TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Khoa thương mại và kinh tế quốc tế
Đề án môn học.
Đề tài: Thương mại điện tử trong doạnh nghiệp Việt Nam.
Sinh viên : Đặng văn Giang
Chuyên ngành : QTKD Thương mại
Lớp : Thương mại 48 B
Giáo viên hướng dẫn : GS.TS Hoàng Đức Thân
Hà nội - 2009
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, Thương
mại điện tử ( TMĐT ) ra đời là kết quả hợp thành của nền “kinh tế số
hóa” và xã hội thông tin. TMĐT bao trùm một phạm vi rất lớn các hoạt
động về kinh tế xã hội, nó mang đến lơi ích tiền năng và đồng thời là cả
thách thức lớn đối với người sử dụng.
TMĐT đang phát triển nhanh chóng trên bình diện toàn cầu, Tuy
nhiên hiện nay TMĐT chủ yếu áp dụng ở các nước công nghệ phát triển
và các nước đang phát triển cũng đang dần dần bước đầu tiến tới.
Việt Nam tuy cơ sở hạ tầng TMĐT chưa hình thành hoàn thiện,
xong cũng với xu hướng hội nhập, chúng ta là thành viên của các tổ chức
ASEAN, APEC, WTO. Việt Nam đã đưa và áp dụng TMĐT.
TMĐT mang lại lợi ích tiềm tàng giúp người tham gia thu được
những thông tin phong phú về kinh tế -văn hóa –xã hội cũng như thông
tin về thị trường, đối tác trong doanh nghiệp, làm giảm chi phí, mở rộng
phạm vi hoạt động, quy mô của doanh nghệp và đặc biệt với các nước
đang phát triển thì đây là cơ hội tạo bước nhảy vọt rút ngắn khoảng cách
với các nước phát triển.
Nhận thức được vai trò của TMĐT trong sự nghiệp CNH – HĐH
đất nước ngay cả trong điều kiện thực tế ở Việt Nam môi trường cho
TMĐT chưa hình thành ngay cả việc nhận thức về TMĐT còn sơ sài
trong quần chúng. Xong Việt nam đang bắt đầu xây dựng các quy định
biết đến nhưng vẫn ở trạng thái dè dặt và cũng chỉ được ứng dụng trong một số
ngành,một số tổ chức nhà nước nhưng còn rất hạn chế. Và nhiều năm sau đó,đến năm
1995 kế hoạch tin học hóa và ứng dụng công nghệ thông tin mới bắt đầu trong các tổ
chức doanh nghiệp và giáo dục. Và ngày 19/11/1997 là ngày đầu tiên đánh dấu sự hoạt
động của Internet tai Việt Nam.
Nếu cuối năm 2003 số người truy cập Internet ở Việt Nam là khoảng 3,2 triệu
người, đến cuối năm 2004 con số này đã tăng lên gần gấp đôi, tức khoảng 6,2 triệu
người, sáu tháng sau đó, con số này đã lên đến hơn 10 triệu, dự đoán đến cuối năm
2005, số người Việt Nam truy cập Internet có thể lên đến 13 đến 15 triệu người, chiếm
tỷ lệ 16% - 18% dân số cả nước. Những thống kê này cho thấy một tín hiệu lạc quan về
sự phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam trong giai đoạn 2006 -2010
Theo thống kê của Vụ Thương mại điện tử thuộc Bộ Thương mại, đến cuối năm
2004, Việt Nam đã có khoảng 17.500 website của các doanh nghiệp, trong đó số tên
miền .vn (như .com.vn, .net.vn, ) đã tăng từ 2.300 (năm 2002) lên 5.510 (năm 2003)
và 9.037 (năm 2004).
Năm 2003, 2004 là năm các website sàn giao dịch B2B (marketplace), các
website rao vặt, các siêu thị trực tuyến B2C đua nhau ra đời. Tuy nhiên, các website
này vẫn còn phát triển hạn chế, chưa có website nào thực sự phát triển đột phá vì nhiều
nguyên do. Những mặt hàng được bán phổ biến trên mạng tại Việt Nam hiện nay gồm:
hàng điện tử, kỹ thuật số, sản phẩm thông tin (sách điện tử, CD, VCD, nhạc ), thiệp,
hoa, quà tặng, hàng thủ công mỹ nghệ. Các dịch vụ ứng dụng Thương mại điện tử nhiều
như: du lịch, tư vấn, CNTT, dịch vụ thông tin .
