Đánh giá và tổ chức sử dụng các hệ thống văn bản Quản lý nhà nước TS Nguyễn Văn Hậu
Đề tài : Các tiêu chuẩn cơ bản của
việc định giá trị văn bản
1
Đánh giá và tổ chức sử dụng các hệ thống văn bản Quản lý nhà nước TS Nguyễn Văn Hậu
Mục Lục
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời đại ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển trên xu thế hiện đại
hóa công nghiệp hóa, việc tổ chức sắp xếp một cách khoa học các hoạt động giao
tiếp, các công việc hành chính văn phòng trong công sở, cơ quan, đơn vị và các tổ
chức doanh nghiệp là nhu cầu bức thiết hiện nay. Trong đó công việc soạn thảo
văn bản là một mảng quan trọng không thể tách rời cùng sự phát triển lớn mạnh
của cơ quan đơn vị mà đặc biệt là các doanh nghiệp. Việc soạn thảo văn bản tốt sẽ
2
Đánh giá và tổ chức sử dụng các hệ thống văn bản Quản lý nhà nước TS Nguyễn Văn Hậu
giúp cho các họat động điều hành quản lý của cơ quan đơn vị thông suốt, nâng cao
hiệu quả công việc.
Là sản phẩm và phương tiện của họat động giao tiếp, văn bản ngày càng
đóng vai trò quan trọng không thể tách rời với mọi họat động giao tiếp của xã hội
con người. Đặc biệt trong hoạt động quản lý nhà nước, trong giao dịch giữa các cơ
quan tổ chức, đơn vị với nhau, giữa các cơ quan tổ chức với cá nhân, giữa cá nhân
với cá nhân…. và với các mối quan hệ ngoài nước. Vì văn bản là phương tiện
thông tin cơ bản, là sợi dây liên lạc chính. Đối với chính quyền nhà nước văn bản
là yếu tố quan trọng để kiến tạo thể chế của nền hành chính nhà nước. Thực tiễn
cho thấy, tất cả các cơ quan, tổ chức đơn vị, cá nhân… không thể không sử dụng
văn bản trong các họat động giao dịch, điều hành tổ chức với một khối lượng lớn.
Trong công tác quản lý nhà nước văn bản là phương tiện quan trọng để ghi lại và
truyền đạt các các quyết định qủan lý, là hình thức để cụ thể hóa pháp luật, là
phương tiện để điều chỉnh những quan hệ xã hội thuộc phạm vi quản lý nhà nước .
Thực tế trong những năm qua công tác soạn thảo văn bản đã góp phần tích
cực đáp ứng được các yêu cầu quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã
thành cảm ơn.
1. Khái niệm chung
1.1 Văn bản
Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, được tạo lập
bởi sự liên kết các câu, các đoạn văn… tạo thành một đơn vị hoàn chỉnh về nội
dung và hình thức và hướng tới một mục đích giao tiếp nhất định.
4
Đánh giá và tổ chức sử dụng các hệ thống văn bản Quản lý nhà nước TS Nguyễn Văn Hậu
Văn bản quản lý Nhà nước thực chất là các quyết định quản lý Nhà nước do
các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thể thức, thủ tục, thẩm quyền
do luật định mang tính quyền lực đơn phương. Văn bản quản lý Nhà nước còn là
phương tiện để xác định và vận dụng các chuẩn mực pháp lý vào qua trình quản lý
Nhà nước.
1.2 Tiêu chuẩn
Tiêu chuẩn là thước đo giá trị được công nhận chung để so sánh một đối
tượng này với một đối tượng khác.
Tiêu chuẩn đánh giá văn bản là thước đo chung để xem xét ý nghĩa của các
văn bản trong quá trình bảo quản và sử dụng chúng.
