PHẦN I - MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Bản đồ giáo khoa được xác định là “cuốn sách giáo khoa thứ hai”,
và còn hơn thế nữa vì những đặc tính mà chỉ riêng bản đồ có được. BĐGK
treo tường là một bộ phận rất quan trọng của hệ thống BĐGK. Vì vậy,
BĐGK treo tường cần được nghiên cứu và sắp xếp một cách có hệ thống
để việc sản xuất, lưu thông và sử dụng chúng trong dạy học bộ môn Địa lí
ở nhà trường phổ thông có hiệu quả, đặc biệt là đối với chương trình Địa lí
THPT ban Nâng Cao.
Bản đồ là nguồn tri thức, đồng thời là phương tiện dạy học không
thể thiếu của bộ môn Địa lí trong trường phổ thông. BĐGK trong nhà
trường THPT hiện nay được trang bị khá phong phú và đa dạng để đáp ứng
nhu cầu dạy học ngày càng cao của nền giáo dục quốc dân. Tuy nhiên việc
sử dụng BĐGK một cách hiệu quả thì không phải tất cả mọi người đều làm
tốt, đặc biệt là các trường THPT ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi mà
điều kiện mọi mặt còn nhiều khó khăn và hạn chế. Một công việc quan
trọng để bước đầu sử dụng một cách hiệu quả hệ thống BĐGK trong nhà
trường THPT là hệ thống hóa chúng theo mục tiêu, nội dung và phương
pháp dạy học theo hướng tích cực.
Tiến hành hệ thống hóa BĐGK trong chương trình Địa lí THPT là
một việc làm quan trọng và thiết thực đối với mỗi giáo viên Địa lí trong
quá trình dạy học Địa lí ở trường THPT. Hiện nay, với sự phong phú và đa
dạng của hệ thống BĐGK cũng như hệ thống phương pháp phân loại thì
việc lựa chọn phương pháp cũng như cách phân loại BĐGK như thế nào
tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương và đơn vị giáo dục.
Tuy nhiên áp dụng Lý thuyết Hệ thống vào việc hệ thống hóa BĐGK là
một hướng đi mới, phù hợp với lí thuyết về phân loại nội dung chương
trình Địa lí và hệ thống BĐGK ngày càng phong phú, đa dạng.
1
Với những lí do trên, em đã chọn đề tài: Nghiên cứu, hệ thống hóa
bản đồ giáo khoa treo tường (Địa lí THPT ban Nâng Cao).
biệt này xác định như một hệ thống, gồm những phần tử độc lập cụ thể
(như các tế bào, các phần, các tranzito, người ...). Như vậy, những khái
niệm và nguyên lí của tổ chức nằm dưới những ngành khoa học khác nhau
(vật lí, sinh vật, công nghệ, xã hội học...), cung cấp một cơ sở cho sự thống
nhất chúng. Những khái niệm hệ thống bao gồm: môi trường hệ thống bao
quanh, đầu vào, đầu ra, quá trình, trạng thái, sự phân cấp, hướng mục đích
và thông tin.
Sự phát triển của Lý thuyết Hệ thống là đa dạng
[2]
, bao gồm nhận
thức những nền tảng triết học (những triết học của Bunge, Bahm và
Laszlo); Lí thuyết toán mô hình hoá và lí thuyết Thông tin và những ứng
dụng thực tiễn. Lí thuyết những hệ thống toán học xuất hiện sự phát triển
cô lập/độc lập giữa những mô hình những mạch điện và những hệ thống
khác. Áp dụng bao gồm kỹ nghệ, điện toán, sinh thái học, quản lý, và tâm
lý trị liệu gia đình. Sự phân tích những hệ thống, phát triển độc lập Lý
thuyết Hệ thống, áp dụng những nguyên lý hệ thống để trợ giúp ra quyết
định - với những vấn đề xác định, tái xây dựng, tối ưu hóa và điều khiển
hệ thống (thường là một tổ chức về kỹ thuật), trong khi hướng đến nhiều
mục tiêu, ràng buộc và tài nguyên. Mục đích của nó chỉ rõ những hướng
hoạt động có thể, tính đến độ rủi ro, giá thành và lợi ích thu được.
