Thành viên nhóm 2- lớp đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản
Việt Nam _3
1. Lê Thị Kim Dung CQ500387
2. Tô Thị Thịnh CQ502474
3. Thái Thị Thảo CQ
Đề tài nhóm 2: phân tích nghệ thuật tạo và
nắm bắt thời cơ của Đảng trong tổng
khởi nghĩa tháng tám năm 1945
Trong cuộc sống thường nhật, chúng ta còn bắt gặp một số khái
niệm khác có ý nghĩa tương tự như “vận hội”, “cơ hội”. Liên quan tới chủ
đề Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đang bàn ở đây, xin được dùng khái
niệm phổ biến và thông dụng nhất là “thời cơ”.
Một cuộc khởi nghĩa hoặc tổng khởi nghĩa muốn thắng lợi đòi hỏi phải
hội đủ những điều kiện bên trong và bên ngoài (chủ quan và khách quan)
mà chúng ta thường gọi là điều kiện chín muồi. Trong lịch sử cận - hiện
đại Việt Nam, các phong trào, các cuộc khởi nghĩa không thành công,
trước hết đều bắt nguồn từ việc chưa hội đủ các điều kiện cần thiết.
Chẳng hạn, sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc
dân Đảng vào đầu tháng 2-1930 là một ví dụ điển hình về việc thời cơ
chưa xuất hiện. Khi đó, những người đứng đầu Việt Nam Quốc dân Đảng
đã coi khởi nghĩa như một giải pháp tình thế, như một trò chơi - “không
thành công cũng thành nhân”. Thế hệ cách mạng Việt Nam tiếp theo liền
rút ra bài học: Không được đùa với khởi nghĩa.
Thời cơ là một thành tố khách quan, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý
muốn chủ quan của một cá nhân nào, của một tổ chức chính trị nào. Nó
xuất hiện một cách bất ngờ và tồn tại trong một khoảng thời gian nhất
định. Nói như vậy không có nghĩa là thời cơ là một cái gì đó không thể
biết trước được, không thể đoán định được. Tuy nhiên, điều lý thú là ở
chỗ, nó có mà không có và ngược lại. Vì thế, không phải ai cũng có thể
dự báo được thời cơ, theo dõi, nắm bắt nó và cuối cùng là lợi dụng nó để
đạt tới cái đích của mình.
ngạt thêm không khí ở thuộc địa, làm âm ỉ thêm trong lòng xã hội những
ngọn lửa đấu tranh quyết liệt mà thôi.
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội thuộc địa Việt Nam
tiếp tục phân hóa, mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp tiếp tục tăng
lên.
Điều kiện vật chất xã hội ấy là cơ sở cho sự phát triển các tư tưởng
mới đang du nhập vào Việt Nam.
Tư tưởng tư sản tiếp tục ăn sâu vào nhiều bộ phận xã hội nhưng kể từ sau
thất bại của Việt Nam Quốc Dân Đảng, những bộ phận tích cực đi theo
đường lối ấy bị thất bại và tan vỡ về tổ chức làm cho nhiều người mất
phương hướng, một số đi theo đường lối cải lương thì được tán dương
chủ thuyết Pháp - Việt đề huề, hoặc lao sâu vào con đường tiêu cực chống
phá cách mạng giải phóng dân tộc. Trong lúc đó tư tưởng vô sản của chủ
nghĩa Mác - Lênin dần dần chiếm ưu thế. Sự xuất hiện Đảng Cộng Sản
Việt Nam đầu năm 1930 khác hẳn sự ra đời của các tổ chức chính trị
đương thời, đã thu hút sự chú ý của đông đảo các giai tầng xã hội.
Sự tuyên truyền chống cộng đã phản tác dụng, vô hình chung lại đề cao
chủng nghĩa Cộng sản. Đó cũng là lúc hình ảnh nhà nước công - nông ở
Liên Xô đang có sức thuyết phục khá lớn, nhiều dân tộc bị áp bức đang
mơ ước chế độ Xô - Viết… Như thế một thời kỳ đấu tranh cách mạng đi
theo xu hướng mới nhất định sẽ bùng nổ.
b. Cao trào cách mạng 1930 - 1931 và Xô Viết Nghệ Tĩnh
Ở Việt Nam từ năm 1930 trở đi, con đường Cách mạng vô sản đã dẫn dắt
nhân dân ta đấu tranh bằng những cao trào rộng lớn. Mở đầu cho những
bước phát triển mới là sự bùng nổ cao trào chống đế quốc phong kiến
những năm 1930 - 1931, đỉnh cao là sự xuất hiện và tồn tại của các Xô -
Viết ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.