1.3 Những mục tiêu chung
Để xem xét khả năng sử dụng văn bản;
Để tổ chức bảo quản văn bản hợp lý;
Để phát hiện các bất hợp lý trong các hệ thống văn bản;
Góp phần xác định kết quả và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
2. Các tiêu chuẩn đánh giá văn bản
2.1 Các tiêu chuẩn về tác giả
- Về cơ quan:
Việc xác định được đúng chức năng, nhiệm vụ là cơ sở quyết định để thiết
lập tổ chức của các cơ quan hành chính. Vì vậy, đây là vấn đề rất cơ bản cấp thiết,
5
Đánh giá và tổ chức sử dụng các hệ thống văn bản Quản lý nhà nước TS Nguyễn Văn Hậu
vọng của nhà quản lý mà không tính đến nguyện vọng của đối tượng bị quản lý
(người dân và các đối tượng sẽ chịu sự tác động trực tiếp của văn bản) thì dù văn
bản có được soạn thảo kỹ lưỡng hay được chuẩn bị đầy đủ, văn bản đó vẫn luôn
luôn thiếu căn cứ thực tiễn và văn bản được ban hành sẽ thiếu tính khả thi hoặc
không có hiệu quả cao trên thực tế. Để khắc phục những hạn chế này, trước khi
soạn thảo, người soạn thảo phải có những đánh giá, tổng kết thực tiễn hoạt động
quản lý, tình hình thi hành pháp luật, đồng thời căn cứ vào nhu cầu quản lý cũng
như tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật; thậm chí phải tham khảo, lấy
ý kiến của nhân dân trước khi soạn thảo, ban hành văn bản. Thứ hai là dù quan
điểm của người soạn thảo văn bản là rất quý báu và xuất phát từ kinh nghiệm quản
lý nhà nước nhưng kinh nghiệm ấy vẫn chủ yếu mang tính chất cá nhân mà chưa
phải là một cách nhìn có hệ thống và bài bản nhằm giải quyết một cách căn bản
những vấn đề kinh tế, xã hội do thực tiễn đặt ra. Điều này đặc biệt đúng khi kinh
nghiệm đó chưa được kiểm nghiệm qua thực tế, thông qua việc đánh giá kết quả
thu được, lắng nghe ý kiến phản hồi từ người dân.
2.2 Các tiêu chuẩn về nội dung
- Nội dung:
Một là vấn đề điều chỉnh:
Xác định phạm vi, đối tượng điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật là
việc người soạn thảo giới hạn sự tác động của văn bản lên các quan hệ xã hội và
đối tượng tác động cụ thể. Ngay từ trước khi soạn thảo văn bản, người soạn thảo
đã phải xác định rõ: văn bản được ban hành để điều chỉnh những loại quan hệ xã
hội nào, tác động tới những đối tượng nào.
Trên cơ sở đó việc xác định phạm vi, đối tượng điều chỉnh của văn bản quy
phạm pháp luật gồm những nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, xác định tính chất quan hệ xã hội cần điều chỉnh. Các quan hệ xã
hội có thể được phân chia thành nhiều nhóm khác nhau, dựa vào mức độ quan
7
Đánh giá và tổ chức sử dụng các hệ thống văn bản Quản lý nhà nước TS Nguyễn Văn Hậu
trọng và sự ổn định của chúng, từ đó xác định thẩm quyền ban hành văn bản để
hạn đó, trên cơ sở xem xét tính chất và nội dung các quy định trong văn bản quy
phạm pháp luật. Có những quy định về lĩnh vực chuyên môn như: về tuyển dụng
cán bộ, công chức, về tiền lương liên quan đến tất cả các ngành, nên văn bản quy
phạm pháp luật quy định về những vấn đề này cần được áp dụng trong tất cả các
ngành để bảo đảm sự thống nhất. Tuy nhiên, cũng có những quy định về các vấn
đề mang tính đặc thù của một số lĩnh vực chuyên môn nhất định, nên chỉ áp dụng
trong những lĩnh vực chuyên môn đó mà không thể áp dụng sang những lĩnh vực
chuyên môn khác. Do đó, khi soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, người soạn
thảo cần xác định rõ giới hạn lĩnh vực áp dụng văn bản quy phạm pháp luật đó.