Các doanh nghiệp cũng đã quan tâm nhiều hơn về việc lập website để giới thiệu
thông tin, hỗ trợ marketing, bán hàng qua mạng Bảng sau minh họa kết quả khảo sát
của Vụ Thương mại điện tử về quan điểm của doanh nghiệp về tác dụng của website
đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.3/ Vai trò của TMĐT ở doanh nghiệp.
Hiện nay TMĐT đang được nhiều quốc gia quan tâm,coi là một trong những
động lực để phát triển kinh tế:
TMĐT trước hết giúp doanh nghiệp có thể truy cập thông tin nhanh, va phong
Các đối tác( người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) sử dụng hòm
thư điện tử để gửi thư cho nhau một cách trực tuyến thông qua mạng , gọi là thư tín
điện tử -“Electronic mail, còn gọi là e-mail). Đây là một thứ thông tin dưới dạng “phi
cấu trúc”, nghĩa là thông tin không phải tuân thủ một cấu trúc đã thỏa thuận.
- Thanh toán điện tử:
Thanh toán điện tử -“Electronic Payment” la việc thanh toán tiền thông qua
thông điệp điện tử -“Electronic Message” thay cho việc trao tay tiền mặt, việc trả lương
bằng cách chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ mua hàng, thẻ
tín dụng .v.v đã quen thuộc lâu nay thực chất đều là các dạng thanh toán điện tử.
Trao dữ liệu điện tử tài chính –“Financial Electronic Data Interchange, gọi tắt là
FEDI” chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau
bằng điện tử.
Tiền mặt Internet –“Internet cash” là tiền mặt được mua từ một nơi phát
hành( ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng) sau đó được chuyển đổi tự do sang các đồng
tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong phạm vi cả nước cũng như giữa các quốc
gia. Tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hóa, vì thế tiền mặt còn có tên gọi là
“tiền mặt số hóa” –“Digital cash”. Công nghệ đặc thù chuyên phục vụ mục đích này có
tên gọi là “mã hóa khóa công khai/bí mật” –“Public/Private key Cryptography”. Tiền
mặt Internet được người mua hàng mua bằng đồng nội tệ rồi dùng Internet để chuyển
cho người bán hàng.
Túi tiền điện tử -“Smart card, còn goi la thẻ thông minh” nhìn bề ngoài tương tự
như thẻ tín dụng, nhưng mặt sau của thẻ thay vì cho dải từ, lại là một chip máy tính điện
tử có một bộ nhớ nhỏ để lưu chữ tiền số hóa. Tiền ấy chỉ được chi trả khi người sử dụng
và thông điệp được xác nhận là đúng.
Giao dịch ngân hàng số hóa –“Digital Banking”, và giao dịch chứng khoán số
hóa –“Digital securities trading”. Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một đại
hệ thống, gồm nhiều tiểu hệ thống:
+ Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng (qua điện thoại, các điểm bán
lẻ,các ki-ốt, giao dịch cá nhân tại nhà,tại trụ sở khách hàng,qua mạng Internet,chuyển
tiền điện tử,thẻ tín dụng ).
đồng bảo hiểm v.v. cũng được đưa vào danh mục các dung liệu.
Trước đây dung liệu được trao đổi dưới dạng hiện vật bằng cách đưa vào băng
đĩa, in thành sách báo v.v. để người sử dụng đến mua hoặc nhận trực tiếp. Ngày nay,
dung liệu được số hóa và truyền gửi theo mạng, gọi là “giao gửi số hóa” –“Digital
Delivery”. Ở Mỹ hiện nay 96% dân số dùng Internet/web để thu thập thông tin.
1.2.2/ Nội dung hoạt động TMĐT ở doanh nghiệp.
Như chúng ta đã biết, thế giới đang trải qua một thời kỳ chuyển đổi mạnh mẽ mà
theo cách gọi của nhiều nhà kinh tế,nghiên cứu trong nước và quốc tế thì đó là thời kỳ
quá độ của một nền “kinh tế cũ” thàng một nền “kinh tế mới”. Trong nền kinh tế đó thì
TMĐT đóng một vai trò là một bộ phận cấu thành hết sức quan trọng. Sự phát triển đi
lên một nền kinh tế trí thức là một đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế, nếu như không muốn
tụt hậu so với các nước trên thế giới.