Lược đồ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931
Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 đã kịp thời đưa ra đường
lối phù hợp nhất với nguyện vọng đấu tranh của xã hội lúc đó, vì vậy
chứng hùng hồn nhất cho truyền thống yêu nước, lòng dũng cảm kiên
cường, sức sống mãnh liệt và sức sáng tạo phi thường của giai cấp lãnh
đạo cách mạng Việt Nam trong việc truyền bá tư tưởng, xây dựng lực
lượng cách mạng. Nó khẳng định trong thực tế: Đường lối cách mạng, uy
tín và năng lực lãnh đạo của Đảng, của giai cấp vô sản Việt Nam. Nó
sáng tạo ra nhiều hình thức và phương pháp đấu tranh mới cho cách
mạng;góp phần tạo dựng niềm tìn, truyền bá tư tưởng dân chủ, bước đầu
xây dựng lực lượng chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc tổng khởi nghĩa khi thời
cơ đến, đồng thời nó để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho những
người yêu nước và cách mạng đang đấu tranh cho nền tự do và độc lập
của tổ quốc.
c. Đấu tranh cho dân sinh dân chủ những năm 1932 – 1936
Những năm sau khi các Xô Viết Nghệ Tĩnh bị dìm trong biển máu, phong
trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta gặp nhiều khó khăn do bị tổn
thất nhiều cả về lực lượng, tổ chức, phương thức hoạt động cũng không
còn thích hợp nữa. Thực dân Pháp triệt để thi hành chính sách khủng bố
trắng đối với tất cả những người yêu nước.
Mặt khác trong những năm 1931 - 1935 địch cũng buộc phải có những
cải cách dân chủ dù rất hạn chế, để củng cố nền thống trị của chúng ở
Đông Dương.
Trong lúc đó, những bộ phận cơ sở Đảng còn lại cũng kiên trì đấu tranh
bảo vệ và xây dựng củng cố lực lượng, gây dựng tổ chức, phát triển
phong trào của mình. Các xứ ủy lâm thời sau nhiều nỗ lực đã được gây
dựng lại ở Bắc Kỳ (1932), ở Nam Kỳ (1933), ở Trung Kỳ (1934), các cơ
sở Đảng Cộng Sản Đông Dương cũng được xây dựng ở Campuchia và
Lào năm 1934.
Tháng 3/1935, được sự giúp đỡ của Quốc Tế Cộng Sản, những người
cộng sản Đông Dương đã tiến hành cuộc Đại hội Đảng ở Ma Cao, bầu ra
Ban Chấp Hành Trung Ương mới gồm 13 thành viên do đồng chí Hà Huy
Tập làm Tổng Bí thư. Nghị quyết chính trị của Đại hội Đại biểu lần thứ
+ chủ nghĩa phát xít đã thắng thế ở một số nơi : phát xít hitle ở Đức và
phái ĩ quan trẻ ở nhật . Chế đọ độc tài phát xít là nền chuyên chính của
những thế lực phản động nhất . tàn bạo nhất và dã man nhất , chúng
tiến hành chiến tranh bành trướng xâm lược ở nhiều nước. Nguy cơ
chủ nghĩa phát xít đe dọa và chiến tranh thế giới đe dọa nghiêm trọng
hòa bình và an ninh thế giới
+ xác định lại kể thù trước mắt của giai cấp vô sản và nhân dân lao
động trước mắt lúc này chưa phải chủ nghĩa đế quốc nói chung mà là
chủ nghĩa phát xít . Vì vậy nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động thế giới lúc này không phải là đấu tranh chống
chủ nghĩa tư bản mà là đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít , bảo vệ dân
chủ hòa bình
- tình hình trong nước
Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929-1933 đã tác động một cách sâu
sắc tới mọi giai cấp tầng lớp trong xã hội
Bọn cầm quyền ra sức bóc lột vơ vét của cải , bóp nghẹt quyền tự do
dân chủ của nhân dân và thi hành chính sách khủng bố , đàn áp phong
trào đấu tranh của nhân dân ta và mấu thuẫn giữa nhân dân lao động
và chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phát xít ngày càng trở nên sâu sắc