Trên cơ sở các vấn đề nói trên, người soạn thảo cần xác định rõ dự thảo văn
bản điều chỉnh những vấn đề gì, áp dụng đối với những đối tượng nào, đã đầy đủ
chưa trên cơ sở thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của từng chủ
thể; dự thảo không được quy định mở rộng thêm hoặc bỏ lọt đối tượng, phạm vi
điều chỉnh để văn bản sau khi được ban hành phải đảm bảo tính hợp hiến, hợp
pháp, tính thống nhất và tính khả thi trên thực tế.
Hai là về thể loại văn bản
Thể loại văn bản là tên gọi của từng loại văn bản, phù hợp với tính chất, nội
dung và mục đích ban hành của văn bản.
Văn bản được ban hành đúng căn cứ pháp lý, tức là việc ban hành văn bản
có căn cứ pháp lý và những căn cứ pháp lý đó đang có hiệu lực pháp luật vào thời
điểm ban hành; cơ quan, thủ trưởng đơn vị trình dự thảo văn bản có thẩm quyền
trình theo quy định của pháp luật; những đề nghị để ban hành văn bản là hợp pháp;
Văn bản được ban hành đúng thẩm quyền, bao gồm thẩm quyền về hình
thức và thẩm quyền về nội dung. Thẩm quyền về hình thức là cơ quan, người có
thẩm quyền chỉ được ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo đúng thể loại
9
Đánh giá và tổ chức sử dụng các hệ thống văn bản Quản lý nhà nước TS Nguyễn Văn Hậu
văn bản đã được Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định cho cơ
quan, người có thẩm quyền đó.
Ba là độ bao quát vấn đề
Lụât này vẫn chưa ra đời. Mặt khác, có văn bản cần ban hành trước nhưng lại
được ban hành sau, ví dụ như Luật Công nghệ thông tin cần có trước Luật Giao
dịch điện tử, hiện nay vì chưa có những quy định cần thiết nên một số quy định
của Luật Giao dịch điện tử về chữ ký điện tử vẫn chưa thể thực hiện được.
Sáu là tính logic
Đây là một trong những yêu cầu quan trọng về mặt khoa học tạo nên chất
lượng của văn bản. Mặc dù văn bản có đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về chính trị,
pháp lý… nhưng được phân chia, sắp xếp không lôgic, chặt chẽ, văn bản đó không
thể có tính khả thi và chất lượng không cao. Một văn bản được coi là có nội dung
lôgic khi văn bản đó phân chia, sắp xếp theo những cách thức:
+ Quy định chung được trình bày trước quy định cụ thể trong cùng một vấn
đề (khái quát – cụ thể).
+ Quy định về nội dung được trình bày trước quy định về thủ tục.
+ Quy định về trường hợp phổ biến trình bày trước quy định về trường hợp
có tính đặc thù;
+ Quy định về quyền, nghĩa vụ được trình bày trước quy định về chế tài;
+ Quy định có tính chất quan trọng được trình bày trước quy định có tính
chất ít quan trọng;
+ Trình bày theo trình tự diễn biến của vấn đề (trong văn bản chỉ quy định về thủ
tục).
Tuỳ theo nội dung của mỗi văn bản khác nhau mà người soạn thảo lựa chọn
cách trình bày bố cục lôgic trên theo kế cấu điều khoản (phần, chương, mục, điều,
11
Đánh giá và tổ chức sử dụng các hệ thống văn bản Quản lý nhà nước TS Nguyễn Văn Hậu
khoản, điểm) hay theo kết cấu nghị luận (I, 1, a, …). Thông thường đối với nhóm
văn bản hành chính (công văn, báo cáo, tờ trình…) lựa chọn cách phân chia nội
dung theo kết cấu nghị luận mà không chia theo điều khoản, còn luật, pháp lệnh,
quyết định, nghị định nội dung được phân chia, sắp xếp theo kết cấu điều khoản;
thông tư, chỉ thị theo kết cấu nghị luận.
- Tính pháp lý
thức vì theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996
(sửa đổi, bổ sung năm 2002), thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ không có thẩm
quyền ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư với tư cách văn bản quy phạm pháp
luật.
