BÀI TIỂU LUẬN TÌNH HÌNH sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP tại xã cát TRINH HUYỆN PHÚ cát TỈNH BÌNH ĐỊNH - Pdf 35

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
*********************

\

BÀI TIỂU LUẬN

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI XÃ CÁT
TRINH, HUYỆN PHÚ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
(2003-2007)
Sinh viên thực hiện

: Hoàng Tuấn Anh

Mã sinh viên

: DC00204401

Lớp

: ĐH2QĐ4

Giảng viên hướng dẫn : Đào Mạnh Hồng

Hà Nội, 2013


GIỚI THIỆU CHUNG
1.VỊ TRÍ ĐỊA LÝ :

sang Đông rồi thoát ra các suối nhỏ. Đòa hình tương đối thuận lợi cho việc quy hoạch,
bố trí dân cư, ổn đònh đời sống và phát triển kinh tế- xã hội.
- Đất Đai:
Theo tài liệu điều tra của Hội Khoa Học đất Việt Nam năm 1997, trên đòa bàn xã
có 5 nhóm đất chủ yếu như sau:
Đất cát - cát pha diện tích 523.4 ha chiếm 11.01% tập trung chủ yếu ở phía tây
của xã, đất có kết cấu rời rạc, thành phần dinh dưỡng nghèo.
Đất xám bạc màu diện tích 785.3 ha chiếm 16.51% tập trung chủ yếu ở phía
đông quốc lộ 1A nằm rải rác ở các thôn.
Đất đồi núi diện tích 1331.17 ha chiếm 28% tập trung chủ yếu ở thôn Phú Kim,
Phú Nhơn, An Đức.
Đất đỏ vàng diện tích 665.55 ha chiếm 14% tập trung chủ yếu ở thôn An Đức,
Phong An.
Đất thòt diện tích 1449,58 ha chiếm 30,48% phân bố đều ở các thôn.
Nước ngầm: Do địa hình có nhiều núi, nhiều khe suối cho nên lượng nước ngầm
rất phong phú, độ chênh mặt nước giếng đào đến mặt đất thường từ 4-5 m theo địa
hình. Tài nguyên nước thì rất hạn chế nhưng mạch nước ngầm thì rất phong phú
Tài nguyên rừng: Diện tích đất lâm nghiệp của xã Cát Trinh là 458.28 ha, chiếm 9,64 % diện
tích đất tự nhiên của xã.
* Khí hậu, thời tiết:
Xã Cát Trinh là một vùng chòu nhiều ảnh hưởng của khí
hậu, một năm được chia thành hai mùa rõ rệt.
+ Mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 9.


+ Mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 12.
- Nhiệt độ
Theo số liệu của trạm khí tượng thành phố Quy Nhơn, nhiệt
độ trung bình hàng năm là 250C.
+ Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là

+ Độ ẩm tương đối trung bình tháng thấp nhất là 65%
(tháng 7).
- Gió:
- Gió Đông Bắc từ tháng 11 năm trước sang tháng 1
năm sau (gió mùa Đông Bắc, gió Nam- Tây Nam từ tháng 4
đến tháng 6).
- Gió Tây- Tây Nam từ tháng 7 đến tháng 8 (gió Lào).
- Tháng 9 và tháng 10 hay xuất hiện có bão lớn làm
thiệt hại nông nghiệp, nhà cửa nhân dân.
* Hệ thống thủy văn:
Thuỷ văn khu vực chủ yếu là lượng nước mặt tập trung vào mùa mưa, chảy theo
đòa hình tự nhiên từ Tây sang Đông rồi thoát ra các suối nhỏ. Trên đòa bàn xã có một
hồ chứa nước Suối Chay cung cấp nước tưới cho 2 xã Cát Trinh và Cát Tân, trong năm
2006 đã tiến hành khảo sát thiết kế kênh mương cấp 1 với chiều dài 6 km nhằm cung
cấp nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp trong thời gian đến. Độ ẩm cũng như
lương mưa là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Song hàng năm có xuất
hiện bão từ cuối tháng 8 đến tháng 10 đã ảnh hưởng lớn đến mùa màng và tài sản của
nhân dân, vùng đồi gò của xã chiếm diện tích lớn nhưng đất xấu, thiếu nguồn nước,
dân cư thưa thớt là những hạn chế trong việc phát triển kinh tế-xã hội.


TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT CỦA XÃ CÁT TRINH GIAI ĐOẠN 2005 - 2007.
1. Quy mô, cơ cấu các loại đất trên địa bàn xã Cát Trinh:

Quy mô cơ cấu đất đai là sự biến động đất đai của mỗi địa phương là không giống
nhau. Vì vậy để thực hiện tốt công tác quản lí và sử dụng đất đai cần phải thường xuyên
đánh giá tình hình biến động đất đai trên địa bàn.
- Về Đất nông nghiệp:
Cát Trinh là một xã đồng bằng có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu. Đất nông nghiệp
chiếm tỷ lệ cao so với các loại đất khác. Năm 2005 diện tích đất nông nghiệp của xã là

- Đất rừng sản xuất
- Đất rừng phòng hộ
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản
1.4 Đất NN khác
II. Đất phi NN
2.1 Đất ở
2.2 Đất chuyên dùng
2.3 Đất phi NN khác
III. Đất chưa sử dụng
3.1 Đất bằng chưa sử dụng
3.2 Đất đồi núi chưa sử
dụng

DT
(ha)

2006
%

4755
2671.28
2213
1284.76
928.24
458.28
0.0
458.28
0
0
519.89


10.93
12.12
37.77
50.11
32.90
14.87

4755
2678.43
2220.15
1291.91
928.24
458.28
0.0
458.28
0
0
672.40
68.70
343.2
260.5
1404.17
72.80

85.13

1331.37

DT

696.88
79.25
357.13
260.5
1403.85
72.48

94.81

1331.37

94.83

14.66
11.37
51.25
37.38
29.52
5.17

(+;-)

%

100
-17.01
99.36
-17.01
99.23
-17.01

nhằm tìm kiếm địa bàn thuận lợi cho việc kinh doanh, dịch vụ nên nhu cầu đất ở của xã
tăng cao đột ngột. Năm 2007 diện tích đất ở là 79,25 ha, chiếm 11,37 % so với quĩ đất phi
nông nghiệp. So với năm 2005 tăng 16,25 ha với mức tăng là 25,79 %, điều này cho thấy
nhu cầu đất ở không những chỉ giải quyết được cho nhân dân trong xã mà còn cả nhân
dân ở các vùng lân cận.
- Về đất chuyên dùng:
Loại đất này chiếm tỉ lệ rất cao trong tổng diện tích đất tự nhiên của xã, trong năm
2007 là 357,13 ha, xu hướng ngày một tăng lên, năm 2005 là 196,39 ha. Qua 3 năm địa
phương đã tích cực tuyên truyền vận động nhân dân khai thác loại đất này đưa vào mục
đích sử dụng. Đây là một thế mạnh của xã nhằm khai thác tiềm năng đất đai mà thiên
nhiên đã ban tặng cho địa phương.
- Về đất chưa sử dụng:
Ở xã Cát Trinh loại đất này chiếm tỉ lệ rất lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên của xã.
Năm 2005 là 1563,83 ha chiếm 32,90 % đến năm 2007 diện tích đất này là 1403,85 ha
chiếm 29,52 % tổng diện tích đất tự nhiên, qua 3 năm đã giảm đi được 159,98 ha. Điều
này chứng tỏ rằng lãnh đạo xã đã có những chủ trương đúng đắn khi khai thác nguồn tài
nguyên đất đai vốn có hạn này đưa vào sử dụng, việc khai thác chủ yếu diễn ra ở loại đất
bằng chưa sử dụng, còn đất đồi núi chưa sử dụng thì chưa khai thác được trong thời gian
qua.
a) Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của xã Cát Trinh, huyện Phú Cát, tỉnh Bình Định
* Biến động đất sản xuất nông nghiệp của xã Cát Trinh qua 3 năm: (2005 2007):
Cát Trinh là một xã đồng bằng của huyện Phù Cát nên tỉ lệ đất nông nghiệp là khá cao
so với các loại đất khác (chiếm 55,82% so với tổng diện tích tự nhiên toàn xã năm 2007).
Loại đất nông nghiệp này đến nay hầu như đã được giao và cho thuê để sử dụng vào mục
đích sản xuất nông nghiệp.
Tình hình biến động đất sản xuất nông nghiệp được thể hiện ở bảng 6.
Qua bảng số liệu ta thấy được đất nông nghiệp của xã Cát Trinh ngày một giảm đi và
được sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp như đất ở, đất xây dựng cơ bản, đất giao
thông, thủy lợi… Nguyên nhân tình trạng này là do sự phát triển của nền kinh tế xã nhà,
do yêu cầu của quy hoạch sử dụng đất hàng năm phải chuyển mục đích sử dụng cho sự