b. Sự chuẩn bị của Đảng về mặt tue tưởng cũng như lực lượng
trong giai đoạn này cho cuộc tổng khỏi nghĩa tháng tám
Đứng trước những nhận định về tình hình chính trị của các nước và
tình hình trong nước Đảng ta đã chuẩn bị cho mục tiêu cao hơn bằng
một loạt những thay đổi trong đường lối cụ thể ;
+ chủ trương của Đảng được thể hiện thông qua 4 nghị quyết của bốn
hội nghị ban chấp hành trưng ương Đảng Cộng sản Đông Dương , Hội
nghị lần hai ( tháng 7/1936), hội nghị lần 3(3/1937), hội nghị lần 5
(3/1938)
+ chủ chương đấu tranh đòi quyền dân chủ , dân sinh ; BCHTW xác
định cách mạng ở Đông Dương vẫn là cách mạng tư sản dân quyền ,
Đông Dương đầu tiên ra đời ở Hội quán báo Việt Nam (số 78 phố La
Grandier, nay đường Lý Tự Trọng) gồm 19 người (có 3 đại biểu Cộng
sản). Sau đó các Ủy ban hành động được hình thành khắp nơi cả thành
phố, thị xã lẫn nông thôn.
Đến tháng 9/1936, Nam Kỳ đã có hơn 600 Ủy ban hành động. Đông nhất
là ở các thành thị như Sài Gòn, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Gia Định, Biên
Hòa (riêng Sài Gòn - Chợ Lớn có 31 Ủy bn hành động). Các nhà máy xí
nghiệp trường học cũng có Ủy ban hành động, có một phần ba số xã vùng
nông thôn lập Ủy ban hành động. Các Ủy ban hành động tổ chức hội họp,
mít - tinh sôi nổi, truyền đơn, báo chí cũng cổ vũ vận động cho các Ủy
ban hành động hoạt động công khai. Gần một nửa trong số 600 Ủy ban
hành động có trụ sở với những Ủy viên thường trực là những cán bộ cách
mạng hay những người yêu nước.
Tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ tháng 9/1936 các Ủy ban lâm thời Đại hội Đông
Dương cũng được ra đời ở Hà nội và Huế, sau đó các Ủy ban hành động
hình thành ở các tỉnh xung quanh trong các nhà in, xưởng máy, trong các
giới tiểu thương, phụ nữ, nông thôn… đâu đâu cũng nói đến dân nguyện,
các cơ sở Ủy ban hành động lần lượt ra đời.
Đặc biệt trong giai đoạn này là việc thành lập và hoạt động của mặt trận
dân chủ Đông Dương . Từ năm 1937, theo chủ trương của Đảng Cộng
Sản Đông Dương tận dụng các khả năng công khai hợp pháp, Mặt Trận
Dân Chủ Đông Dương và các tổ chức đoàn thể quần chúng của mặt trận
như Đoàn Thanh Niên Dân Chủ, Hội Cứu Tế Bình Dân, Công Hội, Nông
Hội ra đời. Ở các thành thị và nông thôn lại rất phát triển hội quần chúng
như Ái Hữu, Tương Tế, Thể Thao, Âm Nhạc, Kịch, Du Lịch, Chèo, Hội
Cấy, Hội Gặt. chúng ta có thể thấy hoạt động của quần chúng trong
phong trào này đã gặt hái được những thành tựu về mọi mặt đó là
+Những hoạt động đấu tranh công khai hợp pháp của quần chúng ngày
một sôi nổi với những hình thức phong phú như mít - tinh, biểu tình, biểu
dương lực lượng, bãi công… Ngày 1/5/1938 tại Hà Nội đã có cuộc biểu
3 Sự chuẩn bị của Đảng về mặt lực lượng và tư tưởng trong giai đoạn
1939-1945
3.1 Bối cảnh lịch sử
a.thế giới
-ngày 1/9/1939 chiến tránh thế giới thứ 2 bùng nổ tác động sấu sắc tới
tình hình thế giới cũng như trong nước
-pháp tham gia vào cuộc chiến
-6/1940 Đức tấn công pháp => pháp đầu hàng phatxit ở chính quốc
-6/1941 phátxít Đức tấn công Liên Xô=>tính chất chiến tranh đế quốc
trước đây chuyển thành chiến tranh giữa lực lượng dân chủ và lực lượng
phátxit
b. Trong nước
-Đế quốc Pháp tham chiến và đặt Đông Dương trong tình trạng chiến
tranh =>Một loạt các chính sách thời chiến đã được thi hành ở Đông
Dương với mục đích vơ vét nguồn nhân lực vật lực phục vụ cho chiến
tranh của nước Pháp