Lý thuyết Hệ thống gắn chặt với Điều khiển học và cũng như Động
học hệ thống, mô hình thay đổi trong Mạng ghép lẫn nhau của những biến
(như “thế giới thay đổi" - mô hình của Jay Forrester và Câu lạc bộ Rome).
Những ý tưởng liên quan được sử dụng bên trong ra đời những khoa học
của sự phức tạp, nghiên cứu sự tổ chức và những mạng hỗn tạp các đối
tượng tương tác, và những lĩnh vực khác nhau như: động học hỗn loạn,
cuộc sống nhân tạo, trí tuệ nhân tạo, mạng nơron, và mô hình hoá và mô
phỏng bằng máy tính.
Các hệ thống lớn thông thường có các đặc điểm sau:
BGK treo tng tng ng.
4. Gii hn phm vi nghiờn cu ca ti
H thng húa BGK treo tng trong chng trỡnh a Lý THPT
ban Nõng Cao bng Lý thuyt H thng.
5. Quan im v phng phỏp nghiờn cu ca ti
5.1. Quan im nghiờn cu
Hai quan im ch o c s dng trong nghiờn cu t i c a em l
quan im h thng v quan im tng hp:
- Quan im h thng
Theo L.Béctơ-Lan-Phil: Hệ thống là tổng thể các là thành phần nằm
trong sự tác động tơng hỗ. Mọi đối tợng và hiện tợng đều có mối liên hệ
biện chứng tạo thành một chỉnh thể đợc gọi là hệ thống, mỗi hệ thống lại
nằm trong một hệ thống lớn hơn và mỗi hệ thống lại có thể phân chia thành
các hệ thống ở cấp thấp hơn.
Theo quan im ny thỡ tp hp bn trong sỏch giỏo khoa, Atlat
a lớ, BGK treo tng l mt th thng nht ca h thng BGK
trong chng trỡnh a lớ THPT ban Nõng Cao.
Nhng BGK treo tng c xem xột nh l m t h thng bn
ho n ch nh, mt b phn quan trng ca h thng BGK a lớ THPT.
- Quan im tng hp
H thng BGK trong chng trỡnh a lớ THPT ban Nõng Cao l
mt th tng hp, trong ú th tng hp ny c phõn chia thnh cỏc th
tng hp nh hn.
Cỏc BGK treo tng l mt th tng hp trong h thng BGK
trong chng trỡnh a lớ THPT ban Nõng Cao.
5
5.2. Phng phỏp nghiờn cu
Trong ti ca mỡnh em s dng h thng cỏc phng phỏp nghiờn
cu chớnh sau: phng phỏp thu thp ti liu; phng phỏp phõn tớch, tng
hp, so sỏnh; phng phỏp bn v ph ơng pháp sử dụng các kỹ thuật phụ
Phần II - Nội dung
Chương 1. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2. Phân tích hệ thống bản đồ giáo khoa treo tường trong
chương trình Địa lí THPT
Chương 3. Hệ thống hóa bản đồ giáo khoa treo tường (chương trình
Địa lí THPT ban Nâng Cao) theo lý thuyết Hệ thống
Phần III - Kết luận
PHẦN II - NỘI DUNG
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1. Bản đồ học và bản đồ địa lí
1.1.1.1. Định nghĩa bản đồ học
Theo Lâm Quang Dốc – Phạm Ngọc Đĩnh
[4]
:
Định nghĩa chặt chẽ và hòan chỉnh về bản đồ học do giáo sư K.A.
Salishev đưa ra, được nhiều người thừa nhận: “Bản đồ học là khoa học về
sự nghiên cứu và phản ánh sự phân bố không gian, sự phối hợp và sự liên
kết lẫn nhau của các hiện tượng tự nhiên và xã hội (cả những biến đổi của
chúng theo thời gian) bằng các mô hình kí hiệu hình tượng đặc biệt – sự
biểu hiện bản đồ”.
Năm 1995, tại Bacxêlôna – Tây Ban Nha, đại hộ lần thứ 10 Hội Bản
đồ thế giới đã dư ra định nghĩa: “Bản đồ học là ngành khoa học giải quyết
những vấn đề lí luận, sản xuất, phổ biến và nghiên cứu về bản đồ”.
