148 Tổ chức quản lý và Hạch toán kế toán tại sản cố định nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tại sản cố định tại Công ty Du lịch Quảng Ninh - Pdf 21

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP Phạm Sĩ Thọ
LỜI MỞ ĐẦU.
Tài sản cố định (TSCĐ) là yếu tố cơ bản tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đối với mỗi doanh nghiệp TSCĐ là bộ phận
cơ bản của vốn kinh doanh, là hình thái biểu hiện của vốn cố định, nó thể hiện
trình độ công nghệ, năng lực và thế mạnh của doanh nghiệp trong sản xuất kinh
doanh, đồng thời là điều kiện cần thiết để giảm bớt sức lao động và nâng cao
năng suất lao động. TSCĐ gắn liền với doanh nghiệp trong mọi thời kỳ phát
triển của nền kinh tế, đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi mà khoa học kỹ thuật
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì vai trò của TSCĐ lại càng quan trọng.
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp không chỉ đơn thuần ở việc
có và sử dụng TSCĐ mà điều quan trọng là phải bảo toàn, phát triển và sử dụng
có hiệu quả các TSCĐ hiện có. Vì vậy các doanh nghiệp phải có chế độ quản lý
thích đáng, toàn diện đối với TSCĐ từ tình hình tăng giảm cả về số lượng và giá
trị đến tình hình sử dụng, hao mòn và sửa chữa TSCĐ. Phải sử dụng hợp lý, đầy
đủ, phải phát huy hết công suất của TSCĐ tạo điều kiện hạ giá thành sản phẩm,
thu hồi vốn đầu tư nhanh để tái sản xuất trang bị và đổi mới công nghệ, từ đó
góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, từng bước cải thiện đời sống cho người
lao động.
Xuất phát từ đặc điểm riêng của TSCĐ là có giá trị lớn và thời gian sử
dụng lâu dài, cũng như vị trí quan trọng của TSCĐ trong quá trình sản xuất kinh
doanh, đòi hỏi công tác kế toán TSCĐ ngày càng được chú trọng và nâng cao,
góp phần củng cố và hoàn thiện công tác quản lý TSCĐ của nhà nước nói chung
và mỗi doanh nghiệp nói riêng, đồng thời phát huy được khả năng mở rộng quy
mô sản xuất của doanh nghiệp thông qua trang thiết bị TSCĐ.
Công ty du lịch Quảng Ninh là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tự
chủ có sự quản lý của nhà nước, đang đứng trước một vấn đề cấp bách là: phải
quản lý và sử dụng có hiệu quả năng lực sản xuất của TSCĐ hiện có.
Trên cơ sở kiến thức có được trong quá trình học tập và có sự hướng dẫn,
giúp đỡ tận tình của thầy giáo Đỗ Mạnh Hàn và ban lãnh đạo công ty Du lịch
Quảng Ninh, đặc biệt là các cô chú, anh chị trong phòng kế toán công ty đã lựa

Sản xuất là sự tác động qua lại của 3 yếu tố cơ bản : sức lao động, tư liệu
lao động và đối tượng lao động. Trong các yếu tố hợp thành tư liệu lao động thì
TSCĐ là một bộ phận bao gồm toàn bộ những tư liệu lao động có giá trị lớn và
có thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Hình thái vật chất ban đầu của TSCĐ được giữ nguyên trong suốt quá trình sản
xuất cho đến lúc chúng bị hỏng, chỉ có giá trị của chúng hao mòn dần và được
dịch chuyển từng phần vào chi phí sản xuất.
Tiêu chuẩn giá trị và thời gian sử dụng quy định cho TSCĐ có sự thay đổi
theo sự phát triển của nền sản xuất xã hội và tuỳ thuộc vào quy định của mỗi
quốc gia.
Ở nước ta theo quy định hiện hành tại quyết định số 1062 TC /CSTC ngày
14/11/1996 thì TSCĐ phải có thời gian sử dụng trên 01 năm và có giá trị từ
5.000.000 trở lên.
Do TSCĐ có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài nên cần có nguồn vốn
nói riêng, nguồn vốn để xây dựng và mua sắm TSCĐ là nguồn vốn xây dựng cơ
bản và quỹ đầu tư phát triển.
3
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP Phạm Sĩ Thọ
1.2. Vai trò của TSCĐ.
- TSCĐ là tư liệu lao động chủ yếu trong quá trình sản xuất, chúng được
coi là cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh.
- TSCĐ là điều kiện quan trọng để tăng năng suất lao động xã hội và phát
triển nền kinh tế quốc dân, thể hiện một năng lực và trình độ trang bị cơ sở vật
chất kỹ thuật của mỗi doanh nghiệp.
1.3. Đặc điểm của TSCĐ.
Khi tham gia vào sản xuất kinh doanh TSCĐ có những đặc điểm sau:
- Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, vẫn giữa nguyên hình thái vật chất
ban đầu cho tới khi hư hỏng phải bãi bỏ.
- TSCĐ là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn và thời gian thực