-Phong tào cách mạng do Đảng Cộng Sản lãnh đạo bị đàn áp ráo riết =>
Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời rút vào hoạt động bí mật một
cahs an toàn và bắt đầu chuyển hướng chỉ đạo chiến lước cách mạng cho
phù hợp với tình hình mới
-22/9/1940 phát xít Nhật tiến vào Việt Nam( tiến vào Lạng Sơn sau đó đổ
bộ vào Hải Phòng) . ngày 23/9/1940 pháp kí hiệp định đầu hàng Nhật
=>kẻ thù của nhân dân mất nước VN lúc này không còn chỉ có thực dân
pháp mà lúc bấy giờ là đế quốc , phát xít Pháp Nhật
3.2 chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và những chuẩn bị của Đảng ta
cho tổng khởi nghĩa toàn dân 1945
a. Nội dung chính chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
nhận thức được sự thay đỏi tình hình trong nưosc cũng như quốc tế Đản
ta đã đưa ra những thay đổi cơ bản trong đường lối của mình nhằm phù
hợp với bối cạnh và tạo điều kiện cho công tác chuần bị mọi măt sẵn sang
+Quyết định thành lập mặt trận Việt Minh
=>đoàn kết tập hợp lực lượng cách mạng nhằm mục tiêu giải phóng dân
tộc
+Quyết định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang nhiệm vụ trọng tâm
của Đảng và nhân dân ta
=>để đưa cuộc khởi nghĩa vũ trang đến thắng lợi cần phải ra ssuwc phát
triển lục lượng trên tất cả mọi mătk chính trị vũ tráng có như thế mới có
thể đảm bảo một cơ sở vũng chác cho việc thành công cách mạng khi có
điều kiện nắm bắt thời cơ
b.Những bước chẩn bị cho một cuộc tổng khởi nghĩa toàn dân diễn ra
khi thời cơ tới
+về đường lối tư tưởng
Như đã phân tích ở trên nhận thấy ở trên khi tình trong nước và quốc tế
có nhiều thay đổi Đảng nhanh chóng thay đổi đường lối của mình cho
phù hợp và tạo điều kiện xúc tiến và đẩy mạnh cho cách mạng phát triền
và xác định rõ ràng mục tiêu đích thực quan trong của cách mạng VN tạo
điều kiện tiền đề cơ bản cho một cuộc tổng khới nghĩa toàn dân
+về chính trị ,tổ chức
Thành lập mặt trận thống nhất Việt Minh để tập hợp lực lượng đông đảo
trong cả nước, để vận động thu hút mọi người dân yêu nước Tích cực
xây dựng các tổ chức cứu quốc của quần chúng đẩy nhanh việc phát triển
lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh của quần chúng .Việt Minh
lan tỏa khắp nông thôn thành thị ,có hệ thống từ trung ương đến cơ sở
,một số tổ chức chính trị yêu nước ra đời và đã tham gia làm thành viên
của mặt trận Việt Minh=> lực lượng qchinhs trị quần chúng ngày càng
trở nên đông đảo =>chính trị và tổ chức đã được chuẩn bị tương đối mạnh
để có thể săn sàng cho việc lãnh đạo chỉ huy một cuộc tổng khời nghĩa
lịch sử
+về vũ trang
Vũ trang cho quần chúng cách mạng từng bước xây dựng tổ chức lực
cách mạng do Đảng ta lãnh đạo, đồng thời ban bố lệnh tổng động
viên, ra sức bắt người, cướp của tại chỗ để cung cấp cho chiến tranh
đế quốc của chúng. Chiến tranh đã đặt đát nước ta trong tình hình
mới. Chính sách vơ vét, cướp bóc và chính sách khủng bố phát xít
của đế quốc trong chiến tranh sẽ đẩy mau tốc độ cách mạng hoá
nhân dân, đẩy mau tình thế tới một thời điểm mà giai cấp thống trị
không thể thống trị như cũ, và giai cấp bị trị cũng không thể sống
như cũ được nữa. Chiến tranh đã đặt nhiệm vụ đánh đổ chính quyền
của đế quốc và tay sai thành nhiệm vụ trực tiếp, trước mắt của cách
mạng. Đấu tranh hợp pháp giành chính quyền dân chủ, dân sinh
không còn khả năng mà cũng không phải là mục tiêu trực tiếp của
cách mạng lúc ấy nữa.
