Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển
của nhân loại. Từ bao đời nay nông nghiệp là ngành sản xuất quan trọng trong nền kinh tế
nhằm đảm bảo nhu cầu cuộc sống của con người. Hiện nay mặc dù con người đã đạt được
trình độ phát triển cao về khoa học kỹ thuật và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học cũng
như nhiều lĩnh vực sản xuất khác nhưng nhiều nước trên thế giới vẫn còn sống dựa vào
hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Việc phát triển nông nghiệp và những vấn đề
liên quan đến nông nghiệp như: Đất đai, giống, vật tư phân bón… là những đề tài được
đông đảo các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở nước ta quan tâm đặc biệt.
Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Trong quá trình
phát triển xã hội, gắn liền với các hoạt động mở rộng sản xuất công nghiệp, dịch vụ… đất
đai không chỉ sử dụng vào trồng trọt, chăn nuôi mà còn sử dụng ngày càng nhiều để phát
triển các ngành nghề khác. Điều đó có nghĩa là trong quá trình phát triển kinh tế gắn liền
với việc chuyển dịch đất đai trong nông nghiệp sang các ngành khác, phản ánh quy luật tất
yếu của chủ trương giảm diện tích đất trong sản xuất nông nghiệp. Điều này phản ánh sự
tiến bộ của xã hội, song đó lại là mối đe dọa cho cuộc sống loài người trong việc sản xuất
ra lương thực, thực phẩm nhằm đảm bảo cho nhu cầu lương thực ngày càng tăng. Đất
đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá và không thể tái tạo được nhưng nếu biết sử dụng
hợp lí thì giá trị của nó sẽ được tăng thêm và mang lại lợi ích ngày càng cao cho nền kinh
tế quốc dân. Vì vậy việc sử dụng và khai thác đất đai hợp lí, tiết kiệm không những có ý
nghĩa về mặt kinh tế, chính trị xã hội mà còn góp phần tạo tiền đề để nâng cao hiệu quả sử
dụng các nguồn lực khác.
Việt Nam là một nước “Trọng nông” lấy nông nghiệp làm ngành sản xuất chủ yếu,
hàng năm tỉ lệ đóng góp của ngành nông nghiệp vào tổng sản phẩm xã hội là khá cao và có
ý nghĩa quan trọng. Vì vậy ruộng đất đóng vai trò hết sức quan trọng, là vấn đề cốt lõi
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
1
Chun đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nơng nghiệp ở xã Cát Trinh
trong mối quan hệ kinh tế. Việt Nam vốn là một nước đơng dân, bình qn diện tích tự
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu chuyên đề là: Thực trạng sử dụng đất nông
nghiệp ở xã Cát Trinh qua 3 năm (2005-2007). Để thực hiện tốt điều đó, trong quá trình
nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thu
thập số liệu, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương
pháp chuyên gia, chuyên khảo… và một số phương pháp khác.
Do điều kiện thời gian ngắn và trình độ năng lực còn hạn chế, kinh nghiệm chưa
nhiều cho nên tôi chỉ dừng lại ở việc tiến hành nghiên cứu chuyên đề này nhằm tìm hiểu
thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định giai
đoạn 2005-2007, từ đó định hướng và đề xuất các giải pháp hợp lí nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng trên địa bàn xã Cát Trinh, huyện
Phù Cát, tỉnh Bình Định. Rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp xây dựng của quí thầy, cô
giáo, của cơ quan đơn vị địa phương nơi tôi thực tập cũng như sự giúp đỡ của bạn bè để
chuyên đề tốt nghiệp này được hoàn thiện hơn, bản thân tôi xin chân thành tỏ lòng biết ơn
sâu sắc.
PHẦN II
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
3
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Khái niệm về đất, đất nông nghiệp và độ phì của đất:
- Khái niệm: Đất đai là tài nguyên vô cùng quí giá của mọi quốc gia, là tư liệu sản
xuất chủ yếu và đặc biệt của sản xuất nông nghiệp, là một trong những yếu tố quan trọng
nhất của môi trường sống và là địa bàn phân bố dân cư.
Đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành như
trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản hoặc sử dụng để nghiên cứu thí nghiệm về
nông nghiệp. Ngoài tên gọi đất nông nghiệp, đất sử dụng vào nông nghiệp còn được gọi là
trồng tạm thời chưa sử dụng được. Trong độ phì nhiêu tự nhiên có một phần tác dụng ngay
đến cây trồng, có một phần vì nhiều lí do khác nhau mà chưa ảnh hưởng trực tiếp đến cây
trồng.