Nhận thức được rõ điều này thi nhà nước và các doanh nghiệp trong nước đã tiến
hành va từng bươc đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng TMĐT. Thương mại điện tử
chỉ có thể phát triển khi và chỉ khi các yếu tố nền tảng thiết yếu như hạ tầng công nghệ
thông tin,hạ tầng pháp lý thì doanh nghiệp cần phải có những bước đầu chuẩn bị
đồng thời luôn luôn nắm bắt thông tin của thế giới về những ứng dụng, công nghệ mới
để áp dụng thử nghiệm đưa vào thực tiễn. Bởi vì tận dụng cơ hội “đi tắt, đón đầu” thì
kinh doanh mới phát triển cao nhất.
Đồng thời các doanh nghiệp cận nguồn nhân lực về công nghệ thông tin tốt và có
chất lượng,cần phải được bồi dưỡng, tiếp thu công nghệ mới của thế giới. Cần thiết lập
mạng lưới Internet/web để các doanh nghiệp cũng như chính khách hàng và người tiêu
dùng có thể nắm bắt rõ thông tin và học hỏi kinh nghiệm.
1.2.3/ Yêu cầu TMĐT ở doanh nghiệp.
- Hạ tầng cơ sở công nghệ:
Chỉ có thể tiến hành thực tế và một cách có hiệu quả thì TMĐT khi đã có một hạ
tầng cơ sở thông tin công nghệ đủ năng lực gồm nhánh là: Tính toán và truyền thông
ngoài ra cần phải có ngành điện lực đủ mạnh. Hiện nay đang có xu hướng đưa cả công
nghệ bảo mật và an toàn vào cơ sở hạ tầng công nghệ của TMĐT. Đòi hỏi về cơ sở hạ
tầng công nghệ gồm hai mặt: một là tính tiên tiến, hiện đại về công nghệ và thiêt bị; hai
thấp,mất nhiều chi phí cũng như thời gian.
- Bảo vệ sở hữu trí tuệ:
Tài sản của con người,của quốc gia đang dần dần quy về “tài sản chất xám”,
thông tin sẽ trở thành tài sản và bảo vệ tài sản cuối cùng sẽ trở thành bảo vệ sở hữu trí
tuệ. Vì thế trong việc truyền gửi các dung liệu qua mạng nổi lên vấn đề bảo vệ chất xám
và bản quyền của các thông tin ở các khía cạnh phức tạp hơn nhiều so với bảo vệ trí tuệ
trong kinh tế vật thể.
- Bảo vệ người tiêu dùng:
Đây là mục tiêu ngày càng đề cao trong thương mại. Quy cách, phẩm chất hàng
hóa, các thông tin có liên quan trong TMĐT đều ở dạng số hóa, nên người mua chịu rủi
do lớn so với giao giao dịch thương mại vật thể. Vì người mua không thể nếm thử hay
dùng thử hàng hóa trước khi mua, và còn khả năng nhầm lẫn các cơ sở dữ liệu, bị lừa
gạt bởi các thông tin và tổ chức phi pháp có mặt trên mạng.
Đòi hỏi phải có một trung gian đảm bảo chất lượng mà hoạt động hữu hiệu và ít
tốn kém.
Cơ chế bảo đảm chất lượng đặc biệt có ý nghĩa với các nước đang phát triển, nơi
mà dân chúng cho tới nay vẫn còn tập quán tiếp xúc trực tiếp với hàng hóa và điều quan
trọng họ chưa thực sự hiểu sâu sắc về TMĐT.
- Lệ thuộc công nghệ:
Mỹ đang khống chế toàn bộ công nghệ thông tin quốc tế cả phần cứng và phần
mềm, chuẩn công nghệ internet là chuẩn của Mỹ, các phần mềm tầm cỡ chủ yếu là của
Mỹ, nước Mỹ đi đầu trong kinh tế số hóa và TMĐT.
Một khi thương mại được số hóa thì toàn thế giới trên thực tế sẽ nằm trong tầm
khống chế công nghệ của Mỹ. Mỹ sẽ giữ vai trò người bán thông tin cho toàn thế giới,
với công nghệ được đổi mới từng ngày và thuần túy với “ nền kinh tế ảo”, “ kinh tế tri
thức” các nước khác tiếp tục sản xuất “của cải vật chất” phục vụ cho Mỹ.
