Đề cương ôn thi môn Triết học Mac - Lenin - Pdf 21

Câu 1: Bản chất của Thế giới
Các sự vật hiện tượng trong TG cực kỳ đa dạng và phong phú, nhưng chúng cũng gắn bó
hết sức mật thiết với nhau, phụ thuộc vào nhau và hoàn toàn thống nhất với nhau.
* Các nhà triết học duy tâm cho rằng: Bản chất của TG là ý thức. Trong mối quan hệ giữa
vật chất và ý thức thì ý thức là cái có trước, vật chất là cái có sau; ý thức quyết định vật
chất; ý thức là cơ sở, nguồn gốc cho sự ra đời, ton tai, vận động, và phát triển của các su
vật hiện tượng trong thế giới. Chủ nghĩa duy tâm khách quan: là trường phái triết học cho
rằng: ý thức tinh thần nói chung như ý niệm, ý niệm tuyệt đối, tinh thần TG là cái có
trước, tồn tại khách quan bên ngoài con người sinh ra thế giới (Platon, Heghen).
* Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: Là trường phái triết học cho rằng: ý thức, cảm giác của
con người là cơ sở quyết định sự tồn tại của các sự vật hiện tượng trong TG. Họ cho rằng
"SV chỉ là tổng hợp của giác", "xóa bỏ cảm giác là xóa bỏ sự vật",( Beccơly – hium)
* Đối lập với triết học duy tâm, các nhà duy vật truớc Mác có khuynh hướng chung là tìm
nguồn gốc, bản chất của thế giới ngay trong bản thân nó.Nhưng do ảnh hưởng của quan
điểm siêu hình, máy móc nên họ cho rằng mọi hiện trượng của TG đều được cấu tạo từ
những vật thể ban đầu giống nhau, thống nhất với nhau, cùng bị chi phối bởi một số quy
luật nhất định. Quan điểm ấy không phản ánh được tính nhiều vẻ, tính vô tận của thế giời
hiện thực.
* Bằng sự phát triển lâu dài của bản thân triết học và sự phát triển của khoa học, chủ
nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: “ bản chất của thế giới là vật chất, thế giới
thống nhất ở tính vật chất". Điều đó được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:
* Một là: Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật
chất ton tai khách quan , có trước và độc lập với ý thức của con người.
* Hai là: Mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liến hệ thống nhất với nhau, biểu
hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất , hoặc
có nguồn gốc vật chất , do vật chất sinh ra và cùng chịu sụ chi phối của những quy luật
khách quan phổ biến của thế giới vật chất.
* Ba là thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn , vô hạn và vô tận, không được sinh ra và không
bị mất đi:
Như vậy, bản chất của thế giới vật chất, TG thống nhất ở tính vật chất. Thế giới vật chất
có nguyên nhân tự nó, vĩnh hằng và vô tận với vô số những biểu hiện muôn hình muôn

thể biết đã khắc phục được sai lầm, khuyết điểm của chủ nghĩa duy vật cũ. Đồng thời có
cũng giải quyết được vấn đề cơ bản của triết học theo tinh thần duy vật biện chứng,
khẳng định vật chất có trước, ý thuc có sau, vật chất quyết định ý thức và ý thức phản ánh
vật chất.
Định nghĩa này đã mở rộng hơn về vật chất, vật chất không chỉ ton tai dưới dạng tự nhiên
, mà cả vật chất dưới dạng xã hội, (LLSX, QHSX ) khi nhận thức các hiện tượng thuoc
đời sống xã hội, định nghĩa của Lênin cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực
xã hội. Từ đó giúp các nhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích những nguyên nhân
thuộc về sự vận động của phuong thuc sản xuất; trên cơ sở ấy, người ta có thể tìm ra các
phương án tối ưu để hoạt động thúc đẩy xã hội phát triển.
Định nghĩa đã trang bị thế giới quan duy vật, phương pháp luận khoa học, cho các nhà
KH nghiên cứu TG v/c khám phá n~ thuộc tính mới của v/c. Do vậy đ/n này có t/đ đưa
KHTN và nhất là Vật lý học thoát khỏi khủng hoảng và tiếp tục tiến lên, mở đường cho
các ngành khoa học cụ thể phát triển, đem lại niềm tin cho con người về việc nhận thức
và cải tạo TG.
*Giải thích : trong hoạt động thực tiễn , con người phải xuất phát từ thực tế, khách
quan
Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải xuất phát từ thực tế
khách quan lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình. Lênin đã
nhiều lần nhấn mạnh không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không
được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược cách mạng . Nếu chỉ
xuất phát từ ý muốn chủ quan, lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện
thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí. Phát huy tính năng động chủ quan tức là
phát huy vai trò tích cực của ý thức, vai trò tích cực của yếu tố con người. Bản thân ý
thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực.
Ý thức muốn tác động trở lại đời sống hiện thực phải bằng lực lượng vật chất, nghĩa là
phải được con người thực hiện trong thực tiễn. Vai trò của ý thức là ở chỗ trang bị cho
con người những tri thức về bản chất quy luật khách quan của đối tượng trên cơ sở ấy,
con người xác định đứng đắn mục tiêu đề ra phương hướng hoạt động phù hợp .Ở đây ý
thức và tư tưởng có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành công khi