Mặc dù vậy, trên thực tế việc lựa chọn đúng tên gọi văn bản để giải quyết
những công việc phát sinh không phải lúc nào cũng dễ dàng, vì có nhiều loại văn
bản không được pháp luật quy định như: công văn, báo cáo, thông báo…, khi ban
hành chủ yếu dựa vào tính chất của mỗi loại việc để lựa chọn cho phù hợp. Ví dụ:
Chi cục Hải quan cần xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên, lựa chọn công văn đề nghị là
phù hợp nhất, cần trình cấp trên đề án công tác hoặc dự thảo văn bản pháp luật, có
thể lựa chọn công văn hoặc tờ trình. Nhưng điều quan trọng là khi nào trình cấp
trên đề án, chương trình, dự thảo văn bản … bằng công văn và khi nào trình bằng
tờ trình, hoàn toàn không có căn cứ pháp lý mà chỉ dựa vào sự hợp lý về khoa học
để phân biệt và lựa chọn. Do vậy, khi xem xét tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của
văn bản về thẩm quyền hình thức đối với văn bản pháp luật phải dựa trên cơ sở
quy định của pháp luật, còn văn bản hành chính đòi hỏi cần có sự linh hoạt và kết
hợp với các tiêu chuẩn khác về mặt khoa học.
Thứ hai, nội dung của văn bản phải hợp pháp. Văn bản được ban hành đúng
thẩm quyền nhưng nội dung không hợp pháp, văn bản đó không thể có chất lượng
và cần phải đình chỉ thi hành để cấp có thẩm quyền bãi bỏ hoặc huỷ bỏ. Vì thế, nội
13
Đánh giá và tổ chức sử dụng các hệ thống văn bản Quản lý nhà nước TS Nguyễn Văn Hậu
dung của văn bản phải hợp pháp là yêu cầu quan trọng về mặt pháp lý mà Nhà
nước đặt ra đối với các chủ thể ban hành văn bản. Dù là văn bản pháp luật hay văn
bản hành chính thì nội dung của chúng bắt buộc phải đúng với quy định của pháp
luật. Tính hợp pháp về nội dung của văn bản được biểu hiện thông qua các yêu cầu
cơ bản sau:
- Nội dung của văn bản quy phạm pháp luật quốc gia phải phù hợp với nội
dung các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
- Nội dung của văn bản do cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền ban
định hành chính trong lĩnh vực Hải quan…
Thứ ba, Thể thức văn bản phải tuân theo đúng quy định của pháp luật. Đây
cũng là một trong những yêu cầu góp phần bảo đảm tính hợp pháp của văn bản.
Văn bản được ban hành không chỉ hợp pháp về nội dung mà còn hợp pháp cả về
hình thức. Theo quy định của Thông tư liên tịch số 55/2005/NĐ-CP, ngày 06-05-
2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và cách thức
trình bày văn bản, văn bản được coi là hợp pháp về hình thức khi có đầy đủ các đề
mục được trình bày đúng vị trí, loại chữ, cỡ chữ sử dụng
Thứ tư, văn bản được ban hành đúng thủ tục pháp luật quy định. Tuỳ thuộc
vào mỗi loại văn bản khác nhau mà pháp luật quy định về thủ tục ban hành cũng
như thủ tục quản lý cũng có nét khác biệt. Nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thủ tục ban hành phải tuân theo đúng quy
định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung
năm 2002) và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân
và Uỷ ban nhân dân năm 2004. Tổng cục Hải quan mặc dù không có thẩm quyền
ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhưng được Bộ Tài chính uỷ quyền soạn
thảo quyết định, chỉ thị, thông tư (với tư cách tham mưu) có liên quan đến chuyên
môn, nghiệp vụ của ngành Hải quan. Ví dụ: Tổng cục Hải quan được Bộ Tài chính
giao nhiệm vụ soạn thảo Thông tư số 62/2007/TT-BTC, ngày 14-6-2007 của Bộ
15
Đánh giá và tổ chức sử dụng các hệ thống văn bản Quản lý nhà nước TS Nguyễn Văn Hậu
Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 97/2007/NĐ-CP, ngày 07-6-2007 về
xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết đinh hành chính trong
lĩnh vực Hải quan. Vì vậy, trong quá trình thực hiện, Tổng cục Hải quan phải tuân
theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996
(sửa đổi, bổ sung năm 2002) về các thủ tục: thành lập ban soạn thảo, khảo sát thực
tế, nghiên cứu, chuẩn bị đề cương dự thảo, soạn thảo, thảo luận lấy ý kiến đóng
góp các đối tượng có liên quan, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo văn bản, chuyển dự thảo
văn bản tới Vụ Pháp chế của Bộ Tài chính để thẩm định, trình lãnh đạo Bộ Tài
chính thông qua, ký và ban hành.