+ Đất.
+ Nhà cửa, vật kiến trúc.
+ Máy móc, thiết bị.
+ Phương tiện vận tải truyền dẫn.
+ Thiết bị dụng cụ quản lý.
+ Cây lâu năm , súc vật làm việc và cho sản phẩm.
TSCĐ hữu hình khác: gồm các loại TSCĐ hữu hình chưa được sắp xếp
vào các loại trên như : tranh ảnh nghệ thuật, sách báo chuyên môn kỹ thuật,...
- TSCĐ vô hình: TSCĐ vô hình là những TSCĐ không có hình thái vật
chất, thể hiện một giá trị kinh tế lớn liên quan trực tiếp đến nhiều chu kì kinh
doanh của doanh nghiệp : Quyền sử dụng đất, Chi phí thành lập doanh nghiệp,
Bằng phát minh sáng chế, Bản quyền tác giả, Chi phí nghiên cứu phát triển, Lợi
thế thương mại,...
TSCĐ vô hình khác: gồm các loại TSCĐ vô hình khác chưa được quy
định phản ánh: quyền đặc nhượng, quyền thuê nhà, quyền sử dụng hợp đồng độc
quyền nhãn hiệu và tên hiệu,...
5
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP Phạm Sĩ Thọ
2.1.2. Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu.
Theo cách này, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được phân thành TSCĐ
tự có và TSCĐ thuê ngoài.
* TSCĐ tự có (TSCĐ độc quyền sở hữu của doanh nghiệp): TSCĐ tự có là
những TSCĐ hữu hình mà doanh nghiệp xây dựng, mua sắm hoặc chế tạo bằng
nguồn vốn doanh nghiệp từ nhiều nguồn: ngân sách cấp, cấp trên cấp, nguồn đi
vay, nguồn vốn liên doanh, nguồn vốn tự bổ sung, nguồn biếu tặng,...
* TSCĐ thuê ngoài (TSCĐ không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp: là
những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê ngoài để phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh
doanh.
TSCĐ thuê ngoài được phân thành TSCĐ thuê tài chính và TSCĐ thuê
hoạt động.

Theo cách phân loại này, TSCĐ phân thành:
- TSCĐ mua sắm, xây dựng bằng vốn được cấp (ngân sách hoặc cấp trên).
- TSCĐ mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn tự bổ sung của đơn vị (quỹ
đầu tư phát triển, quỹ phúc lợi,...).
- TSCĐ hợp nhận góp liên doanh bằng hiện vật.
Phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành doanh nghiệp có thể sử dụng và
phân phối nguồn vốn khấu hao chính xác để trả tiền vay, trả vốn góp liên doanh,
nộp ngân sách hay để lại doanh nghiệp.
2.2. Đánh giá TSCĐ.
Đánh giá TSCĐ là biểu hiện giá trị TSCĐ bằng tiền theo những nguyên
tắc nhất định, nói một cách khác đánh giá TSCĐ là việc xác định giá trị ghi sổ
của TSCĐ. Đây là điều kiện cần thiết để kế hoạch hoá và hạch toán TSCĐ, tính
và phân bổ chính xác khấu hao và phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định trong
đơn vị.
TSCĐ được đánh giá lần đầu và có thể đánh giá lại trong quá trình sử
dụng, song trong mọi trường hợp TSCĐ đều được đánh giá theo nguyên giá, giá
7
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP Phạm Sĩ Thọ
trị hao mòn và giá trị còn lại. Giá trị còn lại của TSCĐ một mặt phản ánh tình
trạng của TSCĐ mặt khác phản ánh được quy mô nguồn vốn hiện tại của đơn vị.
2.2.1. Nguyên giá TSCĐ.
Nguyên giá TSCĐ là toàn bộ các chi phí thực tế bỏ ra để có TSCĐ cố
định cho tới khi đưa TSCĐ đi vào hoạt động bình thường như:
- Giá mua thực tế của TSCĐ.
- Các chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí lắp đặt chạy thử.
- Lãi tiền vay đầu tư cho TSCĐ, khi chưa bàn giao và đưa TSCĐ vào sử
dụng.
- Thuế và lệ phí trước bạ (nếu có).
Nguyên giá TSCĐ trong từng trường hợp có thể được xác định như sau:
a. Đối với TSCĐ hữu hình.