Dựa vào những thành tựu khoa học cụ thể của TK XIX Ăng – ghen đã chia vận động
thành 5 hình thức cơ bản:
+ Vận động cơ học: Là sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian
+ Vận động vật lý: là vận động của các phân tử , nguyên tử, các hạt cơ bản, các quá trình
cơ, nhiệt , điện
+ Vận động hóa học: vận động của các nguyên tử, các quá trình hóa hợp và phân giải các
chất.
+ Vận động sinh học: Trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường
+ Vận động xã hội: là sự vận động biến đổi các chế độ xã hội do mẫu thuẫn giữa các giai
cấp.
Mối quan hệ của các hình thức vận động:
Các hình thức vận động nói trên khác nhau về chất. Từ vận động cơ học đến vận động xã
hội là sự khác nhau về trình độ của sự vận động, những trình độ này tương ứng với trình
độ của các kết cấu vchat
Các hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vân động thấp và bao hàm
trong nó tất cả các hình thức vận động thấp hơn.Trong khí đó, các hình thức vận động
thấp không có khả năng bao hàm các hình thức vận động ở trình độ cao hơn. Bởi vậy,
mọi sự quy giản các hình thức vận động thấp đều sai lầm.
3
Trong sự ton tai của mình , mỗi sự vật có thể gắn liền với nhiều hình thức vận động khác
nhau. Tuy nhiên, bản thân sự ton tai của sự vật đó bao giờ cũng đặc trưng bằng một hình
thức vận động cơ bản.
Các hình thức vận động chuyển hóa cho nhau, chúng luôn được bảo toàn
* Vận động là tuyệt đối – đứng im là tương đối
- Vận động là tuyệt đối vì vận động là phương thức ton tai của vật chất, là thuộc tính cố
hữu của vật chất, nên không ở đâu , không lúc nào có vật chất mà không có vận động.
- Đứng im là tương đối vì trước hết hiện tượng đứng im chỉ xảy ra trong một mối quan hệ
nhất định chứ không phải trong mọi quan hệ cùng một lúc. Thứ hai, đứng im chỉ xảy ra
với một hình thái vận động trong một lúc nào đó, chức không phải với mọi hình thức vận
động trong cùng một lúc. Thứ ba, đứng im chỉ biểu hiện của một trạng thái vận động, đó