cấp dưới không được coi là văn bản bởi “lời nói gió bay”. Nếu cấp dưới không
thực hiện mệnh lệnh miệng của cấp trên, cấp trên không thể có chứng cứ rõ ràng
để áp dụng chế tài kỷ luật cấp dưới được, bởi Nhà nước chỉ thừa nhận hình thức
tồn tại chính thống của văn bản là thành văn.
+ Ngôn ngữ trong văn bản của Nhà nước là ngôn ngữ Tiếng Việt. Đây là
yêu cầu bắt buộc đối với mọi văn bản của Nhà nước. Sử dụng ngôn ngữ Tiếng
Việt trong văn bản của Nhà nước đảm bảo tính hợp pháp và hợp lý hơn so với việc
sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số. Tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) quy định: “Văn bản quy
phạm pháp luật phải được thể hiện bằng Tiếng Việt”. Hình thức pháp lý quan
trọng nhất được thể hiện bằng Tiếng Việt, có nghĩa những văn bản áp dụng pháp
luật và văn bản hành chính – kết quả của hoạt động áp dụng pháp luật và triển khai
thực hiện văn bản quy phạm pháp luật cũng phải tuân theo quy định này. Ngoài ra,
ngôn ngữ trong văn bản của Nhà nước là ngôn ngữ Tiếng Việt còn bảo đảm sự
hợp lý về khoa học. Với 54 dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam , mỗi
dân tộc có tiếng nói và chữ viết riêng của mình. Do vậy, Nhà nước phải lựa chọn
một ngôn ngữ chính thống theo tiêu chí khoa học: là ngôn ngữ của dân tộc có số
dân chiếm đại đa số – dân tộc Kinh. Lựa chọn Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thống
17
Đánh giá và tổ chức sử dụng các hệ thống văn bản Quản lý nhà nước TS Nguyễn Văn Hậu
có nhiều điểm thuận tiện trong quá trình soạn thảo cũng như tổ chức thực hiện văn
bản trong thực tiễn. Đối tượng mà văn bản tác động tới là công dân, các tổ chức,
chỉ có thể nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật khi họ hiểu được quy định đó cho phép
làm gì, bắt buộc làm gì và cấm làm gì. Vì thế, với số dân chiếm đại đa số sử dụng
Tiếng Việt như vậy sẽ thuận tiện cho quá trình tuyên truyền, phổ biến, tổ chức
thực hiện văn bản. Ngược lại, sẽ là không thuận nếu Nhà nước sử dụng ngôn ngữ
của dân tộc thiểu số làm ngôn ngữ chính thống trong văn bản của mình.
+ Là ngôn ngữ được Nhà nước sử dụng. Ngôn ngữ trong văn bản của Nhà
nước là ngôn ngữ Tiếng Việt nhưng có sự chuẩn mực cao hơn Tiếng Việt thông
dụng thể hiện thông qua bốn yêu cầu :
qua hành vi của các chủ thể và thông qua các chỉ số cụ thể khác vốn rất đa dạng và
phong phú, nên việc xác định những kết quả do sự tác động của pháp luật đòi hỏi
phải có quan điểm toàn diện, cụ thể, đồng thời phải có những phương pháp đúng
đắn để có thể thu thập nhiều nguồn thông tin và tư liệu khác nhau. Những kết quả
do sự tác động của pháp luật biểu hiện ở sự biến đổi trạng thái của các quan hệ xã
hội khi pháp luật điều chỉnh, tác động.
Cách xác định trạng thái của các quan hệ xã hội khi pháp luật điều chỉnh,
tác động được tiến hành giống như đã nêu ở tiêu chí trên. So sánh trạng thái ban
đầu của các quan hệ xã hội khi pháp luật chưa điều chỉnh với trạng thái của chúng
khi pháp luật đã điều chỉnh sẽ có được kết quả tác động, điều chỉnh của pháp luật.
