất.
Hai là: Đối với một số diện tích đất mà người được thuê sử dụng sai mục đích thì:
- Sử phạt hành chính;
- Doanh nghiệp báo cáo đề nghị UBND tỉnh tiếp tục sử dụng diện tích đất đã được thuê, nếu
UBND tỉnh chấp nhận thì tiếp tục được sử dụng, nếu UBND tỉnh không chấp nhận thì thu
hồi đất.
* Tình huống 4
VỀ VIỆC ANH A THUÊ ĐẤT
1. Mô tả tình huống:
Gia đình anh A ở xã B, huyện C, tỉnh D. Từ ngày tỉnh D chủ trương phát triển sản xuất công
nghiệp, rất nhiều hộ gia đình ở địa phương đã vay vốn, thuê đất mở xưởng sản xuất công
nghiệp với quy mô vừa và nhỏ. Gia đình anh A cũng vậy. Năm 2000 anh A được UBND
tỉnh cho thuê 3ha đất nằm sát quốc lộ 2. Sau khi được thuê diện tích đất 3ha nằm sát quốc lộ
2, một phần đất anh A dùng để mở xưởng cán thép, một phần dùng làm bãi chứa phế liệu.
Hàng ngày, hoạt động của xưởng sản xuất thép thải vào không khí một lượng lớn khí độc
hại, các loại rác thải rắn hình thành trong quá trình sản xuất cũng không được xử lý mà bị
đổ bừa bãi ra môi trường xung quanh gây ôi nhiễm nặng cho môi trường.
Diện tích đất còn lại khoảng gần 1ha anh A cho ông B thuê lại để ông B mở xưởng sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status