1.1.1.2. Định nghĩa, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa bản đồ địa lí
Đinh nghĩa
Khái niệm về bản đồ địa lí là kiến thức học sinh tiếp nhận được ngay
từ bài học Địa lí đầu tiên ở nhà trường phổ thông, với định nghĩa: “Bản đồ
elipxoit Trái Đất và tọa độ của những điểm tương ứng trên mặt phẳng bản
đồ. Nhờ đó bản đồ đảm bảo được tính đồng dạng và sự tương ứng không
gian của các đối tượng được biểu hiện
- Bản đồ sử dụng ngôn ngữ hình ảnh - kí hiệu
Trong quá trình phát triển, xã hội loài người đã xuất hiện hàng
loạt các phương tiện để ghi chép và truyền đạt các biểu tượng như ngôn
ngữ cử chỉ, ngôn ngữ âm thanh, ngôn ngữ hình ảnh, ngôn ngữ văn tự… Sự
biểu hiện bản đồ sử dụng ngôn ngữ hình ảnh – hệ thống kí hiệu. Các kí
9
hiệu bản đồ đã ghi được các đối tượng, hiện tượng khác nhau biểu hiện
trên bản đồ. Sự biểu hiện bằng hệ thống kí hiệu đã làm cho bản đồ không
giống với những sự biểu hiện khác về Trái Đất như những bức ảnh hàng
không và tranh phong cảnh cùng một địa phương.
Bản đồ với các kí hiệu, ấn tượng ban đầu có thể cho cảm giác
xa lạ, không trực quan như những bức ảnh, bức tranh, nhưng thực tế, sự
biểu hiện bằng kí hiệu đã tạo cho bản đồ có những ưu thế mà không một
bức ảnh, bức tranh đuah phương nào có được.
- Bản đồ có sự tổng quát hóa
Bản đồ không thể hiện tất cả các đối tượng, hiện tượng Địa lí
có ở địa phương, vì bản đồ là sự biểu hiện thu nhỏ. Tỉ lệ càng nhỏ, mức độ
thu nhỏ càng lớn. Mặt khác, mỗi bản đồ được thành lập đều nhằm phục vụ
một mục đích và chủ đề nhất định nào đó. Vì thế những đối tượng, hiện
tượng đưa lên bản đồ phải được chọn lọc có ý thức, phải loại bỏ những đối
tượng và khía cạnh không cần thiết, chỉ giữ lại và nêu bật những đối tượng,
hiện tượng với những nét đặc trưng chủ yếu, điển hình, quan trọng nhất
trên cơ sở mục đích, chủ đề, tỉ lệ bản đồ và đặc điểm địa phương. Quá trình
chọn lọc đó là sự “tổng quát hóa bản đồ”.
Nội dung
Nội dung của bản đồ là yếu tố chủ đạo cấu thành nên bản đồ
(gồm: nội dung bản đồ, cơ sở toán học của bản đồ, yếu tố hỗ trợ và những
phát triển của chúng trong tương lai. Bất cứ một sự nghiên cứu nào cũng
phải bắt đầu từ bản đồ và kết thúc bằng bản đồ. Bản đồ được xem là một
tiêu chuẩn của sự phát triển địa lí. D. N. Anusin đã viết: “Mức độ nhận
thức về mặt địa lí một nước được xác định bởi độ hoàn hảo của bản đồ
hiện có của nước đó”.
Trong giảng dạy và học tập địa lí, bản đồ giữ vai trò rất quan
trọng. Bản đồ là kho tàng trữ các tri thức địa lí tích lũy được, là kênh hình
11
của sách giáo khoa địa lí. Bản đồ vừa là nội dung vừa là phương tiện đặc
thù không thể thiếu trong giảng dạy và học tập địa lí.
Ngày nay bản đồ còn được coi là một phương tiện có hiệu quả
để phổ biến các tri thức, nâng cao trình độ văn hóa chung cho mọi người,
cung cấp những hiểu biết về quê hương đất nướcn về các quốc gia trên thế
giới, giáo dục lòng yêu nước, yêu quý thiên nhiên, bảo vệ môi trường…
Không phải cường điệu khi nói rằng các bản đồ ở mức độ nào
đã trở thành một phương tiện cần thiết trong sản xuất và đời sống con
người.