Ngoài ra còn phải xác định cả những hiện tượng và quá trình, những gì mới phát
sinh trong đời sống xã hội do việc pháp luật điều chỉnh gây ra (kể cả tích cực lẫn
không tích cực).
Kết quả tác động của văn bản quy phạm pháp luật thường được đánh giá
theo các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hoá- xã
hội, môi trường, an ninh quốc phòng; trong hoạt động xây dựng, thực hiện và áp
dụng pháp luật; hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật; công tác
đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật, đặc biệt là tội phạm Những kết quả
do sự tác động của pháp luật có thể được xác định cụ thể nhưng cũng có thể chỉ
xác định được bằng các chỉ số chung phản ánh về mặt chất lượng (mức độ).
Cũng cần phải chú ý là, những biến đổi của các quan hệ xã hội trong thực tế
không hoàn toàn chỉ do sự tác động của pháp luật mà là sự tác động tổng hợp của
nhiều yếu tố khác nữa như kinh tế, chính trị, đạo đức, tôn giáo Do vậy, chúng ta
phải xác định rõ những kết quả nào là do pháp luật tác động mang lại, những kết
quả nào là do các công cụ khác tác động. Nếu những kết quả trong thực tế đạt
được hoàn toàn không có sự tác động của pháp luật mà do sự tác động của những
20
Đánh giá và tổ chức sử dụng các hệ thống văn bản Quản lý nhà nước TS Nguyễn Văn Hậu
yếu tố khác, thì không thể coi đó là cơ sở để đánh giá văn bản quy phạm pháp luật.
Nếu những kết quả tích cực đạt được do sự tác động của pháp luật phản ánh đúng
đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ cho phù hợp với sự thay đổi của các quan hệ xã hội.
Trên cơ sở xác định chính xác những kết quả đạt được do sự tác động của
văn bản pháp luật mang lại kết hợp với các tiêu chí khác cho phép chúng ta có thể
đánh giá về mức độ hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật.
PHẦN KẾT LUẬN
Bước sang thềm thế kỉ mới kinh tế Việt Nam đứng trước nhiều thời cơ và
thách thức lớn. Trong khi nhận thức rõ những cơ hội chung trong đổi mới đối với
Việt Nam do việc gia nhập WTO mang lại, cần thấy hết những thách thức chung
trong đổi mới mà Việt Nam phải đối đầu, nhất là trong điều kiện nước ta là một
nước đang phát triển ở trình độ thấp, quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém và bất
cập. Cạnh tranh không chỉ diễn ra ở cấp độ sản phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp
với doanh nghiệp. Cạnh tranh còn diễn ra giữa nhà nước và nhà nước trong việc
hoạch định chính sách quản lý và chiến lược phát triển nhằm phát huy nội lực và
thu hút đầu tư từ bên ngoài. Chiến lược phát triển có phát huy được lợi thế so sánh
hay không, có thể hiện được khả năng “phản ánh vượt trước” trong một thế giới
biến đổi nhanh chóng hay không. Chính sách quản lý có tạo được chi phí giao dịch
xã hội thấp nhất cho sản xuất kinh doanh hay không, có tạo dựng được môi trường
kinh doanh, đầu tư thông thoáng, thuận lợi hay không,… Tổng hợp các yếu tố
cạnh tranh trên đây sẽ tạo nên sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, sức cạnh
tranh quốc gia. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những thách thức lớn đối
với chế độ chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng và việc giữ vững định hướng xã hội
chủ nghĩa, việc bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái cho phát triển bền
vững của đất nước. Vì vậy cần phải hoàn thiện đánh giá và tổ chức sử dụng các hệ
22
Đánh giá và tổ chức sử dụng các hệ thống văn bản Quản lý nhà nước TS Nguyễn Văn Hậu
thống văn bản để nước ta hòa nhập với thế giới và đưa pháp luật vào thực tiễn
cuộc sống một cách hiệu quả nhất./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO