VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN PHƯƠNG ANH
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
INH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ NƯỚC TA
INH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ NƯỚC TA
Chuyên ngành : Kinh tế phát triển
Mã số : 62.31.05.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ HỮU PHƯỚC
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG MÔ HÌNH “LIÊN KẾT
BỐN NHÀ” VÀO THỰC TIỄN SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TỈNH TRÀ
VINH
Chuyên ngành : Kinh tế phát triển
Mã số : 62.31.01.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Trần Đình Thiên
2. TSKH. Trần Trọng Khuê
Phản biện 1: GS.TSKH. Nguyễn Quang Thái
Phản biện 2: PGS. TS. Lê Quốc Hội
Phản biện 3: PGS. TS. Nguyễn Xuân Dũng
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Học viện, học tại Hội trường …. ……………………………………
* Nguồn nhân lực trong lĩnh vực công nghiệp tỉnh Bình Dương -
những vấn đề đặt ra.
Kỷ yếu đề tài khoa học cấp cơ sở, năm 2011.
* Phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực công nghiệp tỉnh Bình Dương,
giải pháp phát triển bền vững.
Kỷ yếu Hội thảo cấp Học viện, tháng 2/2011.
* CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại, bền vững
từ mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất nông nghiệp.
Hội thảo khoa học thuộc Đề tài cấp Nhà nước, tháng 9/2012.
* Định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ phục vụ
ngành điện tử vùng Đông Nam bộ.
Kỷ yếu Đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2012.
* Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố, tăng cường quốc
phòng – an ninh trong sự nghiệp CNH, HĐH tỉnh Đồng Nai – thực
trạng và giải pháp.
Kỷ yếu Đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2012.
*Xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở các tỉnh vùng Đông Nam Bộ-thực trạng và giải pháp.
Đề tài cấp Bộ tháng 7- 2013.
*Hợp tác kinh tế trong phát triển bền vững và những gợi ý cho tỉnh
Lâm Đồng.
Đề tài cấp Tỉnh 2009.
*Phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực công nghiệp tỉnh Bình Dương -
thực trạng và giải pháp.
Đề tài cấp Bộ, năm 2009.
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Liên kết là hoạt động cần thiết, tất yếu nhằm phát huy vai trò,
đảm bảo khả năng phát triển và tính hiệu quả của các đơn vị sản xuất,
năng tự chủ sản xuất kinh doanh, khả năng tự tích lũy, mở rộng đầu
tư nhằm đảm bảo tồn tại, phát triển theo yêu cầu. Ở tỉnh Trà Vinh,
tình trạng vi phạm trong liên kết là vấn đề thường xuyên xảy ra làm
cho các mối quan hệ càng thêm lỏng lẻo. Một số nông dân chưa gạt
bỏ được tư tưởng hám lợi trước mắt; còn doanh nghiệp chưa tôn
trọng các hợp đồng đã ký hay chưa thực hiện đầy đủ các cam kết,
việc thiếu cơ chế rõ ràng khiến vai trò của nhà khoa học chưa được
đề cao. Những hạn chế và yếu kém của sự liên kết trong nông nghiệp
có thể làm giảm năng lực sản xuất, cạnh tranh, khả năng thực hiện
mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Do đó, việc tìm mô hình liên kết
trong sản xuất nông nghiệp là rất cần thiết đối với tỉnh hiện nay nói
riêng và trong phát triển toàn ngành nói chung. Hình thức liên kết
“bốn nhà” không chỉ làm tăng năng lực, vai trò, hiệu quả sản xuất của
các nhà, điều kiện, môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi, mà sâu
xa hơn, sự phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.
Trên đây là những vấn đề nghiên cứu mang tính bức thiết,
chiến lược cho quá trình phát triển mô hình liên kết trong nông
nghiệp, và vấn đề này cần phải thực hiện nhanh, trước yêu cầu của
đổi mới và sâu rộng như hiện nay ngành nông nghiệp chưa đáp ứng
được. Bên cạnh đó, mô hình liên kết bốn nhà là một mô hình cần phải
có và được nhân rộng trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh, với
mong muốn đóng góp một phần nhỏ cho sự phát triển chung, tôi lựa
chọn đề tài: “Nghiên cứu, ứng dụng mô hình “liên kết bốn nhà”
vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh” để làm luận án
nghiên cứu sinh có ý nghĩa rất lớn cả lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu nước ngoài:
Trong phát triển kinh tế xã hội nông nghiệp, liên kết giữa các
chủ thể đã được nghiên cứu qua các công trình sau:
Thảo luận về sự phân hóa sở hữu nguồn lực sản xuất, lợi thế
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007; Nguyễn Minh Châu và Đoàn
Hữu Tiến, Tăng cường liên kết bốn nhà để phát triển sản xuất trái
cây hàng hóa, góp phần hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở
ĐBSCL, Tham luận tại Hội thảo: Liên kết bốn nhà - giải pháp cơ bản
góp phần xây dựng nông thôn mới ở đồng bằng sông Cửu Long, ngày
26/7/2011; Nguyễn Sinh Cúc, Một số vấn đề về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn Việt Nam trong quá trình đổi mới qua con số thống
kê - Thực trạng và giải pháp, in trong sách Những vấn đề kinh tế xã
3
hội ở nông thôn trong quá trình CNH,HĐH, Nhà xuất bản Đại học
Quốc Gia Hà Nội, 2010; Võ Huy Dũng, Bàn về vai trò của nông
nghiệp và chính sách phát triển, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 7
(398) – 2011; Vũ Tiến Dũng, Tăng cường mối quan hệ nông dân -
doanh nhân ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Cộng sản số 800 (2009);
Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành
Trung ương khóa X của Đảng Cộng sản Việt Nam “Về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn”, NXB Chính trị Quốc gia, HN, 2008; Đảng
Cộng Sản Việt Nam, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của
BCH TW khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Bích Hà, Xây
dựng vùng nguyên liệu mía, sắn - Gắn kết trách nhiệm của “bốn
nhà”, báo Phú Yên số ra ngày 3-8-2009; Lê Phong Hải, Liên kết bốn
nhà ở đồng bằng sông Cửu Long từ thực tiễn Bến Tre, Tham luận tại
Hội thảo: Liên kết bốn nhà - giải pháp cơ bản góp phần xây dựng
nông thôn mới ở đồng bằng sông Cửu Long, ngày 26/7/2011; Trần
Văn Hiếu, Liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước và hộ nông dân -
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí nông nghiệp và phát triển
nông thôn, tháng 10/2002; Trần Văn Hiếu, Xử lý đúng đắn vấn đề lợi
ích trong liên kết kinh tế giữa kinh tế hộ nông dân và doanh nghiệp
Nhà nước, Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn, tháng
5/2006; Hội thảo "Liên kết bốn nhà - Giải pháp cơ bản để nâng cao
Trà Vinh.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt nội dung: nghiên cứu tính tất yếu của mối liên kết
giữa nhà nông – nhà nước – nhà doanh nghiệp – nhà khoa học (bốn
nhà); thực trạng của mối liên kết đó trong phát triển nông nghiệp tỉnh
Trà Vinh.
Về mặt thời gian: đề tài giới hạn từ khi nước ta tiến hành đổi
mới đến nay và trong những năm tới.
Liên kết “bốn nhà” trong nông nghiệp, nông thôn từ khi có
quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ trở lại đây.
5. Nội dung nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về các mối quan hệ liên kết trong sản
xuất nông nghiệp.
- Vai trò của “bốn nhà” trong phát triển kinh tế - xã hội nông
nghiệp, nông thôn
- Các mô hình liên kết đã được triển khai và những kinh
nghiệm khi thực hiện các mô hình liên kết.
5
- Phân tích hiện trạng liên kết “bốn nhà” trong nông nghiệp ở
tỉnh Trà Vinh
- Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành liên kết
trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh.
- Những kiến nghị nhằm phát huy sức mạnh của “bốn nhà”;
xây dựng mô hình liên kết bốn nhà trong nông nghiệp có hiệu quả và
phù hợp với sự phát triển kinh tế tỉnh Trà Vinh hiện nay.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trước hết, đề tài phân tích những quan điểm liên kết trong
sản xuất nông nghiệp và các mô hình liên kết. Đây là nền tảng, là
khuôn khổ chung cho việc phân tích, đánh giá các quan hệ liên kết,
bắt đầu từ việc phân tích các quan hệ ngược, xuôi trong quá trình
LIÊN
KẾT
THỰC
TIỄN
LIÊN
KẾT
Giải pháp đã thực hiện
Thực trạng chung về
liên kết trong sản xuất
kinh doanh nông
nghiệp
NHU CẦU LIÊN KẾT
Thực trạng liên kết của
những sản phẩm chủ
yếu
TÁC
ĐỘNG
LIÊN
KẾT
GIẢI PHÁP
-Hoàn thiện công tác quy
hoạch.
-Tổ chức thực hiện
-Đầu tư cơ sở hạ tầng
-Tăng cường năng lực các
nhà
-Thị trường tiêu thụ sản
phẩm
-Đối với các nội dung liên
kết
nhà nước và tự nguyện
Nhà nông: là những người trực tiếp làm ra sản phẩm nông
nghiệp (bao gồm hợp tác xã nông nghiệp, tổ, nhóm hợp tác, hộ nông
dân, trang trại, đại diện hộ nông dân) liên kết với ba nhà còn lại.
8
2.1.2. Bản chất của quan hệ liên kết “bốn nhà”
Bản chất của liên kết “bốn nhà” cũng là một kiểu hợp tác
sản xuất kinh doanh. Liên kết “bốn nhà” nếu chặt chẽ thì thành một
tổ chức, còn nếu chỉ bằng hợp đồng thì là một cơ chế, một mối quan
hệ kinh tế được quy định mang tính pháp lý. Liên kết bốn nhà được
hoạt động theo các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Vận dụng có hiệu quả các quy luật khách quan, đặc biệt là
các quy luật, phạm trù của kinh tế thị trường; hiệu quả kinh tế; kết
hợp hài hoà các lợi ích nhà nước, tập thể, cá nhân người lao động,
trong đó lợi ích cá nhân người lao động là động lực trực tiếp
Các bên trong liên kết “bốn nhà”: tự chủ đi đôi với tự chịu
trách nhiệm, tuân thủ pháp luật; thích nghi với thị trường; tự nguyện,
bình đẳng, dân chủ; coi trọng hiệu quả kinh doanh; cùng có lợi.
2.1.3. Vai trò của “các nhà” trong liên kết
Vai trò của nhà nông trong quan hệ liên kết “bốn nhà”
Nếu xét trong một chỉnh thể của quá trình sản xuất nông
nghiệp thì có thể thấy vai trò của “bốn nhà” trong mối liên kết là
tương đồng, tất cả đều xuất phát từ lợi ích nào đó và sự tương tác với
nhau là rất lớn. Tuy nhiên, trong mối liên kết này cần phải xác định
rõ nông dân phải là “nhân”, là “trục” các chủ thể liên kết còn lại là
“vệ tinh” hoạt động theo tôn chỉ hỗ trợ cho sự phát triển của nông
dân, của xã hội nông thôn nhưng trên cơ sở lợi ích của họ, điều này
cũng dễ hiểu, khi nông dân giàu hơn, nông thôn phát triển lợi ích mặc
nhiên sẽ đến với các “nhà khác”. Khi xét trong một quy trình sản xuất
trong cơ chế thị trường thì vai trò của nhà nông là rất quan trọng, nhà
thuật tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí sản
xuất, tăng giá bán và tăng sức cạnh tranh của hàng hoá. Nhà nông rất
cần nhà khoa học, không chỉ trong trồng trọt và chăn nuôi mà còn
trong tiêu thụ nông sản. Doanh nghiệp muốn liên kết với nông dân để
có nguồn cung cấp sản phẩm có chất lượng, sạch và ổn định cũng
không thể không có sự tham gia của các nhà khoa học. Vì thế, nhà
khoa học được coi là cầu nối quan trọng cho mối liên kết này.
Vai trò của Nhà nước trong mối liên kết bốn nhà
Vai trò của Nhà nước trong mối liên kết bốn nhà là bảo đảm
hành lang pháp lý thuận lợi thông qua hệ thống chính sách đất đai, tín
dụng, thuế và các chủ trương, chính sách thu hút đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế- xã hội. Nhà nước còn tham gia
vào mối liên kết với vai trò hỗ trợ, điều phối thông qua các chính
10
sách quy hoạch vùng nguyên liệu, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ
thuật, xúc tiến thương mại, đồng thời đóng vai trò “trọng tài” trong
việc kiểm tra, giám sát và bảo đảm tính pháp lý cho việc thực hiện
hợp đồng giữa các bên.
2.1.4. Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Trà Vinh trong liên kết “bốn
nhà”
Ở Việt Nam có các mô hình sau: Nông trường Sông Hậu;
Tiêu thụ nông sản hàng hóa qua hợp đồng ở tỉnh An Giang; Công ty
cổ phần mía đường Lam Sơn (Thanh Hóa); Công ty sữa Vinamilk
Thế giới: Kinh nghiệm của Trung Quốc; Kinh nghiệm của
Nhật Bản
Từ các mô hình liên kết trên, có thể rút ra một số bài học
cho tỉnh Trà Vinh như sau:
-Trước hết, các mô hình liên kết thành công đều xuất phát từ
nhu cầu liên kết thực tế trong quá trình phát triển sản xuất. Nhà nông
cần liên kết với nhau và với nhà kinh doanh hàng nông sản để có thể
tương đối cao.
12
Chương 3
THỰC TRẠNG LIÊN KẾT “BỐN NHÀ” TRONG PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH TRÀ VINH.
3.1. Những yếu tố hình thành liên kết trong sản xuất nông nghiệp
tỉnh Trà Vinh.
Trà Vinh là một tỉnh ĐBSCL có địa hình giống như một
“ngón tay” hướng ra biển, ngón tay này bị kẹp giữa hai con song Cổ
Chiên và sông Hậu. Trà Vinh nối với tỉnh Vĩnh Long bằng Quốc lộ
53. Là tuyến quốc lộ “đối ngoại” duy nhất. tỉnh có hai cửa sông quan
trọng của khu vực nối với biển Đông là cửa Định An và Cung Hầu.
Trà Vinh có địa hình tự nhiên là 221.515 ha.
Trà Vinh có tới 80% dân số tỉnh sản xuất và sinh sống trong
khu vực nông nghiệp, nông thôn. Trình độ sản xuất của nông dân còn
kém, tình trạng đói nghèo còn quá nhiều.
Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ chốt của khu vực kinh tế
nông thôn và hoạt động sản xuất nông nghiệp Trà Vinh được thực
hiện theo mô hình kinh tế nông hộ là chủ yếu. Do vậy, nông nghiệp
cũng là ngành phát sinh, phát triển các hoạt động liên kết sớm nhất,
có nhu cầu, nội dung, hình thức liên kết phong phú, đa dạng nhất so
với sự phát triển các ngành khác trong hệ thống kinh tế Trà Vinh.
3.2. Thực trạng liên kết trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Trà
Vinh
Từ nghiên cứu thực tế có thể thấy rằng, nhu cầu liên kết
trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh xuất phát từ: i. Lợi ích kinh
tế của các tác nhân tham gia trong quy trình sản xuất; ii. Do gặp khó
khăn trong quá trình sản xuất, cần có sự hỗ trợ của các “nhà khác”.
Cơ sở để thực hiện liên kết thông qua các cam kết, hợp đồng song
phương, đa phương và trên nguyên tắc đảm bảo lợi ích của các bên
- Nhu cầu liên kết thực hiện quan hệ sau giữa các hộ trồng
trọt với các đơn vị thông tin, tư vấn trong hoạt động tổ chức cung cấp
thông tin, tư vấn kinh tế - kỹ thuật theo nhu cầu thông tin, tư vấn của
các hệ trồng trọt.
- Nhu cầu liên kết thực hiện quan hệ trước giữa các hộ trồng
trọt với các cơ sở sơ chế, chế biến nông sản trong hoạt động cung
14
ứng nguyên liệu nông sản theo nhu cầu sản xuất, chế biến của các
doanh nghiệp chế biến nông sản trên địa bàn Trà Vinh.
- Nhu cầu liên kết thực hiện quan hệ trước giữa các hộ trồng
trọt với các đơn vị vận tải trong hoạt động vận chuyển nguyên liệu
nông sản từ nơi sản xuất đến các điểm sơ chế, chế biến.
- Nhu cầu liên kết thực hiện quan hệ trước giữa các đơn vị
kinh tế hệ trồng trọt với các nhà phân phối trung gian trong hoạt động
trung chuyển nguyên liệu nông sản từ nơi sản xuất đến các cơ sở sơ
chế, chế biến.
- Nhu cầu liên kết thực hiện quan hệ sau giữa các doanh
nghiệp sơ chế, chế biến với các đơn vị dịch vụ cung ứng vật tư, kỹ
thuật công nghiệp chế biến trong hoạt động đảm bảo cung ứng vật tư
kỹ thuật công nghiệp theo nhu cầu sản xuất của các doanh nghiệp sơ
chế, chế biến nông sản.
- Nhu cầu liên kết thực hiện quan hệ sau giữa các doanh
nghiệp sơ chế, chế biến với các đơn vị dịch vụ đào tạo, cung ứng lao
động theo nhu cầu tổ chức, lao động của các doanh nghiệp sơ chế,
chế biến.
- Nhu cầu liên kết thực hiện quan hệ sau giữa các doanh
nghiệp sơ chế, chế biến với các đơn vị ngân hàng, tín dụng trong hoạt
động cung ứng vốn theo nhu cầu đầu tư và bình ổn sản xuất của các
doanh nghiệp sơ chế, chế biến.
- Nhu cầu liên kết thực hiện quan hệ trước giữa các đơn vị sơ
đơn vị chế biến, thương mại nông sản.
3.4. Đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với liên kết
“bốn nhà” trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh.
Việc tổ chức hoạt động liên kết khu vực kinh tế nông thôn
Trà Vinh trong thời gian qua được thực hiện trên cơ sở vận dụng các
hình thức tổ chức liên kết cơ bản sau:
- Hình thức liên kết – thị trường được vận dụng để thực hiện
các nội dung liên kết thương mại gỉai quyết vấn đề đầu vào, đầu ra
cho hoạt động của các đơn vị nằm trong các khâu công việc chuyên
môn hóa thuộc quy trình sản xuất – kinh doanh các sản phẩm chủ yếu
khu vực kinh tế nông thôn Trà Vinh.
- Hình thức liên kết nhà nước được vận dụng để thực hiện
các nội dung liên kết quản lý cần thiết trong triển khai các chương
trình, đề án, dự án phát triển cho khu vực kinh tế nông thôn Trà Vinh.
16
3.4.1. Nhận thức về quan hệ liên kết trong sản xuất nông nghiệp
tỉnh Trà Vinh
Hầu hết các đối tượng được trưng cầu ý kiến đồng ý nhất về
quan hệ liên kết trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn: “Là quan hệ
liên kết liên quan giữa các ngành trong cơ cấu, hệ thống kinh tế của
tỉnh” (47%). Nhận thức quan hệ liên kết trong sản xuất nông nghiệp,
nông thôn theo cách hiểu “Là quan hệ hợp tác phối hợp qua các đơn
vị thực hiện các chức năng khác nhau trong quá trình sản xuất chế
biến, trên sản phẩm nông nghiệp” cũng chiếm tỉ lệ khá cao với 39%
người được phỏng vấn lựa chọn.
3.4.2. Những yếu tố hình thành nhu cầu liên kết “bốn nhà” trong
sản xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh.
Tốc độ tăng trưởng của sản xuất nông nghiệp bình quân của
tỉnh Trà Vinh đạt từ 4% - 5%. Theo kết quả điều tra khảo sát có 83%
cán bộ quản lý tỉnh Trà Vinh được khảo sát cho rằng ngành sản xuất
Trong một số ngành sản xuất khác như ngành trồng nấm
rơm, thủy sản, hàng thủ công, các chủ thể thu mua sản phẩm thường
có hoạt động hỗ trợ cho các hộ nông dân cung ứng sản phẩm đầu vào
như hỗ trợ nguyên vật liệu (thức ăn, con giống trong thủy sản), tiền
mua nguyên vật liệu (nấm rơm), kỹ thuật sản xuất, làm sản phẩm (thủ
công). Riêng đối với ngành trồng lúa, phần lớn sản phẩm được bán
qua trung gian là các thương lái, do đó, các hộ nông dân thường rất ít
nhận được sự hỗ trợ từ các chủ thể này.
3.6. Tác động của liên kết “bốn nhà” đến sự phát triển nông
nghiệp tỉnh Trà Vinh
- Thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển
- Môi trường kinh tế, môi trường đầu tư được cải thiện
- Môi trường sống được cải thiện theo hướng bền vững
- Tăng hiệu quả quản lý và sử dụng tài nguyên đất đai
- Cải thiện giáo dục và y tế cộng đồng
3.6.1. Liên kết “bốn nhà” ở tỉnh Trà Vinh, thuận lợi, thách thức
và cơ hội
3.6.1.1. Sự cần thiết của liên kết “bốn nhà” ở tỉnh Trà Vinh
Sản xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh vẫn là kiểu sản xuất nhỏ,
manh mún thiếu quy hoạch và định hướng. Người nông dân vẫn đang
loay hoay với những biến động của thị trường thế giới, hết trồng lại
chặt theo sự lên xuống của giá cả thị trường, với dịch bệnh và thiên
tai bão lũ; đời sống chưa được ổn định, đảm bảo.
18
Ngành sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ và chịu ảnh
hưởng lớn của điều kiện tự nhiên như đất đai, khí hậu, dịch bệnh. Do
vậy, thị trường nông sản cũng có những qui luật đặc thù riêng phù
hợp với cung cầu và giá cả hàng nông sản. Do phần lớn nông dân có
trình độ thấp, phương thức canh tác lạc lậu nên rất khó thích ứng với
cơ chế thị trường với sự biến động khó lường về cung cầu, giá cả.
hiện nay, về sự cần thiết và những lợi ích thiết thực của việc liên kết
“bốn nhà”.
- Đẩy mạnh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trong nông
nghiệp, tạo ra những vùng sản xuất hàng hóa qui mô lớn, các chủ thể
sản xuất hàng nông sản qui mô lớn. Đặc biệt cần phát triển mạnh
HTX trong nông nghiệp theo tiêu chí mới, phải xây dựng các HTX
thực sự vững mạnh.
- Cụ thể hóa và áp dụng các chính sách khuyến khích cả
doanh nghiệp lẫn nông dân trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng
tiêu thụ nông sản.
- Xây dựng cơ chế điều hòa bảo hiểm cho hợp đồng tiêu thụ
theo nguyên tắc lấy lãi bù lỗ; dành một phần lãi khi giá lên bù cho lỗ
khi giá xuống để ổn định giá cả, từ đó ổn định lợi ích kinh tế của
nông dân và doanh nghiệp.
- Nhà nước cần phát huy vai trò “trọng tài”.
20
Chương 4
GIẢI PHÁP VÀ MÔ HÌNH LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP TỈNH TRÀ VINH
4.1. Đề xuất mô hình liên kết “bốn nhà” trong sản xuất nông
nghiệp ở tỉnh Trà Vinh
Có thể đề xuất các dạng mô hình liên kết “ bốn nhà” trong
sản xuất nông nghiệp, tỉnh Trà Vinh là: mô hình liên kết thông qua
hợp đồng kinh tế, mô hình liên kết, tích tụ ruộng đất; mô hình đa
thành phần, mô hình trung gian, mô hình phi chính thức …
4.2. Đề xuất giải pháp thực hiện liên kết “bốn nhà” trong sản
xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh
Giải pháp để thực hiện liên kết “bốn nhà” trong sản xuất
nông nghiệp, theo xu thế phát triển kinh tế xã hội tỉnh Trà Vinh hiện
nay và trong giai đoạn tới. vấn đề cốt lõi là: “nhà khoa học” công tâm