+ Độ phì nhiêu kinh tế: Độ phì nhiêu kinh tế là độ phì nhiêu mang lại lợi ích kinh
tế cụ thể. Đây là cơ sở để đánh giá tính kinh tế của đất. Các nhân tố ảnh hưởng đến độ phì
nhiêu kinh tế: Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật, của công nghệ và phương thức
canh tác…
Khai thác độ phì nhiêu của đất là mục tiêu cơ bản trong quá trình sử dụng đất.
Người ta dựa vào độ phì nhiêu của đất để phân loại đất, định hạng đất giúp cho con người
sử dụng đất một cách có hiệu quả cả về mặt diện tích bề mặt và khai thác tiềm năng. Hiệu
quả đó được thể hiện ở việc sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm trên một đợn vị diện tích
đất đai với chi phí thấp nhất. Đồng thời, hiệu quả đó còn phải đảm bảo cải tạo, bồi dưỡng,
nâng cao độ phì của đất. Để làm được việc này, cần phải:
- Ưu tiên đất tốt, có độ phì nhiêu cao cho sản xuất nông nghiệp. Diện tích đất canh
tác được và có khả năng canh tác được trên toàn thế giới và ở Việt Nam rất có hạn. Vì vậy
chúng ta phải quy hoạch cho việc sử dụng tổng thể toàn diện tích đất đai trên phạm vi toàn
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
5
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
quốc và từng vùng, từng địa phương nhằm sử dụng tiết kiệm đất đai và tránh sử dụng sai
mục đích, lãng phí.
- Thực hiện chế độ canh tác hợp lí, bố trí cây trồng thích hợp với từng loại đất.
Đồng thời coi trọng việc thâm canh, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để
khai thác triệt để tiềm năng của đất, bảo vệ, cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu của đất.
- Ở những vùng đất đai có độ phì nhiêu cao nhưng xa trục lộ giao thông, đô thị, điều
kiện giao thông khó khăn thì cần phải đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng môi trường
kinh tế xã hội thích hợp với vùng khai phá.
- Luôn chú ý khai thác độ phì nhiêu gắn liền với bảo vệ môi trường.
1.1.2 Vai trò và đặc điểm của đất trong sản xuất nông nghiệp:
1.1.2.1. Vai trò: Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề đầu tiên của quá trình sản xuất.
vững lâu dài nguồn tài nguyên quý giá này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, đặc biệt cần
phải làm thế nào để sử dụng nguồn tài nguyên này sao cho có hiệu quả cao nhất là nhiệm
vụ của con người chúng ta.
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, một trong những yếu tố cơ bản là sử dụng đất
đai hợp lí và có hiệu quả. Chúng ta không ngừng tìm các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử
dụng đất trong nông nghiệp, bỡi vì quá trình kinh doanh nông nghiệp biểu hiện sự tác động
của con người lên ruộng đất. Ngược lại, việc sử dụng đất đai không hợp lí có thể làm giảm
hoặc mất đi vai trò ý nghĩa của lao động và các tư liệu sản xuất khác. Việc nâng cao chất
lượng ruộng đất có nghĩa là nâng cao tính hiệu quả của sản xuất nông nghiệp.
Trong nông nghiệp, đặc biệt là trong ngành trồng trọt, đất đai có vị trí hết sức quan
trọng. Ở đây, đất đai không chỉ là chỗ đứng, chỗ dựa của lao động như ở các ngành khác
mà còn cung cấp thức ăn cho cây trồng và thông qua sự phát triển của trồng trọt tạo điều
kiện cho ngành chăn nuôi phát triển. Với ý nghĩa đó, trong nông nghiệp đất đai (hay ruộng
đất) là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt, là cơ sở tự nhiên sản sinh ra của cải vật chất
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
7
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
cho xã hội. Đúng như Uyliam petis đã nói: “ Lao động là cha, đất là mẹ của mọi của cải
vật chất”.
1.1.2.2. Đặc điểm: Khác với các tư liệu sản xuất khác, ruộng đất - tư liệu sản xuất
chủ yếu trong nông nghiệp có những đặc điểm sau:
- Ruộng đất vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động.
Đất đai vốn là sản phẩm của tự nhiên, chỉ từ khi con người tiến hành khai phá đưa
đất hoang hóa vào sử dụng để tạo ra sản phẩm cho con người thì ruộng đất đã kết tinh lao
động con người và đồng thời trở thành sản phẩm của lao động. Đặc điểm này đặt ra trong
quá trình sử dụng, con người phải không ngừng cải tạo và bồi dưỡng ruộng đất, làm cho
đất ngày càng màu mỡ hơn.
- Ruộng đất bị giới hạn về mặt không gian, nhưng sức sản xuất của ruộng đất
là không có giới hạn.
Số lượng diện tích đất đai đưa vào sử dụng canh tác bị giới hạn bởi không gian nhất
bồi dưỡng đất, không ngừng nâng dần độ đồng đều của ruộng đất ở từng cánh đồng, từng
khu vực để đạt năng suất cây trồng cao.
- Ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu không bị hao mòn và đào thải khỏi quá
trình sản xuất, nếu sử dụng hợp lý thì ruộng đất có chất lượng ngày càng tốt hơn.
Các tư liệu sản xuất khác sau một thời gian sử dụng đều bị hao mòn hữu hình hoặc
hao mòn vô hình, cuối cùng sẽ bị đào thải khỏi quá trình sản xuất và thay thế bằng tư liệu
sản xuất mới, chất lượng cao hơn, giá rẻ hơn. Còn ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu
không bị hao mòn, nếu sử dụng hợp lý, chất lượng ruộng đất ngày càng tốt hơn, sức sản
xuất của ruộng đất lớn hơn, cho nhiều sản phẩm hơn trên một đơn vị diện tích canh tác. Dĩ
nhiên việc sử dụng ruộng đất có đúng đắn hay không là tùy thuộc vào chính sách ruộng đất
của nhà nước và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, tùy thuộc vào trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học - công nghệ của từng giai đoạn phát triển nhất định.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
9
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
Từ những đặc điểm trên chúng ta càng thấy rõ vai trò quan trọng và có tính chất
quyết định đến sản xuất nông nghiệp của đất đai. Nắm chắc được chất lượng đất, đầu tư
thâm canh cải tạo đất, sử dụng hợp lý tài nguyên đất nhằm tăng năng suất cây trồng là điều
kiện để giữ gìn, bảo vệ và phát triển quĩ đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp như hôm nay.
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả sử dụng đất:
- Tỉ lệ % sử dụng đất: Là tỉ lệ % giữa quĩ đất đã sử dụng so với tổng diện tích đất tự
nhiên (%).
- Hệ số sử dụng ruộng đất: Chỉ tiêu này phản ánh cường độ sử dụng đất canh tác
(lần). Hệ số sử dụng ruộng đất = Tổng diện tích gieo trồng/ Tổng diện tích canh tác (lần).
- Năng suất cây trồng (Nci): Là lượng sản phẩm chính của loại cây trồng tính trên
một hecta đất của loại cây trồng đó. Trong một vụ hay một năm chỉ tiêu này phản ánh trình
độ sản xuất của hộ, của địa phương hay của toàn ngành.
GOi
Nci = (Kg/ha)
Si
- Bình quân diện tích đất nông nghiệp / Lao động = Tổng diện tích đất nông
nghiệp / Tổng số lao động (m
2
/lao động).
- Bình quân diện tích đất canh tác / Lao động = Tổng diện tích đất nông nghiệp canh
tác / Tổng số lao động (m
2
/lao động).
- Lợi nhuận tính trên đơn vị diện tích đất nông nghiệp, đất canh tác.
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một số chỉ tiêu hiệu quả khác như: GO/VA; GO/IC;
VA/IC…
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhưng xem xét
trên bình diện chung chúng chịu ảnh hưởng của các nhóm nhân tố sau:
1.1.4.1 Nhân tố tự nhiên:
Các nhân tố tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn tới năng suất và sản lượng cây trồng bởi
vì nhóm yếu tố này có tác động trực tiếp và liên tục trong suốt quá trình sinh trưởng và
phát triển của cây trồng.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
11
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
Khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian cần chú ý đến việc thích ứng với các
điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất như
nhiệt độ, ánh sáng, không khí, lượng mưa, chế độ gió và các khoáng sản dưới lòng đất.
Trong các nhân tố này thì điều kiện khí hậu thời tiết là nhân tố hạn chế hàng đầu của việc
sử dụng đất, sau đó là điều kiện đất đai mà chủ yếu là địa hình thổ nhưỡng và các nhân tố
khác.