bên ngoài tác động lên bộ óc- đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
Nguồn gốc xã hội
Để cho ý thức ra đời , những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể
thiếu được, song chưa đủ , điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là những tiên`
4
đề, nguồn gốc xã hội. Ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc con người nhờ
lao động và ngôn ngữ.
* Lao động là quá trình con người tác động vào thế giới tự nhiên nhằm tạo ra những sản
phẩm phục vụ cho các nhu cầu của mình, nó là điều kiện đầu tiên và chủ yếu để con
người tập hợp. Đồng thời , lao động sáng tạo ra cả bản thân con người , nhờ lao động con
người tách ra khỏi giới động vật. Một trong những sự khác nhau căn bản giữa con người
với động vật là ở chỗ động vật sử dụng các sản phẩm có sẵn trong tự nhiên, còn con
người thì nhờ lao động mà bắt thế giới tự nhiên phục vụ mục đích vào nhu cầu của mình.
Chính thông qua hoạt động lao động nhằm cải tạo thế giới khách quan mà con người mới
có thể phản ánh được thế giới khách quan, mới có ý thức về thế giới đó.
Lao động không xuất hiện ở trạng thai đơn nhất, ngay từ đầu nó đã mang tính tập thể xã
hội. Vì vậy nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và nhu cầu trao đổi tư tưởng cho nhau xuất hiện
chính nhu cầu đó đòi hỏi xuất hiện ngôn ngữ .
Ngôn ngữ là do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành. Ngôn ngữ là hệ
thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức, không có ngôn ngữ thì ý thức không ton tai
va the hien được.Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp trong xã hội, đồng thời là công
cụ của tư duy nhằm khái quát hoá, trừu tượng hóa hiện thực. Nhờ ngôn ngữ mà con người
tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông tin, trao đổi trí thức từ thế hệ này đến thế hệ khác.
Vậy nguồn gốc xã hội là nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát
triển của ý thức. Ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người thông qua lao
động, NN và các quan hệ xã hội. Ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội.
Bản chất của ý thức
Trong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức là 1 thực thể độc lập, là thực
tại duy nhất, ý thức sinh ra vật chất chứ không phải là sự phản ánh của vật chất .Còn các
nhà duy vật trước Mác đều thừa nhận vật chất ton tai khách quan và ý thức là sự phản ánh

b). YT có tính độc lập tương đối, t/đ trở lại v/c:
- YT t/đ trở lại v/c: - YT p/a’ hiện thực khách quan vào bộ óc con ng` 1 cách năng động,
sang tạo. Nó giúp con ng` hiểu biết b/c và quy luật v/đ của sự vật., hiện tượng.
Nhờ có YT con ng` pb đc đúng, sai, lợi, hại, cái gì nên làm, cái gì ko nên làm, tìm đc
đường đi đúng.
* Liên hệ bản thân: Cơ thể ta là v/c, kiến thức ta thu đc la YT. Khi cơ thể ta khoẻ mạnh
thì sẽ tiếp thu kiến thức tốt hơn khi ta ốm.
c). Biểu hiện của mối qh giữa v/c và YT trong đời sống XH là qh giữa tồn tại XH và YT
XH, trong đó tồn tại XH q’đ YT XH và YT XH có tính độc lập tương đối t/đ trở lại tồn
tại XH. Ngoài ra, mối qh giữa v/c và YT còn là cơ sở để xem xét các mối qh # như: chủ
thể và khách thể, lý luận và thực tiễn, điều kiện KQ và nhân tố chủ quan …
(*)Ý nghĩa phương pháp luật;
- Xuất phát tự thực tế khách quan, tôn trọng khách quan là xuất phát từ tính khách quan
cảu vật chất, có thái độ tôn trọng hiện thực khách quan mà căn bản là tôn trọng qui luật,
nhận thức và hành động theo qui luật.Đòi hỏi trong nhận thức và hành động của con
người phải xuất phát từ thực tế khách quan.
-Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạo của ý
thức và phát huy vai trò con người trong việc vật chất hoá tính tích cực, năng động sáng
tạo đó.
-> Con người phải tôn trọng tri thức khoa học, tích cực học tập nghiên cứu để làm chủ tri
thức khoa học và truyền bá nó vào quần chúng, để nó trở thành tri thức, niềm tin cho
quần chúng, hướng dẫn quần chúng hành động.mặt khác phải tự giác tu dưỡng rèn luyện
để hình thành củng cố nhân sinh quan các mạng, tình cảm, nghị lực chứng minh để có sự
thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn trong phương hướng động.
-Chống lại bệnh chủ quan, duy ý chí cũng như thái độ thụ động chờ đợi vào điều kiện vật
chất, hoàn cảnh khách quan.
Câu 6: Nội dung QL thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập? giai quyet mâu
thuẫn cơ bản của bản thân như thế nào?
Quy luật mâu thuẫn là 1 trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, nó chỉ ra
nguồn gốc, động lực cho sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng, được coi là hạt