Hơn nữa Mỹ và các nước tiên tiến gần Mỹ còn biết hết thông tin của cá nước
thấp hơn.
Đòi hỏi, ngay từ bây giờ các nước có chiến lược cụ thể với tình hình nước mình,
sự du nhập nó là không thể tránh được bởi nó còn là cơ hội, nhưng nếu chỉ là bị bức
công nghệ và có những thử nghiệm khoa học.
Chương 2: Thực trạng TMĐT trong doanh nghiệp Việt Nam.
2.1/ Thực trạng TMĐT ở Việt Nam.
2.1.1/ Cơ sở hạ tầng vật chất cho TMĐT Việt Nam.
Thứ nhất: Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin cho TMĐT.
- Công nghệ tính toán.
Ở Việt Nam thì máy tính đầu tiên được sử dụng vào năm 1968 do Liên xô lắp
đặt tại Hà Nội, năm 1970 thì phía trong nam sử dụng máy tính của Mỹ. Cuối năm 1970
thì Việt Nam có khoảng 40 dàn máy tính vạn năng thuộc dòng Minsk và ES ở Hà Nội,
và IBM 360 ở thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1980 thì Việt Nam nhập khẩu máy tính.
Từ năm 1995 bắt đầu triển khai chương trình quốc gia về công nghệ thông tin,
lượng máy tính nhập khẩu tăng vọt với tốc độ 50%/năm. Tới năm 2002 thì máy vi tính
nhập vào Việt Nam có 600.000 chiếc, ngoài ra còn có một số máy tính có tính thế hệ
loại mới và khoảng 400 máy mini.
Máy tính cá nhân lắp ráp trong nước đang phát triển nhanh chóng và theo ước
tính chiếm khoảng 75% thị phần, năm 1998 thì khối lượng sản xuất khoảng 80.000 –
100.000 máy/năm. Doanh số đạt được là 65 triệu USD. Và theo thống kê năm 2008 thì
Việt Nam xuất xưởng là 297,2 triệu chiếc, từ đây cho thấy việc đầu tư và phát triển
công nghệ thông tin ở Việt Nam tăng nhanh.
Tại nhiều cơ quan và doanh nghiệp, dữ liệu có cấu trúc đã được quản lý bằng
nhiều hệ thống quản trị dữ kiệu khác nhau ( Dbase, Fox, Access ) cũng đã sử dụng
một số phần mềm nhóm như: MS Office, teammoric, Lotus Notes. Đang xây dựng 6 cơ
sở dữ liệu quốc gia tầm cỡ lớn phục vụ mục tiêu tin học quản lý nhà nước.
Một số mạng máy tính (LAN, Internet) chạy trên các nền khác nhau (Novell
Netuare UNIX, Linux, Windown NT, ) đã được triển khai như: mạng của văn phòng,
Chính phủ, mạng của bộ quốc phòng, mạng bộ tài chính, bộ thương mại,
Cường độ sử dụng máy tính còn thấp, hầu như nhiều cơ quan xí nghiệp máy tính
được sử dụng như một máy tính là chính.
Trang bị công nghệ thông tin máy tính mất cân đối lớn, phần cứng chiếm tới
80% tổng chi phí mà phần mềm chưa được đẩy cao nhiều lắm.
Từ năm 1980 thì một số trường đại học đã mở khoa tin học và có đào tạo chuyên
sâu. Cùng với đào tạo trong nước thì Nhà nước có gửi các bộ sang nước ngoài học hỏi
kinh nghiệm.
Lực lượng chuyên gia công nghệ thông tin của nước ta được phân thành:
+ Các chuyên gia có kiến thức cao, được đào tạo nước ngoài. Hiện nay số này có
khoảng 40.000 người.
+ Các cán bộ được đào tạo từ khoa tin học của các trường đại học. Theo đánh giá
trình độ của các sinh viên ở đây khá cao, và để tiếp thu thực tế, mỗi năm ra trường trên
1.000 người.
+ Một lực lượng đông đảo thanh niên học thêm các trung tâm tin học, số này
chiếm khá đông.