Thời tiết - khí hậu: Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống nên
chúng chịu tác động rất lớn của điều kiện thời tiết, khí hậu. Nếu khí hậu, thời tiết thuận lợi
sẽ tạo điều kiện thích hợp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, nhờ đó mà năng suất
tính khả thi về kinh tế, kỹ thuật và mức độ áp dụng khoa học kỹ thuật và quyết định bỡi
nhu cầu của thị trường.
Các chính sách của Nhà Nước đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của các nông hộ. Trong thời gian qua đã có những chính sách của Nhà
nước có tác động mạnh đến sản xuất nông nghiệp như: Chính sách đất đai, chính sách đầu
tư, tín dụng, chính sách đổi mới hoạt động của các Hợp Tác Xã nông nghiệp…Với các
chính sách đưa ra Nhà nước đã thúc đẩy sự phát triển của kinh tế nông nghiệp, nông thôn,
đồng thời đây cũng là nhân tố cần thiết để đảm bảo an toàn lương thực và phát triển xã hội.
Biểu hiện của nhân tố kinh tế là mức đầu tư vật chất cho sản xuất nông nghiệp. Đây
là chi phí vật chất trực tiếp trong quá trình sản xuất, nó có thể coi là yếu tố quan trọng nhất
ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng. Việc đầu tư hợp lí sẽ cho năng suất cây
trồng cao và ngược lại, nếu đầu tư không hợp lí và không đúng quy trình sẽ làm cho năng
suất cây trồng giảm và hiệu quả sản xuất cũng giảm. Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến
hiệu quả sản xuất nông nghiệp bao gồm: Giống, vật tư phân bón, bảo vệ thực vật, thủy
lợi…
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
13
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
- Giống: Là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp có tính quyết định đến năng suất và chất
lượng sản phẩm. Giống quy định năng suất, tiềm năng tối đa mà cây trồng có thể đạt được.
Mặt khác các giống khác nhau đòi hỏi quy trình sản xuất khác nhau, do đó đòi hỏi các nhà
sản xuất phải lựa chọn giống phù hợp với điều kiện sản xuất của vùng, của đơn vị sản xuất.
- Phân bón: Là yếu tố tác động trực tiếp đến năng suất và chất lượng sản phẩm,
phẩm chất cây trồng. Để tăng năng suất và sản lượng cây trồng thì việc bón phân đầy đủ,
cân đối giữa các loại phân với nhau, đảm bảo bón đúng thời gian, bón phân hợp lý sẽ cung
cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cây trồng vào các thời kỳ sinh trưởng và phát triển khác
nhau, đồng thời góp phần cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu của đất.
- Bảo vệ thực vật: Sâu bệnh gây hại cây trồng luôn là vấn đề rất khó giải quyết của
các nông hộ. Sâu bệnh làm cho cây trồng chậm phát triển, năng suất và phẩm chất, chất
lượng sản phẩm kém. Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, nên đây
và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
1.1.4.4 Phương thức canh tác:
Đây là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và sản lượng, chất lượng cây
trồng, vật nuôi. Phương thức canh tác bao gồm các biện pháp kỹ thuật canh tác, những tác
động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu
tố của quá trình sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh đó tập quán canh tác cũng
ảnh hưởng đến việc lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chuẩn bị loại cây trồng để có
một phương hướng canh tác khác nhau, đòi hỏi cần nắm vững các yêu cầu về biện pháp kỹ
thuật canh tác thì mới có hiệu quả đồng thời loại bỏ những phương thức, tập quán canh tác
lạc hậu không phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế thấp, có thể gây ảnh hưởng xấu cho đất.
Vì vậy việc đổi mới phương thức canh tác, tăng cường công tác khuyến nông giúp cho
người dân thấy được tầm quan trọng của việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất là một việc làm hết sức cần thiết.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
15
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cát Trinh
1.1.4.5 Nhân tố thị trường:
Thị trường là một nhân tố vô cùng quan trọng của mọi ngành sản xuất kinh doanh.
Hiện nay cả thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiệp ngày càng được mở
rộng và có tác động to lớn đến phát triển sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên phần lớn vẫn còn
mang tính chất tự phát, thiếu tính định hướng, ngẫu nhiên và thiếu sự vận hành đồng bộ.
Điều này đã gây ra không ít những khó khăn, trở ngại, bất lợi cho nông dân và các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp. Trên thị trường nhân tố giá có sự
ảnh hưởng rất lớn đến quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của các nông hộ. Trên cơ
sở giá cả và nhiều yếu tố khác người nông dân sẽ quyết định sản xuất loại cây gì, chăn nuôi
con gì với mức đầu tư cho sản xuất như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất.
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Chủ trương đường lối về ruộng đất của Đảng và Pháp luật ruộng đất
của Nhà nước ta qua các thời kỳ:
Ngày 08/01/1988 Hội Đồng Nhà Nước đã công bố Luật Đất Đai đầu tiên được
huyện Phù Cát, cho nên công tác khai thác và sử dụng đất đai trên đòa bàn huyện được
thuận lợi hơn. Hộ gia đình, cá nhân, tổ chức được giao đất đã sử dụng các quyền và
thực hiện nghóa vụ của người sử dụng đất đúng theo quy đònh của pháp luật, thực sự
Luật Đất Đai đã đi vào cuộc sống, được nhân dân đặc biệt quan tâm góp phần hạn
chế việc tranh chấp, lấn chiếm đất đai, sản xuất được thuận lợi hơn. Các văn bản pháp
lý đất đai ngày càng hoàn thiện hơn, giúp công tác tun truyền về sử dụng đất đúng
mục đích ngày càng được chặt chẽ và đi sát thực tế hơn.
Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật đất đai và những văn bản có liên quan
được chú trọng và đi vào chiều sâu, bằng nhiều hình thức thích hợp; nhất là các quyền
và nghóa vụ của người sử dụng đất, trình tự, thủ tục thực hiện các quyền và nghóa vụ
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
17
Chun đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nơng nghiệp ở xã Cát Trinh
đó… cho cán bộ, công chức và nhân dân trong huyện hiểu đúng nội dung tinh thần của
Luật để nghiêm chỉnh chấp hành.
Trong những năm qua huyện Phù Cát đã đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, áp dụng đúng các quy đònh của pháp luật về đất đai khi xem xét
công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất, xác đònh nghóa vụ tài
chính của người sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Giải quyết tốt cơ chế “một cửa” đã tiếp nhận và giao trả kết quả đúng thời gian
tránh làm mất thời gian đi lại của nhân dân, làm tốt công tác bồi thường, hỗ trợ và tái
đònh cư khi thu hồi đất, việc thu hồi đất để quy hoạch xây dựng công trình… đã được
công khai hoá toàn bộ quá trình thực hiện, đảm bảo công bằng giữa các đối tượng có
điều kiện tương tự, việc đền bù giá đất đúng nguyên tắc quy đònh tại Điều 56 Luật đất
đai.
Năm 1995 huyện Phù Cát lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, xây dựng
những chỉ tiêu chủ yếu để làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất cấp xã, đã được UBND
tỉnh Bình Định phê duyệt. Hàng năm huyện có điều chỉnh bổ sung một số chỉ tiêu sử dụng
đất đai cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Nhưng nhìn chung cơng tác khai thác và sử
dụng đất của huyện đến năm 2010 chủ yếu cho ngành nơng nghiệp, các ngành khác như:
55’- 109
0
15’16” kinh độ Đông.
+ Từ 13
0
54’- 14
0
12’32” vó độ Bắc.
Đòa giới hành chính được giới hạn như sau:
+ Phía Bắc giáp xã Cát Hanh và xã Cát Tài.
+ Phía Tây giáp xã Cát Hiệp.
+ Phía Nam giáp với xã Cát Tân và thò trấn Ngô Mây.
+ Phía Đông giáp với xã Cát Tường.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
19
Chun đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nơng nghiệp ở xã Cát Trinh
Dân số trong xã năm 2007 là 13.253 người, chiếm tỷ
lệ so với toàn huyện là 7%. Mật độ dân số bình quân chung
toàn xã là 279 người/km
2
.
Với vò trí tương đối thuận lợi là cầu nối giữa các xã,
có tuyến quốc lộ 1A, đường sắt Bắc-Nam chạy qua, tỉnh lộ
635 thông suốt từ Thò trấn Ngô Mây đến xã biển Cát Tiến,
hiện nay đã và đang hình thành tuyến đường vành đai Bắc-
Nam và bến xe trung tâm Phù Cát nằm trên đòa bàn xã. Đây
là một thế mạnh của vùng so với các xã lân cận, tạo
điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư, trao đổi hàng hoá nông
sản phẩm, vò thế của xã gần trung tâm huyện nên việc đi
lại của nhân dân thuận tiện hơn. Bên cạnh thế mạnh về
Đất đồi núi diện tích 1331.17 ha chiếm 28% tập trung chủ yếu ở thôn Phú Kim,
Phú Nhơn, An Đức.