1.1.2. Bản đồ giáo khoa và bản đồ giáo khoa treo tường
1.1.2.1. Khái niệm về bản đồ giáo khoa và bản đồ giáo khoa treo
tường
* Bản đồ giáo khoa Địa lí
BĐGK Địa lí là một loại hình cụ thể trong hệ thống bản đồ Địa lí, vì
vậy ngoài tính chất đặc trưng của bản đồ địa lí ra, nó còn có những tính
chất riêng mà các loại bản đồ địa lí khác không có.
U. C. Bilich và A.C. Vasmuc đã định nghĩa: “Bản đồ giáo khoa là
những bản đồ sử dụng trong mục đích giáo dục, chúng cần thiết cho việc
giảng dạy và học tập ở tất cả các cơ sở giáo dục dưới mọi hình thức, tạo
nên một hệ thống giáo dục cho tất cả các tàng lớp dân cư từ học sinh cho
đến việc đào tạo các chuyên gia. Những bản đồ đó cũng được sử dụng
trong nhiều ngành khoa học, trước hết là Địa lí và Lịch sử.”
BĐGK treo tường thể hiện được nội dung Địa lí trong các mối quan
hệ và cấu trúc không gian, đảm bảo tính logic khoa học của vấn đề giáo
viên trình bày. Mỗi điểm, mỗi đối tượng Địa lí trên bản đồ đều giữ đúng vị
trí Địa lí của mình trên mặt đất. Đặc điểm của mỗi đối tượng cũng được
biểu hiện bằng các phương pháp họa đồ phù hợp. Trên bản đồ, lượng thông
tin khoa học tương xứng với tỉ lệ bản đồ, các đối tượng Địa lí trên bản đồ
được khái quát hóa cao, có đối tượng phải cường điệu hóa đến mức cần
thiết. Nhiều kí hiệu tượng trưng, tượng hình, nhiều màu sắc đẹp gần gũi
với đối tượng được sử dụng làm cho bản đồ có tính trực quan cao, gây
hứng thú cho việc học tập Địa lí. Nội dung kiến thức và phương pháp trình
bày trên bản đồ còn phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi, với thị lực học sinh
13
trong khoảng cách nhìn từ 5 đến 10 mét, với trình độ nhận thức của từng
lớp học, cấp học. Vì vậy, BĐGK treo tường có hệ thống kí hiệu lớn, chữ
viết to, màu sắc rực rỡ, độ tương phản mạnh.
Tuy có những điểm khác nhau trong định nghĩa của các tác giả, song
các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở một số điểm như:
BĐGK treo tường là bản đồ giáo khoa sử dụng cho dạy học
Địa lí (và Lịch sử) trên lớp.
BĐGK treo tường có những yêu cầu và đặc điểm riêng, phù
hợp với nội dung chương trình bộ môn và tâm sinh lí lứa tuổi, nhận thức
của học sinh ở từng lớp học, từng cấp học.
1.1.2.2. Đặc điểm cơ bản của bản đồ giáo khoa
BĐGK Địa lí hiện nay, tuy vẫn có chức năng là một phương tiện dạy
học Địa lí trực quan, nhưng chức năng chủ yếu và ngày càng được coi
trọng là một nguồn tri thức Địa lí phong phú để học sinh khai thác khi học
tập. Mỗi đối tượng địa lí được ghi trên bản đồ đều bắt nguồn từ những
cuộc thám hiểm, đôi khi gian lao và đầy hiểm nguy của các nhà Địa lí trên
thực địa. Chính vì thế, BĐGK Địa lí xứng đáng được coi là “Cuốn sách
giáo khoa Địa lí thứ hai” trong dạy học Địa lí ở nhà trường phổ thông.
quát hóa và kí hiệu bản đồ. Đó là kết quả của sự lựa chọn có mục đích rõ
rệt, sự loại bỏ cái thứ yếu, ít quan trọng, không cơ bản, đặc biệt chú ý đến
những đặc điểm chính, sự cường điệu hóa cao đối với đối tượng và hiện
tượng có ý nghĩa quan trọng đối với địa phương. Đây là nhiệm vụ chủ yếu
khi tiến hành thành lập bản đồ dùng trong trường học, các nhà chuyên
môn, các nhà phương pháp giảng dạy và các nhà bản đồ không chỉ làm
việc với tài liệu giáo khoa, mà cả với những hình ảnh của các hiện tượng
Địa lí nguyên vẹn, với hệ thống khái niệm xuất hiện trong quá trình biên
vẽ và tổng quát hóa bản đồ, nghĩa là trừu tượng hóa diễn ra từ lúc khởi
thảo cho đến lúc hoàn thành bản vẽ cuối cùng. Sự trừu tượng hóa các đối
tượng Địa lí biểu hiện trên bản đồ được giáo viên khai thác trong giảng
15
dạy, được học sinh lĩnh hội khi học tập. Trừu tượng hóa khoa học có vai
trò quan trọng trong việc nhận thức các khía cạnh này khác của thực tế
khách quan. Lênin nói “Tư duy, khi có nguồn gốc từ cụ thể đến trừ tượng,
nó sẽ không đi xa chân lí – nếu nó đúng chất, sự trừu tượng hóa quy luật tự
nhiên, trừu tượng hóa giá trị… là một từ, tất cả trừu tượng hóa khoa học
(đúng đắn, nghiêm túc, không vô lí) đều đều phản ánh tự nhiên sâu sắc
hơn, đúng đắn hơn, đầy đủ hơn. Từ trực quan sinh động đến thực tế - đó là
con đường biện chứng của nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách
quan”. Tổng quát hóa ở nhiều mức độ khác nhau là đặc tính của mô hình
bản đồ. Sự trừu tượng hóa khoa học cao là đặc điểm của mô hình toán học,
nhưng tính chất trừu tượng hóa này thuộc loại khác. Nếu nêu đặc điểm rất
tóm tắt về sự khác nhau chủ yếu của mô hình bản đồ và mô hình toán học,
khi bỏ qua các đặc diểm khác nhau của chúng, thì có thể nói rằng, mô hình
toán học (ví dụ: phương trình toán học) đã lãng quên các tính chất cụ thể
của các đối tượng thực tế, còn mô hình bản đồ tổng quát hóa các tính chất
cụ thể.
- Tính chọn lọc và tính tổng hợp của BĐGK
Tất cả những quá trình riêng biệt và những hiện tượng trong thực tế
của các đối tượng nghiên cứu, nghĩa là nắm được cấu trúc không gian của
chúng. Những bức ảnh hàng không và các ảnh vũ trụ, các bình đồ, các mặt
cắt… cũng có tính chất tương tự. Sự đồng dạng hình học của bản đồ, tất
nhiên, không thể hiểu một cách cứng nhắc như việc tính tỉ lệ đơn giản của
đối tượng trên địa phương và trên bản đồ, bởi vì bản đồ đã sử dụng các kí
hiệu ngoài tỉ lệ, còn hình dạng các đối tượng trên bản đồ được biểu hiện
theo tỉ lệ. Trong một số trường hợp, trên bản đồ tỉ lệ nhỏ, sự đồng dạng
hình học (độ chính xác hình học) đã bị phá vỡ một cách có ý thức, để biểu
hiện rõ tính quy luật Địa lí quan trọng đối với người đọc, ví dụ: trên bản đồ
tỉ lệ nhỏ, các đường bình độ có thể hơi dịch chuyển tương đối so với vị trí
thực của chúng để biểu hiện đúng đặc điểm bề mặt dốc hoặc lục địa Nam
17
Cực trong lưới chiếu hình trụ đứng không đồng dạng với lục địa Nam Cực
ngoài thực địa như ở lưới chiếu hình phương vị đứng.
- Tính logic của BĐGK
Bản đồ nào cũng kèm theo bản chú giải. Nó là chìa khóa của mọi
bản đồ và là cơ sở logic của mọi bản đồ. Không phải vô cớ việc thành lập
bản đồ bao giờ cũng bắt đầu từ việc chuẩn bị bản chú giải. Bản chú giải
của bản đồ không chỉ giải thích kí hiệu mà còn là đơn vị phân loại (địa
hình, khoáng sản, công nghiệp, nông nghiêp…), phân cấp bậc (bậc độ cao
và độ sâu, mật độ dân số, tổng giá trị sản lượng công nghiệp…), là cơ sở
đo tính (thước tỉ lệ, thước đo độ dốc…), giúp cho người đọc bản đồ hiểu
mô hình bản đồ với các đặc trưng số lượng, chất lượng và cấu trúc, các
mối tương quan không gian và mọi biến đổi theo thời gian.
Những bản đồ có biểu đồ bổ sung thể hiện tính kết cấu logic đặc biệt
và tính trực quan. Những kí hiêu đường nét, màu sắc dùng trên bản chú
giải cùng với sự sắp xếp theo thứ tự giải thích đã được lựa chọn, cân nhắc
kĩ lưỡng, nhằm nhấn mạnh ý nghĩa, tình trạng phụ thuộc và tính thống nhất
của các hiện tượng được biểu hiện. Như vậy, khi sử dụng bản đồ không chỉ
sử dụng mô hình kí hiệu mà còn phải sử dụng cả mô hình logic nữa. Kí
Bản đồ Địa lí dùng trong nhà trường thường sử dụng nhiều màu sắc
đẹp, nhiều kí hiệu tượng trưng gần gũi với đối tượng và nhiều kí hiệu
tượng hình gây hứng thú cho học sinh, tạo ra phản ứng tư duy nhanh khi
giáo viên giảng bài. Tính trực quan trong bản đồ được đánh giá rất cao, nó
được thực nghiệm xác nhận là có hiệu quả tri giác cao trong hoạt động
nhân thức của học sinh.
+ Tính sư phạm của BĐGK
Hệ thống BĐGK bao gồm các loại bản đồ mang những đặc điểm
khác nhau, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Vị trí, chức năng và
nhiệm vụ của mỗi loại bản đồ giải quyết một khâu hình thành kiến thức
Địa lí cho học sinh. Quá trình sử dụng sử dụng phối hợp các loại bản đồ
19
trong trường học sẽ hình thành hệ thống kiến thức bản đồ trong học sinh,
giúp các em học tập bộ môn Địa lí có kết quả. Đó là yêu cầu khách quan
xuất hiện trong quá trình sử dụng bản đồ. Phù hợp với điều đó, tính sư
phạm của BĐGK thể hiện:
- BĐGK phù hợp với chương trình Địa lí của từng cấp học và
từng lớp học, phù hợp với trình độ học sinh.
- Nội dung bản đồ thể hiện chặt chẽ với sách giáo khoa. Nó
được tổng quát hóa phù hợp với nộ dung Địa lí cơ bản của bài học, phục
vụ mục đích và nhiệm vụ học tập.
- Lưới chiếu bản đồ (mạng lưới kinh và vĩ tuyến) cùng với tỉ
lệ là cơ sở khoa học để tính toán tọa độ, phương hướng, chiều dài và diện
tích trên bản đồ.
- Chữ trên bản đồ phải biểu hiện thống nhất trong các loại bản
đồ từ đầu cấp đến cuối cấp.
- Trên các bản đồ phải thống nhất hệ thống kí hiệuvà phương
pháp biểu hiện mà học sinh đã quen biết, nhất là đối với những bản đồ tự
nhiên và kinh tế.
1.1.2.3. Phân loại bản đồ giáo khoa
+ Theo tỉ lệ, chúng được chia thành bản đồ tỉ lệ lớn (lớn hơn hoặc
bằng 1 : 200.000), tỉ lệ trung bình (từ nhỏ hơn 1 : 200.000 đến 1 :
1.500.000) và tỉ lệ nhỏ (dưới 1 : 1.500.000)
+ Theo độ bao quát lãnh thổ có các bản đồ thế giới, các bản đồ bán
cầu, châu lục, đại dương và biển, các quốc gia. Ngày nay các bản đồ
chuyên đề về không gian ngoài Trái Đất như các thiên thể (bản đồ các
tuyến bay của các con tàu vũ trụ, bản đồ Mặt Trăng và các hành tinh
khác…) cũng có ý nghĩa lớn đối với giảng dạy Thiên văn học.