100
56.33
82.89
58.19

DT
(ha)
4755
2654.27
2195.99
1267.75

100
55.82
82.73
57.73

698.40

54.06

689.10

54.36

45.87

593.51

45.94

47.91

-8.96

98.02

+ Đất trồng cây ăn
quả

474.54

51.12

479.38

51.63

483.50

52.09

+8.96

101.8
9

Chỉ tiêu
Tổng DTTN
I. Đất nông nghiệp
1.1 Đất sản xuất NN

17.01
-6.3
99.09
10.71

98.18

_
100

* Nguồn : (Ban Địa Chính xã Cát Trinh)
Trong cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp thì chủ yếu là đất trồng cây hàng năm. Năm
2005 là 1284,76 ha chiếm 58,05 % trong tổng diện tích đất nông nghiệp, năm 2006 là
1291,91 ha, chiếm 58,19 % diện tích đất nông nghiệp và năm 2007 là 1267,75 ha chiếm
57,73 % diện tích đất nông nghiệp, như vậy đất trồng cây hàng năm có xu hướng giảm
dần về diện tích. Trong đó đất lúa, đất màu giảm 6,3 ha (từ năm 2005 là 695,4 ha đến
2007 còn lại là 689,1 ha), đất trồng cây hàng năm khác giảm 10,71 ha, (năm 2005 là
589,36 ha và năm 2007 là 578,65 ha) . Trong cơ cấu đất trồng cây hàng năm thì đất lúa,
đất màu là 689,1 ha trong năm 2007 chiếm 54,36 % trong tổng diện tích trồng cây hàng
năm, số diện tích này bị giảm đi so với năm 2005 tương ứng với 0,91 %. Đất trồng cây
hàng năm khác là 578,65 ha năm 2007, chiếm 45,64 % trong tổng diện tích đất trồng cây
hàng năm. Nguyên nhân giảm là do những năm gần đây xã Cát Trinh có chủ trương lớn về
xây dựng cơ bản, hoàn thành giải phóng mặt bằng tuyến đường vành đai Bắc-Nam đi qua


địa bàn xã nên xã đã chuyển một số diện tích đất sản xuất nông nghiệp sang đất ở và đất
làm giao thông…nên tổng diện tích đất nông nghiệp đã có sự biến động nhất định.
Trong khi đó đất trồng cây lâu năm chủ yếu nằm rải rác ở các thôn xa khu trung
tâm xã như các thôn Phú Nhơn, An Đức nên không nằm trong số diện tích đất chuyển
sang đất phi nông nghiệp, vì thế mà đất trồng cây lâu năm không có sự biến động. S ự

26.51

Cây mè
Cây lạc
Cây sắn

90
200
446

08
30
250

2006

2007

SL
(tấn)

DT
(ha)

NS
(tạ/ha)

SL
(tấn)


210
446

So sánh
DT(%)

NS
(tạ/ha
)
35.25

SL
(tấn)

2007/2005

3668

104.23

08
30
241

16
630
10748

22,22
105

trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích.
Cây mè là cây trồng ít được nông dân sản xuất bỡi vì điều kiện thời tiết nắng hạn
kéo dài và khi mưa xuống thì ngập úng nên năng suất, sản lượng cây mè không cao. Nhân
dân sản xuất chủ yếu ở những chân đất cát bạc màu nên hiệu quả kinh tế rất thấp.
Năng suất và sản lượng là những chỉ tiêu để đánh giá kết quả sản xuất trồng trọt.
Xã Cát Trinh trong những năm qua mặc dù diện tích một số loại cây trồng có sự biến động
khác nhau nhưng năng suất của các loại cây trồng vẫn không ngừng tăng lên, đó là do
người dân đã biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào trong sản xuất
góp phần tăng năng suất và sản lượng cây trồng.

b) Tình hình sử dụng đất lâm nghiệp của xã Cát Trinh
Xã Cát Trinh là một xã đồng bằng nằm gần trung tâm huyện Phù Cát, cư dân sống
chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp, các ngành nghề truyền thống của địa phương, sản


xuất tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Chính vì vậy mà kinh tế lâm nghiệp của
xã chưa được phát triển. Vốn là xã đồng bằng nên đất dành cho lâm nghiệp của xã không
nhiều, chỉ có 458,28 ha chiếm 17,16 % so với đất nông nghiệp và chiếm 9,64 % trong tổng
diện tích tự nhiên của xã. Trong 3 năm qua số diện tích này là không thay đổi, đây chủ yếu
là diện tích đất rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn trong lòng hồ chứa nước Suối Chay cho
nên chính quyền địa phương không thể chuyển đổi diện tích này sang trồng rừng sản xuất
được. Chính quyền địa phương rất coi trọng công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật
cho người dân trong việc nghiêm cấm khai thác chặt phá rừng bừa bãi, trái phép nhất là
đây lại là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn. Coi trọng công tác phòng chống cháy rừng,
trong những năm qua xã đã tiến hành giao đất rừng cho người dân chăm sóc và quản lý.
Chính vì vậy mà trong 3 năm qua đất lâm nghiệp của xã không có biến động gì về mặt
diện tích.
Trong những năm tới xã có chủ trương thực hiện dự án trồng rừng WB3 với kế
hoạch đặt ra là 80 ha nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái,
tận dụng quỹ đất chưa sử dụng còn rất lớn của xã trong nhiều năm nay chưa khai thác

(ha)
4755
2678.43

2213

82.84

458.28

So sánh
2007/2005

2007
(%)

(+;-)

%

100
56.33

DT
(ha)
4755
2654.27

100
55.82


_

_

_

_

_

_

_

_

_

458.28

100

458.28

100

458.28

100

chưa cao và không được đồng đều, một số diện tích đất vẫn còn bạc màu do thiếu đầu
tư.
Trình độ hiểu biết và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ còn hạn
chế, tính bảo thủ của người dân vẫn còn cao, hệ số sử dụng ruộng đất vẫn còn thấp, năng
suất cây trồng chưa cao. Công tác khuyến nông chưa được thường xuyên, liên tục. Việc tổ
chức chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho người dân chưa được chú trọng đúng
mức, nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế.
Trong những năm qua mặc dù xã đã chú trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng
nhưng so với yêu cầu phát triển của xã hội vẫn chưa đáp ứng được. Cơ sở vật chất chưa
đủ để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, vẫn còn lạc hậu. Diện tích đất chưa sử dụng vẫn
còn rất lớn mặc dù địa phương đã tích cực khai thác sử dụng nhưng diện tích chưa nhiều.


Tóm lại qua phân tích các số liệu ở trên cho ta thấy đất đai trong sản xuất nông
nghiệp ngày càng có chiều hướng giảm dần về diện tích do chuyển sang các mục đích
khác. Chính vì vậy mà vấn đề đặt ra là chúng ta phải làm sao khai thác sử dụng cho hợp lí
và hiệu quả mới có thể phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền vững, lâu dài và bảo
vệ được môi trường sinh thái.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status