đối, vì bất cứ sự thống nhất nào cùng là sự thống nhất có điều kiện, tạm thời, thoáng qua,
gắn liền với đứng im tương đối của sinh vật. Còn đấu tranh là tuyệt đối, vì nó diễn ra liên
tục không bao giờ ngừng ,trong suốt quá trình ton tai các mặt đối lập, từ đầu đến cuối.
Ngay trong thống nhất vẫn đấu tranh. Đấu tranh gắn liền với vận động, mà vận động của
vật chất là tuyệt đối nên đấu tranh cũng tuyệt đối.
Từ sự phân tích trên, có thể rút ra nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập như sau: mọi su vật đều chứa đựng những mặt có khuynh hướng biến đổi trái
ngược nhau gọi là những mặt đối lập. Mối quan hệ của hai mặt đối lập tạo nên mâu
thuẫn. các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa chuyển hóa lẫn nhau làm mâu thuẫn
được giải quyết, sự vật biến đổi và phát triển, cái mới ra đời thay thế cái cũ.
Giải quyết mâu thuẫn cơ bản của bản thân?
Để nhận thức đúng bản chất và phương hướng giải quyết mâu thuẫn, trước hết phải tìm ra
trong thể thống nhất những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức là tìm ra
những mặt đối lập và tìm ra những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt
đối lập đó.
Khi xem xét mâu thuẫn , phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mâu thuẫn,
xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu thuẫn. Chỉ có như thế mới có
thể hiểu đúng mâu thuẫn của sự vật , hiểu đúng xu hướng vận động phát triển và điều
kiện để giải quyết mâu thuẫn.
Để thúc đẩy sự phát triển phải tìm mọi cách để giải quyết mâu thuẫn, không được dung
hòa mâu thuẫn. Việc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn phải phù hợp với trình độ phát triển
của mâu thuẫn. Phải tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng để giải quyết mâu
thuẫn. Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi điều kiện đã chín muồi. Một mặt phải chống
7
thái độ chủ quan, nóng vội; mặt khác phải tích cực thúc đẩy các điều kiện khách quan để
làm cho các điều kiện giải quyết mâu thuẫn đi đến chín muồi.
Mâu thuẫn khác nhau phải có phương hướng giải quyết khác nhau. Phải tìm ra các hình
thức giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa phù hợp với từng loại mâu thuẫn , vừa
phù hợp với điều kiện cụ thể.


mặt bản chất người của con người là mặt xã hội. Do vậy chủ thể nhận thức thường bị chi
phối bởi:
+ Điều kiện, hoàn cảnh lịch sử về kinh tế, chính trị, xã hội, về lợi ích giai cấp, về phong
tục, tập quán
+ Sự kế thừa tri thức, hiểu biết của dân tộc
+ Đặc điểm tâm sinh lý, đặc điểm là năng lực nhận thức, năng lực tư duy của ca nhan chủ
thể
Khách thể nhận thức là hiện thực khách quan nằm trên phạm vi hoạt động của con người,
có thể là thế giới vật chất, cũng có thể là thế giới tinh thần đã được khách thể hóa, trở
thành đối tượng của nhận thức.
8
Nhận thức là sự phản ánh của chủ thể đối với khách thể? coi nhận thức là sự phản ánh
hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của
chủ thể, không có cái gì là không thể nhận thức được mà chỉ có cái con người chưa nhận
thức được nhưng sẽ nhận thức được.
Quá trình nhận thức là một quá trình biện chứng tích cực, tự giác và sáng tạo. Quá trình
ấy diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến
bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
* Phạm trù thực tiễn: Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mđich, mang tính
lịch sử xã hội của con người, nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
Khác với hoạt động tư duy, hoạt động thực tiễn là hoạt động mà con người sử dụng
những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất làm biến đổi chúng theo
mđ của mình. Những hoạt động ấy là những hoạt động đặc trưng và cơ bản nhất của con
người. Nó được thực hiện một cách tất yếu khách quan và không ngừng được phát triển
bởi con người qua các thời kỳ lịch sử.
Chính vì vậy mà thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động vật chất có mđich và mang tính lịch
sử xã hội.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức được thể hiện trước hết ở chỗ: Thực tiễn là
cơ sở của nhận thưc, là động lực của nhận thức, là mục đích của nhận thức và là