Đất đỏ vàng diện tích 665.55 ha chiếm 14% tập trung chủ yếu ở thôn An Đức,
Phong An.
Đất thòt diện tích 1449,58 ha chiếm 30,48% phân bố đều ở các thôn.
Nước ngầm: Do địa hình có nhiều núi, nhiều khe suối cho nên lượng nước ngầm rất
phong phú, độ chênh mặt nước giếng đào đến mặt đất thường từ 4-5 m theo địa hình. Tài
nguyên nước thì rất hạn chế nhưng mạch nước ngầm thì rất phong phú
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
21
Chun đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nơng nghiệp ở xã Cát Trinh
Tài nguyên rừng: Diện tích đất lâm nghiệp của xã Cát Trinh là 458.28 ha, chiếm
9,64 % diện tích đất tự nhiên của xã. Trong những năm qua xã đã tăng cường trồng rừng và
bảo vệ diện tích rừng thơng qua các dự án PAM, 327, WB3.
* Khí hậu, thời tiết:
Xã Cát Trinh là một vùng chòu nhiều ảnh hưởng của
khí hậu, một năm được chia thành hai mùa rõ rệt.
+ Mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 9.
+ Mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 12.
- Nhiệt độ
Theo số liệu của trạm khí tượng thành phố Quy Nhơn, nhiệt
độ trung bình hàng năm là 25
0
C.
+ Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là
tháng 5, khoảng 37,5
0
C.
+ Tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng
12, khoảng 18-20.
khoảng 59mm.
- Độ ẩm khí hậu:
+ Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 75%.
+ Độ ẩm tương đối trung bình tháng cao nhất là 85%
(tháng11).
+ Độ ẩm tương đối trung bình tháng thấp nhất là 65%
(tháng 7).
- Gió:
- Gió Đông Bắc từ tháng 11 năm trước sang tháng 1
năm sau (gió mùa Đông Bắc, gió Nam- Tây Nam từ tháng 4
đến tháng 6).
- Gió Tây- Tây Nam từ tháng 7 đến tháng 8 (gió Lào).
- Tháng 9 và tháng 10 hay xuất hiện có bão lớn làm
thiệt hại nông nghiệp, nhà cửa nhân dân.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
23
Chun đề tốt nghiệp: Thực trạng sử dụng đất nơng nghiệp ở xã Cát Trinh
* Hệ thống thủy văn:
Thuỷ văn khu vực chủ yếu là lượng nước mặt tập trung vào mùa mưa, chảy
theo đòa hình tự nhiên từ Tây sang Đông rồi thoát ra các suối nhỏ. Trên đòa bàn xã có
một hồ chứa nước Suối Chay cung cấp nước tưới cho 2 xã Cát Trinh và Cát Tân, trong
năm 2006 đã tiến hành khảo sát thiết kế kênh mương cấp 1 với chiều dài 6 km nhằm
cung cấp nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp trong thời gian đến. Độ ẩm cũng
như lương mưa là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Song hàng năm có
xuất hiện bão từ cuối tháng 8 đến tháng 10 đã ảnh hưởng lớn đến mùa màng và tài
sản của nhân dân, vùng đồi gò của xã chiếm diện tích lớn nhưng đất xấu, thiếu nguồn
nước, dân cư thưa thớt là những hạn chế trong việc phát triển kinh tế-xã hội.
1.3.3 Điều kiện Kinh tế - Xã hội:
Được sự lãnh đạo của BCH Đảng bộ xã Cát Trinh, sự quản lý điều hành của
UBND xã, sự phối hợp cùng với Mặt trận và các đoàn thể của xã, trong những năm
đất ở cho nhân dân và đất xây dựng các cơng trình cơng cộng, các mục đích khác…Qua 3
năm đất phi nơng nghiệp đều tăng lên, đặc biệt trong năm 2006 xã Cát Trinh chuyển mục
đích sử dụng đất từ đất nơng nghiệp sang đất phi nơng nghiệp rất lớn vì năm này là năm
triển khai xây dựng bến Xe trung tâm Phù Cát và đường vành đai Bắc- Nam nằm trên địa
phận của xã nên diện tích đất phi nơng nghiệp tăng lên đáng kể (152,51 ha). Đến năm 2007
đã tăng lên 34,04 % so với năm 2005.
Quĩ đất chưa sử dụng của xã qua hàng năm đều giảm, chứng tỏ rằng đây là một tín
hiệu vui của xã trong q trình khai thác và sử dụng đất đai ngày càng hợp lí và có hiệu
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Phước
25