+ Đội ngũ Việt kiều tin học, có khoảng 50.000 người. Đây là lực lượng giỏi,
nhiều người có trình độ cao, còn một số là chuyên gia đầu đàn của các tổ chức tin học
thế giới.
Thứ ba: hạ tầng cơ sở pháp lý cho TMĐT.
Nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu,80% dân số làm nông nghiệp, công nghiệp
chiếm thấp và chi phí dịch vụ còn cao.
Năm 1998 kim ngạch xuất khẩu đạt 11 tỷ USD, hàng xuất khẩu chủ yếu là
nguyên liệu thô và hàng công nghiệp ở mức chế biến thấp. Chỉ riêng bốn mặt hàng dầu
thô, gạo, hải sản, và cà phê chiếm 40% kim ngạch xuất khẩu, dệt và may mặc chiếm
20% hàng chế biến và hàng chưa tới 25% kim ngạch xuất khẩu.
Hoạt động buôn bán hàng hóa dịch vụ của nước ta, mức độ giao dịch thấp, cả ở
trong nước và ngoài nước. Về buôn bán đối ngoại, tuy có trao đổi hàng hóa trên 100
quốc gia và khu vực nhưng vẫn chủ yếu là bạn hàng truyền thống. Mạng lưới bạn hàng
trong và ngoài nước của các công ty và doanh nghiệp là rất hẹp, đa số doanh nghiệp
thiếu thông tin về thị trường hàng hóa, bạn hàng nên kinh doanh bị hạn chế.
Thứ tư: Hạ tầng cơ sở chính trị,xã hội cho TMĐT.
Việt Nam là một nước xã hội chủ nghĩa –một hệ thống đối lập với tư bản chủ
nghĩa. Các nước thù địch tìm mọi cách chống phá nước ta. Về mặt chính trị,
khai xây dựng một chiến lược quốc gia về hình thành nền “ kinh tế số hóa” và nền “
TMĐT” ở Việt nam làm định hướng chỉ đạo lâu dài, sau đó thiết lập một chương trình
hành động trước mắt phù hợp với tình hình thực tế ở Việt nam và các thỏa thuận mà
Việt Nam đã cam kết. Trên cơ sở đó, triển khai nhanh việc phổ cập, đào tạo, thử
nghiệm, v v. Trong hai nhánh hoạt động trên đây, nên coi trọng nhánh chuẩn bị môi
trường lâu dài, tránh sa vào các hoạt động “ phô diễn” ít hiệu quả, mà có thể đưa lại các
hiệu quả không mong muốn.
Để làm việc trên, nên thành lập ngay một “ đầu mối quốc gia” về “ kinh tế số
hóa” và “ TMĐT”. Một hội động quốc gia về “TMĐT” gồm đại diện của nhiều Bộ,
ngành và giới có liên quan là một tổ chức cần có để hội tụ được kiến thức và sự nhìn
nhận về nhiều góc cạnh. Vì hội đồng là một tổ chức mang tính tư vắn là chủ yếu, nên
theo kinh nghiệm các nước, sẽ cần tới một ủy ban quốc gia có chức năng và quyền hạn
ra quyết định, chỉ đạo và xử lý giải quyết. Hội đồng và ủy ban sẽ là đầu mối vạch chiến
lược cũng như chương trình hành động trước mắt, đồng thời chỉ đạo thực hiện chiến
lược và chương trình đó; tránh các xu hướng thiếu toàn diện hoặc cho là chưa thể làm
gì với TMĐT. Hoặc ngược lại, tiến hành một cách vội vã, nặng “ phô diễn”, không thu
đươch kết quả mong muốn và đẻ lại hậu quả khó khắc phục sau này, nhất là các hệ quả
an ninh trên bối cảnh của công cuộc vùa xây dựng vừa bảo vệ tổ quốc trong thời kì sau
chiến tranh lạnh.
Trong khi vạch chiến lược “ kinh tế số hóa” và “ TMĐT”, cũng như lập chương
trình hành động và các phương án tham gia TMĐT, Hội đồng quốc gia và Ủy ban quốc
gia về TMĐT sẽ tham khảo chiến lược và chương trình đã có của các nước, đặc biệt là
các nước có trình độ phát triển gần với Việt nam, và tính tới các đặc thù quốc gia để có
cách đi và bước đi thích hợp.