+ BĐGK còn có thể phân loại dựa theo các phương pháp biên vẽ
(chấm điểm, nền chất lượng, vùng phân bố, bản đồ - biểu đồ…) hoặc theo
đặc tính sử dụng (treo tường và để bàn) , màu sắc (một màu, nhiều màu).
Việc phân chia BĐGK theo nội dung ra thành bản đồ địa lí chung,
bản đồ dân cư, bản đồ kinh tế chung, rồi tiếp tục phân thành các bản đồ thể
hiện một hoặc vài yếu tố nội dung của các bản đồ trên là hết sức quan
trọng bởi vì nó phục vụ cho từng bài cụ thể.
+ BĐGK theo nguyên tắc xây dựng được phân thành các kiểu bản
đồ phân tích, tổng hợp và phức hợp. Trong các bản đồ phân tích, mỗi yếu
tố nội dung đều được thể hiện bằng một kí hiệu riêng. Trong bản đồ tổng
hợp thể hiện tập hợp các chỉ số của nhiều hiện tượng địa lí. Trong bản đồ
phức hợp thể hiện đồng thời vài ban hiện tượng khác nhau, mỗi hiện tượng
được biểu hiện bằng một chỉ số riêng, các chỉ số đó là các chỉ số phân tích
hoặc tổng hợp.
Một số loại BĐGK có tầm quan trọng đặc biệt trong dạy học địa lí
hiện nay:
+ Mô hình địa lý giáo khoa
Mô hình địa phương
22
Mô hình Trái Đất – Quả địa cầu
+ BĐGK treo tường
+ Bản đồ trong sách giáo khoa
Thứ ba, tạo ra sự hợp thức khoa học hiện đại trên cơ sở làm rõ
tính tương đồng của các quy luật trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Các nhiệm vụ này dẫn đến sự thay đổi nội dung trên cơ sở những
quan niệm hệ thống (chỉnh thể), chức năng, cấu trúc. Chính điều này đã tạo
ra những tiền đề phương pháp luận để hình thành hệ thống khái niệm mới
với nội dung xác định và với quan hệ đã cho một cách rõ ràng với những
chuyển đổi giữa chúng. Tổ hợp các khái niệm hệ thống là bộ khung khái
niệm khởi điểm, tạo ra sơ đồ nguyên nguyên tắc của sự phân chia khách
thể.
Hệ thống - khái niệm trung tâm biểu thị một tập hợp các phần tử
trong sự tương tác qua lại thể hiện tính chỉnh thể và tính chung của mình.
Phần tử - đơn vị không thể chia nhỏ được nữa trong một phương thức phân
chia đã cho, và nằm trong thành phần của hệ thống, việc có những mối liên
hệ giữa các phần tử sẽ dẫn đến sự xuất hiện trong hệ thống chỉnh thể
những tính chất mới mà không có ở phần tử trong trạng thái riêng biệt. Vi
điều này,
Chỉnh thể - hình thức của tồn tại hệ thống với tư cách được xác định
chặt chẽ, phản ánh sự độc lập của nó với các hệ thống khác.
Tính chỉnh thể là tính thống nhất của hệ thống như một chỉnh thể
được các phần tử thể hiện trong sự tương tác qua lại thực tế của chúng. Nó
là cơ sở ổn định của hệ thống.
Quan điểm toàn thể: là quan điểm nghiên cứu của lý thuyết hệ thống
24
1. Khi nghiên cứu các sự vật và hiện tượng phải tôn trọng mối quan
hệ biện chứng giữa vật chất và tinh thần: vật chất có trước tinh thần, tinh
thần tác động trở lại vật chất
2. Các sự vật, hiện tượng luôn tồn tại trong mối liên hệ qua lại với
nhau, luôn có sự tác động qua lại và chi phối lẫn nhau. Sự tác động giữa
các sự vật bao giờ cũng mang tính đối ngẫu, tính nhân quả.
3. Các sự vật luôn vận động, không ngừng biến đổi cũng như môi