Câu 8: vai trò của SXVC và PTSX đối với sự ton tai và phát triển của xã hội
Vai trò của SX V/C
Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người. Sản xuất xã hội bao
gồm : SXV/C, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người. Ba quá trình đó gắn
bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở của sự
tập hợp và phát triển của xã hội.
Những quan điểm khác nhau về lịch sử?
* Các nhà triết học theo quan điểm duy tâm xưa nay đều quy nguyên nhan và động lực
của sự vận động và phát triển của xã hội vào lĩnh vực tinh thần. Chủ nghĩa duy tâm chủ
quan cho rằng nguyên nhan và động lực đó thuộc về tư tưởng của những vĩ nhân, còn chủ
nghĩa duy tâm khách quan và tôn giáo thì tìm nguyên nhan và động lực đó trong các lực
lượng siêu tự nhiên như " ý niệm tuyệt đối, thượng đế
* Phoi ở Bắc – nhà triết học duy vật cổ điển Đức cho rằng tôn giáo là lực lượng chính của
sự phát triển lịch sử, là căn cứ để pbiet các thời kỳ lịch sử.
- Quan điểm của triết học Mác – Lênin
SXVC là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên , cải biến
các dạng vật chất của giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu ton tai
và phát triển của con người.
Con người làm ra lịch sử của mình. Song muốn làm ra lịch sử, trước hết họ cần phải
sống, muốn sống được họ phải có cái ăn, cái mặc và chỗ ở. Muốn vậy họ phải lao động
sản xuất ra của cải vật chất. Do đó,SXVC là yêu cầu khách quan , là cơ sở của sự ton tai ,
vận động và phát triển của xã hội.
SXVC là cơ sở hình thành các loại quan hệ và các thiết chế XH khác nhau. Tất cả các
quan hệ xã hội về nhà nước, pháp quyền, đạo đức,nghệ thuật , tôn giáo đều hình
thành , biến đổi trên cơ sở vật chất.
SXVC là cơ sở cho sự tiến bộ xã hội. Trong các yếu tố cấu thành một hình thái kinh tế xã
hội thì LLSX là yếu tố năng động nhất, cách mạng nhất, nghia là nó luôn phát triển một
cách khách quan, khi LLSX phát triển nó kéo theo sự thay đổi của QHSX , từ đó làm thay
đổi các quan hệ xã hội khác, làm cho xã hội phát triển từ thấp đến cao.
Vai trò của PTSX

lao động, trình độ , kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người; trình độ tổ chức và
phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất.
Gắn liền với trình độ của LLSX là tình chất của LLSx .Trong lịch sử xã hội , LLSX phát
triển từ chỗ có tính chất cá nhân lên tính chất xã hội hóa,. Khi sản xuất dựa trên công cụ
thủ công , phân công lao động kém phát triển thì LLSX chủ yếu có tính chất cá nhân. Khi
sản xuất đạt đến trình độ cơ khí hiện tại, phân công lao động phát triển thì LLSX có tính
chất xã hội hóa.
LLSX quyết định QHSX
* LLSx ntn về tính chất và trình độ thì QHSX phải như thế ấy để đảm bảo sự phù hợp .
Sự phù hợp của QHSX với trình độ của LLSX là một trạng thái mà trong đó QHSX là "
hình thức phát triển" của LLSX, trong trạng thái đó, tất cả các mặt của QHSX đều tạo địa
bàn đầy đủ cho LLSX phát triển. Nghĩa là nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách
tối ưu giữa người lao động với TLSX và do đó LLSX có cơ sở phát triển hết khả năng
của nó.
- Khi LLSX đã thay đổi về tính chất và trình độ thì QHSX cũng phải thay đổi theo để
đảm bảo sự phù hợp . Trong quá trình sản xuất,sự phát triển của LLSX là khách quan do
con người luôn luôn muốn cải tiến công cụ, cải tiến phương pháp, tích lũy sáng kiến và
kinh nghiệm khi LLSX phát triển đến mức độ nhất định, làm cho QHSX cũ không còn
phù hợp nữa , nó sẽ cản trở LLSX phát triển.
- KHi LLSX cũ mất di , LLSX mới ra đời thì QHSX cũ cũng phải mất đi và QHSX mới
phải ra đời để đảm bảo sự phù hợp. LLSX vận động, phát triển đến một trình độ nhất
định sẽ mâu thuẫn với QHSX làm cho QHSX từ chỗ phù hợp trờ thành không phù hợp
với sự phát triển của LLSX. Khi đó, QHSX trở thành "xiềng xích" của LLSX,kìm hãm
LLSX phát triển. Yêu cầu khách quan của sự phát triển LLSX tất yếu dẫn đến thay the
QHSX cũ bằng QHSX mới phù hợp với trình độ phát triển mới của LLSX để thúc đẩy
LLSX tiếp tục phát triển . Thay thế QHSX cũ = QHSX mới cũng có nghĩa là PTSX cũ
mất đi , PTSX mới ra đời.
* LLSX quyết định QHSX nhưng QHSX cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở
lại sự phát triển của LLSX. QHSX quy định mđich của sản xuất, tác động đến thái độ của
con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển

QHSX được hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất tạo thành quan hệ
vật chất của xã hội. Trên cơ sở QHSX hình thành nên các quan hệ về chính trị và tinh
thần của xã hội. Hai mặt đó của đời sống xã hội được khái quát thành CSHT và KTTT
của xã hội.
CSHT là toàn bộ những QHSX hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định
CSHT của một xã hội cụ thể bao gồm QHSX thống trị, QHSX tàn dư của XH cũ và quan
hệ mầm mống của xã hội tương lai. Trong đó QHSX thống trị giữ vai trò chủ đạo, có quy
định xu hướng chung của đời sống KT-XH. Bởi vậy, CSHT của một xã hội cụ thể được
đặc trưng bởi QHSX thống trị trong XH đó.
KTTT là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền triết học, đạo đức, tôn giáo,
nghệ thuật cùng với những thiết chế XH tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội,
cáo đoàn thể XH được hình thành trên CSHT nhất định.
Mỗi yếu tố của KTTT có điểm riêng, có quy luật vận động và phát triển riêng, nhưng
chúng liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và đều hình thành trên CSHT. Trong xã
hội có giai cấp, KTTT mang tính giai cấp thì nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó
tiêu biểu cho chế độ chính trị của một xã hội nhất định. Nhờ có nhà nước, giai cấp thông
trị mới thực hiện được sự thống trị của mình về tất cả các mặt của đời sống xã hội.
12
Quan hệ biện chứng giữa KTTT và CSHT
Vai trò quyết định của CSHT đối với KTT
Vai trò quyết định của CSHT đối với KTT trước hết thể hiện ở chỗ: CSHT như thế nào
thì KTTT dựng trên nó phải như thế ấy để đảm bảo sự tương ứng. Nghĩa là CSHT nào thì
KTTT ấy, QHSX nào thống trị thì tạo ra một KTTT chính trị tương ứng. Các mâu thuẫn
trong kinh tế, quyết định mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị tư tưởng; cuộc đấu tranh giai
cấp về chính trị tư tưởng là biểu hiện những đối kháng trong đời sống kinh tế. Tất cả các
yếu tố của KTTT như nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo đều trực tiếp hay gián
tiếp phụ thuộc vào CSHT, do CSHT quyết định
Vai trò quyết định của CSHT đối với KTTT còn thể hiện ở chỗ CSHT thay đổi thì KTTT
cũng thay đổi theo để đảm bảo sự tương ứng. Nghĩa là những biến đổi trong CSHT sớm
muộn cũng dẫn tới sự biến đổi trong KTTT. Quá trình đó không chỉ trong giai đoạn thay

là năng xuất và hiệu quả kinh tế.
Nhận thức rõ vai trò của thành phần kinh tế nhà nước trong đại hội IX, Đảng ta chỉ rõ: "
tiếp tục đổi mới và phát triển nhà nước để thực hiện tốt vai trò chủ đao trong nền kinh tế”.
13
Đại hội X tiếp tục khẳng định: “ KTNN giữ vai trò chủ đạo, KTNN cùng với kinh tế tập
thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân".
Trên nền tảng CSHt đã được xác định mà một KTTT tương ứng với nó hình thành, Đảng
ta đã xác định tính chất của hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ là:
Hệ thống chính trị của nước ta phải mang bản chất giai cấp công nhân , tức là Đảng cộng
sản việt nam là người lãnh đạo duy nhất lấy học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng HCM
làm nền tảng tư tưởng chính trị và kim chỉ nam cho mọi hoạt động
Mỗi bộ phận trong hệ thống chính trị có nhiệm vụ, chức năng riêng, có phương thức hoạt
động riêng song phải đoàn kết, hợp tác để đi tới mục tiêu chung là chủ nghĩa CS ,mà giai
đoạn đầu là CNXH , một chế độ xã hội , lấy con người làm trọng tâm, tất cả do con
người, vì con người , " sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi người là điều kiện cho sự
phát triển do tự do và toàn diện của tất cả mọi nguoi".
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status