Trong khi thực hiện các bước mang tính cơ bản ấy, vẫn có thể cần nhanh chóng
triển khai các công việc có thể tiến hành như: Truy cập kiến thức, đào tạo, thử nghiệm
v.v, và có quan điểm nhất quán trong việc tham gia và các hoạt động liên quan tới
TMĐT trong khuôn khổ ASEAN, Cộng đồng Pháp ngữ, APEC, WTO
2.2/ Phân tích thực trạng TMĐT trong các doanh nghiệp Việt Nam.
mại triển lãm văn hóa du lịch của các doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh ngiệp và tăng cường
hàng xuất khẩu. Sàn giao dịch này còn là địa chỉ đáng tin cậy cung cấp thông tin cho
doanh nghiệp; tư vấn thị trường, sản phẩm, tìm kiếm đối tác kinh doanh cũng như thông
tin về pháp luật chính sách thương mại quốc tế và Việt Nam với thời gian nhanh nhất và
tiết kiệm chi phí nhất.
Tuy nhiên, số doanh nghiệp như vậy là rất ít, nhìn chung sự tham gia còn mang
tính chất tự phát và cầm chừng, chưa thực sự phát triển. Theo kết quả điều tra sơ bộ do
Bộ thương mại thực hiên mới đây với 6000 doanh nghiệp trên cả nước thì chỉ có
khoảng 7% số doanh nghiệp đã ứng dụng một số khâu của TMĐT, khoảng 3% có ý
định ứng dụng TMĐT ở mức độ khác nhau, và 90% số doanh nghiệp còn lại hiểu biết
mơ hồ hoặc khong hiểu biết gì về TMĐT.
Theo số liệu của Ngân hàng Công thương Việt nam ( incombank) thì cả nước
hiện nay mới chỉ có khoảng 3000 doanh nghiệp có trang Web riêng, 8% bắt đầu nghiên
cứu việc sử dụng mạng internet, 90% vẫn đứng ngoài cuộc.Trong những giao dịch
TMĐT mạng tính thử nghiệm 33,1% số doang nghiệp tham gia là doanh nghiệp vừa và
nhỏ, 54,9% chưa thành công, 58% gặp khó khăn về thiết bị, 37% thiếu nguồn nhân
lực
Còn theo kết quả điều tra do Quỹ phát triển Chương trình Mêkông (MPDF) tiến
hành ở 100 doanh nghiệp vừa và nhỏ có sử dụng mạng Internet thì 48% số doanh
nghiệp chỉ để gửi và nhân thư điện tử, 33% không dùng để hỗ trợ cho công việc kinh
doanh và 50% chỉ khoảng 4 người biết gửi và nhận thư điện tử.
Đánh giá một cách tổng quát, có thể chia các doanh nghiệp Việt nam thành 3
nhóm chính dưới đây:
Nhóm 1: Có tới 90% số doanh nghiệp chưa hề biết và không quan tâm tới
TMĐT , không hiểu biết nội dung, lợi ích và xu thế phát triển tất yếu của nó và cho
rằng ở Việt nam hoàn toàn chưa có điều kiện để áp dụng TMĐT , rằng đó là việc của
các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài và chưa tin vào khả
năng áp dụng TM ĐT của bản thân mình .
Nhóm 2: Có khoảng 3% số doanh nghiệp bắt đầu quan tâm đến TMĐT. Các
địa phương đó để họ giao hàng.
Kết quả hoạt động và một số tồn tại:
Trong 6 tháng đầu năm 1999 siêu thị đã nhận được trên 15000 đơn đặt hàng từ
khắp nơi trên thế giới, trong đó có Mỹ, Pháp, Canada, Australia, Siêu thị đã giả quyết
gần 12000 trường hợp chủ yếu là TP. HCM và các vùng lân cận.
Hiện nay số lượng truy cập vào trang siêu thị điện tử đạt hơn 7.600 lượt/ngày.
Vào dự triển lãm Việt Nam Computer World Expro ‘ 99 (21/4/1999) UASC kết
hợp với một số nhà cung cấp đưa ra một số dịch vụ mới trên siêu thị như: bán sách báo
tạp chí Tin học và đời sống, Bưu chính viễn thông, bán vé máy bay và đặt chỗ cho
Pacific Airlines với mục tiêu ban đầu là tạo ra một cái “ chợ” trên mạng giúp cho các
doanh nghiệp tổ chức các dịch vụ và giới thiệu sản phẩm hàng hóa tạo ra kênh phân
phối trên thị trường.
Cybermall đã thực sự mang lại những hiệu quả thiết thực cả về thương mại và
công nghệ.
Do số lượng nhà cung cấp còn ít, số mặt hàng chưa nhiều nên với các đơn đặt
hàng xa chưa đáp ứng được. Các nhà tổ chức siêu thị hy vọng rằng trong tương lai, khi
các nhà cung cấp trên siêu thị tăng lên, hệ thống đại lý của các nhà cung cấp mở rộng
hơn thì việc khai thác thị trường tiềm năng này sẽ thuận lợi hơn nhiều.
Theo đánh giá của các chuyên gia tin học cũng như các nhà phân tích thị trường
kết quả ban đầu của Việt Nam Cybermall như vậy là khả quan, mặc dù tốc độ tăng
trưởng doanh thu của các nhà cung cấp trên mạng quy mô còn nhỏ, nhưng tốc độ tăng
trưởng doanh thu qua các tháng thì lớn hơn bất kì phân đoạn thị trường nào khác
( khoảng 50%/tháng). Điều này chứng tỏ khả năng phát triển TMĐT ở Việt Nam rất
lớn, nếu như có hình thức khai thác và có chính sách hợp lý.
Khó khăn tồn tại:
Số lượng người Việt Nam sử dụng máy tính và kết nối internet còn quá ít. Trong
khi phương thức thanh toán trực tiếp hiện nay bất tiện cho cả người mua và người bán,
rất dễ xảy ra đặt hàng khống.
Khác với siêu thị điện tử ở nước ngoài hiện nay thanh toán bằng thẻ tín dụng ở
nước ta còn rất ít. Theo VietCombank tháng 12 năm 1999 mới chỉ phát hành được 6000
online trên hệ thống này đạt trên 90%, số liệu cập nhật nhanh, kịp thời đày đủ và chính
xác, chất lượng điều hành, quản lý và trình đọ nghiệp vụ được nâng cao một cách rõ
rệt.Thông qua hệ thống EDI, hãng tàu đã tận dụng và thừa hưởng toàn bộ số liệu khai
thác container của Cảng, tiết kiệm được chi phí, thời gian và nhân lực, nâng cao hiệu
quả khai thác phục vụ công tác điều hành, quản l
2.2.3/ Tác động của TMĐT đến doanh nghiệp Việt Nam.
Tuy TMĐT mới được phát triển ở Việt Nam trong thời gian mới đây nhưng nó
đã có những tác động to lớn và tích cực đến các doanh nghiệp Việt Nam.
- Nắm bắt thông tin nhanh chóng phong phú về kinh tế -thương mại, nhờ đó xây dựng
chiến lược về sản xuất kinh doanh phù hợp với kinh thế thế giới.
- Giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm chi phí văn phòng, không mất nhiều diện tích giấy
tờ tài liệu kinh doanh.
- Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị bằng các phương tiện như Internet/web vì chỉ cần
một nhân viên bán hàng có thể giao dịch với nhiều khác hàng cùng lúc và nhiều nơi
khác nhau trên thế giới.
- Giảm chi phí giao dịch, giao dịch qua các TMĐT nên không tốn thời gian, phương
tiện đi lại do vậy chi phí giảm đáng kể. Đồng thời chi phí giao dịch của TMĐT thấp
hơn rất nhiều so với các dịch vụ khác như Fax hay chuyển phát qua bưu điện.
- Đẩy cao mối quan hệ đối tác kinh tế, nhờ có công nghệ thông tin mà các công ty
doanh nghiệp có thể tìm hiểu rõ bạn hàng cũng như dễ dành trao đổi thông tin.
- Đồng thời giúp doanh nghiệp có thể tiếp cận nhanh với TMĐT, tạo bước nhay vot
trong nền kinh tế số hóa
2.3/ Đánh giá thực trạng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp.
2.3.1/ Những kết quả.
Việt Nam tuy mới có khái niệm TMĐT từ năm 1997 song lại được đánh giá là
nước có triển vọng gia nhập tốc độ cao trong khu vực
Việt Nam đã thỏa thuận về những nguyên tắc chỉ đạo chung trong ASEAN và
chương trình hành động của APEC và WTO về TMĐT. Ta đã tham gia ban điều phối