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 (11-1940) đã được tổ chức tại
Đình Bảng (Bắc Ninh), Hội nghị vạch rõ nguy cơ của các dân tộc
Đông Dương bị một cổ hai tròn. Đông Dương bị hai bọn đế quốc
phát xít Nhật - Pháp dày xéo, kẻ thù chính của nhân dân Đông
Dương lúc này là đế quốc phát xít Nhật - Pháp Hội nghị nhận định
về thời cơ của cách mạng Việt Nam: Một cao trào cách mạng nhất định sẽ
nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng: Lãnh
đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy
quyền tự do độc lập
Hội nghị quyết định duy trì lực lượng vũ trang của cuộc khởi nghĩa
Bắc Sơn, đơn vị tập trung đầu tiên của lực lượng vũ trang cách
mạng do Đảng ta lãnh đạo, làm nòng cốt cho việc xây dựng cơ sở
chính trị và xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Năm 1940, phát-xít Đức tiến công nước Pháp, Pa-ri đã thất thủ rơi
vào tay quân Đức, còn ở Việt Nam, Nhật nổ súng đánh chiếm Lạng Sơn,
hai đế quốc Nhật - Pháp tranh nhau miếng mồi Đông Dương. Phân tích về
diễn biến cuộc chiến tranh giữa phe phát-xít và Đồng minh, lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc khẳng định, thắng lợi cuối cùng sẽ thuộc về phe dân chủ
tịch Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ: Sớm nhìn thấy quy luật vận động cách
mạng, dự báo thời cơ cách mạng, nhanh chóng triển khai thực hiện để
thúc đẩy tiến trình cách mạng.
2.2 Đảng ta đã chọn đúng thời điểm để tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa
tháng tám năm 1945
Ngày 9-3-1945, phát-xít Nhật đảo chính Pháp, kéo theo đó là tình trạng
khủng hoảng chính trị ở Việt Nam. Ngay lập tức Ban Thường vụ Trung
ương Đảng đã họp và đưa ra những nhận định khách quan về thời cơ khởi
nghĩa đang đến rất gần: "Những cơ hội tốt đang giúp cho những điều kiện
khởi nghĩa mau chín muồi"; và ra Chỉ thị: "Nhật - Pháp bắn nhau và hành
động của chúng ta"(12-3-1945). Đảng quyết định phát động cao trào
chống Nhật cứu nước. Bản Chỉ thị nhận định, cuộc đảo chính của Nhật ở
Đông Dương đã tạo ra cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc, nhưng điều
kiện khởi nghĩa chưa thực sự chín muồi, tuy vậy cũng đã tạo ra những
tiền đề cần thiết thúc đẩy cuộc khởi nghĩa chóng tới.
Đến tháng 7-1945, phát-xít Đức, Ý đã bại trận trên chiến trường châu Âu.
Ở châu Á, phát-xít Nhật đang trên đường thất bại và sụp đổ. Dù đang bị
ốm giữa rừng Tân Trào, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn chỉ thị cho các đồng
chí: "Lúc này thời cơ đã đến, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy
Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập"(1).
Các cấp bộ đảng từ trung ương đến địa phương đã theo dõi sát sao diễn
biến mặt trận Thái Bình Dương. Sau khi Hồng quân Liên Xô tiêu diệt một
triệu quân Quan đông của Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc và Mỹ ném hai
quả bom nguyên tử xuống Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki, ngày 9-8-1945,
Hội đồng tối cao chiến tranh của Nhật Bản đã họp bàn về các điều kiện
đầu hàng theo Tuyên bố Pô-xđam. Sau những cuộc thương lượng giữa
Nhật Bản và Đồng minh, ngày 14-8-1945, Hội đồng tối cao chiến tranh
và nội các Nhật Bản với sự hiện diện của Nhật hoàng đã nhóm họp và
thông qua quyết định đầu hàng Đồng minh. Đúng giữa trưa ngày 15-8-
1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các lực lượng Đồng minh trên sóng
cơ cách mạng, phải bám sát tình hình, nhạy bén trước thời cuộc, để dự
kiến chính xác, biết phải làm gì và làm như thế nào, nhất là phải ra sức
chuẩn bị thực lực từ trước để một khi thời cơ đến có thể tung ra mà giành
lấy thắng lợi. Chọn đúng thời cơ là một khoa học, là một nghệ thuật, nhờ
thế sức mạnh của toàn dân ta được nhân lên gấp bội, tiến tới khởi nghĩa
giành chính quyền trong cả nước một cách nhanh, gọn, ít đổ máu và
thành công triệt để.Có thể khẳng định, thành công lớn nhất của nghệ thuật
khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Tám: Đảng ta đã chọn đúng thời cơ
"nổ ra đúng lúc". Đó là lúc 16 nghìn quân Anh chưa vào miền nam và
200 nghìn quân Tưởng chưa vào miền bắc để giải giáp quân Nhật; cũng là
lúc quân Nhật bại trận mất tinh thần, ngồi chờ Đồng minh đến tước vũ
khí; ngụy quyền tay sai bỏ trốn hoặc đầu hàng chính quyền cách mạng.
Chọn đúng thời cơ là một khoa học, là một nghệ thuật, nhờ thế sức mạnh
của toàn dân ta được nhân lên gấp bội, tiến tới khởi nghĩa giành chính
quyền trong cả nước một cách nhanh, gọn, không đổ máu và thành công
triệt để.
Cuộc Cách mạng Tháng Tám mà Đảng và Mặt trận Việt Minh phát động,
như cơn sóng thần, đã cuốn phăng chính quyền phát-xít Nhật và tay sai.
Ngày 30-8, vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị và tuyên bố “thà làm dân một
nước tự do, còn hơn làm vua một nước nô lệ”. Trên đống đổ nát đó,
chúng ta bắt tay xây dựng chế độ cộng hòa dân chủ bằng việc công bố
trước quốc dân Việt Nam và nhân dân thế giới bản Tuyên ngôn Độc lập
của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại vườn hoa Ba Đình, ngày 2-9-
1945. Như vậy, mọi việc được chúng ta hoàn tất trước ba ngày để ngày 5-
9-1945, với tư cách là chủ nhà, Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân
chủ cộng hòa đón tiếp quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên
đất nước ta.
Có thể nói cuộc cách mạng tháng tám vĩ đại thành công là một minh
chứng hùng hồn về nghệ thuật quân sự và tinh thần đại đoàn kết toàn dân
tộc của Việt Nam ta , có thể thấy rằng có rất nhiều quốc gia khác vào
xuất hiện thì kiên quyết và kịp thời lãnh đạo nhân dân nhất tề đứng lên
tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã chứng tỏ
vai trò lãnh đạo quyết định của Đảng. Vào thời điểm trước khi Tổng khởi
nghĩa, số lượng đảng viên của Đảng chỉ có vài nghìn người, nếu tính theo
tỷ lệ dân số cả nước thì con số đó quả là ít ỏi. Vậy vấn đề đặt ra là vì sao
Đảng lúc đó chỉ có ít đảng viên như vậy lại có thể lãnh đạo toàn thể nhân
dân đứng lên giành chính quyền? Câu trả lời là Đảng đã thực sự trở thành
đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thông qua
đường lối, chủ trương rõ ràng, đúng đắn, xuất phát từ thực tế tình hình, và
mọi hoạt động của Đảng đều nhằm mục đích đem lại độc lập, tự do cho
dân tộc và quyền lợi thiết thực, cụ thể cho mỗi người dân. Nhân dân coi
Đảng và các tổ chức, đoàn thể của Đảng là đại diện thực sự cho quyền lợi
của họ nên khi Đảng phát động cuộc Tổng khởi nghĩa, toàn dân đã nhất tề
hưởng ứng.
Trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, Đảng
vẫn đóng vai trò quyết định sự đi lên, phát triển của đất nước thông qua
sự lãnh đạo bằng các đường lối, chủ trương đúng đắn, sáng tạo. Tuy
nhiên, trong bối cảnh tình hình đã có nhiều sự biến chuyển khác xa so với
thời kỳ Cách mạng Tháng Tám 1945, khi đất nước đã có sự phát triển
mạnh mẽ về kinh tế, xã hội, mặt bằng dân trí được nâng cao, mọi mặt đời
sống đã hội nhập sâu với thế giới, xu thế toàn cầu hoá đóng vai trò chủ
đạo, thì các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng cũng cần có sự
điều chỉnh phù hợp để vừa tiếp tục khẳng định sự lãnh đạo củaĐảng, vừa
nhận được sự đồng thuận caocủa toàn dân trong các vấn đề trọng đại của
đất nước.
Cách mạng là đổi mới, là sáng tạo. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã
thực sự làm đổi thay cơ bản cơ cấu xã hội Việt Nam vốn đã tồn tại hàng
thế kỷ, đưa đến một sự đổi đời cho dân tộc và cho mỗi người dân. Tinh
thần và bài học của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 về vai trò và sự
Một trong những biểu hiện dễ thấy của một chính quyền có thực sự là đại
diện cho ý chí, nguyện vọng của đông đảo quần chúng hay không là ở
chỗ chính quyền đó có lắng nghe phản biện của các tầng lớp nhân dân về
các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội thiết thân đối với cuộc sống của người
dân hay không. Nếu chính quyền và người dân đạt được sự đồng thuận
cao (chứ không phải đồng ý), thì chính quyền đó sẽ được người dân tin
tưởng, ủng hộ và bảo vệ. Bài học của Cách mạng Tháng Tám khi mà
Chính phủ lâm thời, ngay sau ngày thành lập, đã đưa ra 6 vấn đề cấp bách
cần phải giải quyết, đã đưa ra và khái quát nhiệm vụ cấp bách của chính
phủ là phải chống ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, được
toàn thể nhân dân đồng tình và hưởng ứng, là một ví dụ, một minh chứng
tiêu biểu của một chính quyền của dân.
3. Vượt qua khó khăm thách thức , tận dụng thời cơ đưa đất nước
tiến lên
Thực tế lịch sử lúc đó, vào tháng 8-1945, khi mà điều kiện khách quan
nhìn chung thuận lợi như nhau, nhưng chỉ có Việt Nam làm cách
mạng thành công; In-đô-nê-xi-a, Lào cũng có kết quả nhưng ở mức
thấp hơn, còn hầu hết các nước khác trong khu vực châu Á - Thái
Bình Dương, cụ thể là ở Đông Nam Á, không thể đứng lên làm cách
mạng, giành chính quyền. Đành rằng điều kiện, hoàn cảnh ở mỗi quốc
gia một khác, nhưng điều muốn nói ở đây là vấn đề chớp thời cơ, tận
dụng thời cơ để tiến hành khởi nghĩa ở Việt Nam là một điển hình
thành công. Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã biết kết hợp điều kiện
khách quan từ bên ngoài thuận lợi với điều kiện chủ quan trong nước
đã được chuẩn bị kỹ càng trong một thời gian dài, với bao khó khăn
gian khổ, hy sinh, để lãnh đạo toàn dân đứng lên giành chính quyền.
Từ trong khó khăn thách thức tưởng chừng khó có thể vượt qua đó,
Đảng ta đã nhận thấy đó cũng chính là cơ hội để đổi mới, để tiến lên
cũng như trong Cách mạng Tháng Tám, nhân dân tin vào sự lãnh đạo
của Đảng, Đảng tin vào sức mạnh vô địch, lòng yêu nước của nhân