Để theo dõi các khoản đầu tư vốn góp liên doanh, kế toán sử dụng các tài
khoản sau:
TK 222: Góp vốn liên doanh - phản ánh giá trị vốn góp liên doanh dài
hạn.
Bên nợ: Giá trị vốn góp liên doanh dài hạn tăng thêm.
Bên có: Giá trị vốn góp đã thu hồi hay thiệt hại.
Dư nợ: Số vốn góp liên doanh dài hạn hiện có
TK 222 được mở chi tiết theo từng đối tác.
b. TSCĐ vô hình.
Nguyên giá TSCĐ vô hình là tổng số tiền chi trả hoặc chi phí thực tế đã
chi ra có liên quan trực tiếp tới đất sử dụng, thăm dò, xây dựng các kế hoạch đầu
tư dài hạn nhằm đem lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp.
c. Đối với TSCĐ thuê tài chính.
Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính phản ánh ở đơn vị thuê là giá trị hiện tại
của các khoản chi trong tương lai mà bên đi thuê phải trả cho bên thuê.
Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính được xác định tuỳ thuộc vào phương
thức thuê và tuỳ thuộc vào nội dung ghi trên hợp đồng thuê.
9
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP Phạm Sĩ Thọ
- Nếu hợp đồng thuê TSCĐ có quy định tỷ lệ lãi suất phải trả theo năm
thì nguyên giá TSCĐ thuê tài chính phản ánh ở đơn vị thuê TSCĐ được xác
định theo công thức:
NG = G ×
( )
N
L
+
1
1
- NG: Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính

trình hoạt động cúa TSCĐ.
Phần giá trị hao mòn được chuyển dịch vào sản phẩm dưới hình thức trích
khấu hao TSCĐ.
Khấu hao TSCĐ là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống
nguyên giá của TSCĐ vào chi phí kinh doanh qua thời gian sử dụng của TSCĐ.
Số khấu hao luỹ kế của TSCĐ là tổng số khấu hao đã trích vào chi phí
kinh doanh qua các kỳ kinh doanh của TSCĐ tính đến thời điểm xác định.
2.2.3. Giá trị còn lại của TSCĐ.
Trong quá trình sử dụng TSCĐ, giá trị của nó bị hao mòn dầnvà được tính
vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ, do đó giá trị còn lại của TSCĐ sẽ bị
giảm dần. Vì vậy, yêu cầu quản lý và sử dụng TSCĐ đặt ra là cần xác định giá
trị còn lại của TSCĐ để từ đó có thể đánh giá được năng lực sản xuất thực của
TSCĐ trong doanh nghiệp.
Giá trị còn lại của TSCĐ có thể thay đổi khi doanh nghiệp thực hiện đánh
giá lại TSCĐ. Việc điều chỉnh giá trị còn lại được xác định theo công thức:
Ngoài ra, giá trị còn lại của TSCĐ còn được xác định theo giá trị thực tế
tại thời điểm đánh giá lại.
Qua việc phân tích trên ta thấy việc hạch toán TSCĐ theo cả 3 loại giá:
giá trị ban đầu, giá trị hao mòn luỹ kế, giá trị còn lại không chỉ là cần thiết mà là
yêu cầu bắt buộc để phục vụ cho công tác quản lý TSCĐ. Đánh giá chính xác
TSCĐ sẽ là bước khởi đầu quan trọng cho toàn bộ công tác hạch toán TSCĐ của
doanh nghiệp.
11
Giá trị còn lại Nguyên giá của Số khấu
hao
của TSCĐ TSCĐ luỹ kế
của TSCĐ
Giá trị còn lại Giá trị còn lại Giá trị còn lại
của TSCĐ
của TSCĐ sau của TSCĐ trước

- Việc hạch toán khấu hao đồng thời với hạch toán hao mòn TSCĐ trên tài
khoản 214.
12
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP Phạm Sĩ Thọ
- Chỉ điều chỉnh nguyên giá TSCĐ khi có quyết định đánh giá lại TSCĐ
của cấp trên có thẩm quyền.
- Đối với TSCĐ thuê tài chính, kế toán phải quản lý và hạch toán riêng
biệt trong quá trình thuê, chỉ khi chuyển quyền sở hữu tài sản mới được ghi vào
TSCĐ hữu hình của doanh nghiệp.
2. Kế toán chi tiết TSCĐ.
Kế toán chi tiết TSCĐ là công việc không thể thiếu được trong quản lý
TSCĐ ở doanh nghiệp. Thật vậy, TSCĐ là cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng
đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp, do đó cần phải
quản lý chặt chẽ và phát huy được hiệu quả cao nhất trong quá trình sử dụng
TSCĐ. Vì vậy, trong công tác quản lý cần phải thực hiện các yêu cầu sau:
- Nắm chắc được toàn bộ TSCĐ hiện có đang sử dụng ở doanh nghiệp cả
về hiện vật và giá trị.
- Nẵm được tình hình sử dụng TSCĐ trong các bộ phận của doanh nghiệp.
Tổ chức công tác kế toán chi tiết TSCĐ trong doanh nghiệp bao gồm các
công việc đánh số hiệu TSCĐ và thực hiện kế toán chi tiết TSCĐ ở bộ phận kế
toán các địa điểm sử dụng.
2.1 Đánh số TSCĐ.
Là quy định cho mỗi TSCĐ một số hiệu tương ứng theo những nguyên tắc
nhất định.
Trong thực tế có nhiều quy định đánh số hiệu TSCĐ:
- Có thể dùng chữ số La Mã, chữ số ký hiệu loại, chữ cái làm ký hiệu
nhóm và kèm theo một số thứ tự để chỉ đối tượng TSCĐ.
- Mỗi loại TSCĐ được dành riêng một dãy chữ số nhất định trong dãy số
tự nhiên.
2.2. Kế toán chi tiết TSCĐ ở bộ phận kế toán và các địa điểm sử dụng.

Trên cơ sở làm tốt công tác kế toán chi tiết TSCĐ, để đảm bảo sự đồng bộ
trong công tác kế toán, giúp cho việc hạch toán chung toàn doanh nghiệp, kế
toán phải phản ánh kịp thời, chặt chẽ, chính xác sự biến động về giá trị của
TSCĐ trên sổ kế toán bằng việc kiểm tra tổng hợp TSCĐ.
14
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP Phạm Sĩ Thọ
Theo hệ thống tài khoản của kế toán doanh nghiệp, kế toán TSCĐ chủ yếu
sử dụng các tài khoản thuộc loại 2 nhóm 1, bao gồm các tài khoản sau:
- Tài khoản 211 “TSCĐ hữu hình”: Tài khoản này sử dụng để phản ánh số
hiện có và tình hình biến động của những TSCĐ hữu hình trong doanh nghiệp.
- Tài khoản 213 “TSCĐ vô hình”: Tài khoản này được sử dụng để phản
ánh số hiện có và tình hình biến động của những TSCĐ vô hình trong doanh
nghiệp.
- Tài khoản 212 “TSCĐ thuê tài chính”: Tài khoản này được sử dụng để
phản ánh số hiện có và tình hình biến động của những TSCĐ đi thuê để sử dụng
trong hợp đồng thuê phải thoả mãn những điều kiện theo quy định.
- Tài khoản 214 “Hao mòn TSCĐ”: Tài khoản này được sử dụng để phản
ánh giá trị hao mòn đồng thời cũng là số khấu hao của TSCĐ mà doanh nghiệp
được quyền quản lý và sử dụng. Ngoài ra để phản ánh sự biến động của TSCĐ
và trích khấu hao TSCĐ người ta còn quy định sử dụng các tài khoản có liên
quan như tài khoản: 111, 112, 241, 331, 341, 411, 441, 128, 222, 627, 641,...
3.1. Kế toán TSCĐ hữu hình.
3.1.1. Hạch toán tình hình biến động tăng TSCĐ hữu hình.
TSCĐ hữu hình của doanh nghiệp tăng do rất nhiều nguyên nhân như tăng
do mua sắm, xây dựng, cấp phát,... Kế toán căn cứ vào từng trường hợp cụ thể
để ghi sổ cho phù hợp. Ở đây, chúng tôi đề cập đến hạch toán tăng TSCĐ trong
các doanh nghiệp tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ, còn với thuế VAT
theo phương pháp trực tiếp cách hạch toán tương tự ( chỉ khác số thuế VAT đầu
vào không tách riêng mà hạch toán vào nguyên giá TSCĐ). Cụ thể:
a. Trường hợp mua sắm bằng vốn chủ sở hữu:

- Khi hoàn thành, nghiệm thu, đưa vào sử dụng.
+ Ghi tăng nguyên giá TSCĐ
16
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP Phạm Sĩ Thọ
Nợ TK 211 (chi tiết từng loại)
Có TK 241 (2411)
+ Kết chuyển nguồn vốn (đầu tư bằng vốn chủ sở hữu).
Nợ TK 4141, 441, 4312.
Có TK 411 (hoặc 4313)
d. Trường hợp tăng do xây dựng cơ bản bàn giao.
Chi phí đầu tư XDCB được tập hợp riêng trên TK 241 (2412), chi tiết theo
từng công trình. Khi hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng phải ghi tăng nguyên
giá và kết chuyển nguồn vốn giống như tăng TSCĐ do mua sắm phải qua lắp
đặt.
e. Trường hợp tăng do các đơn vị tham gia liên doanh góp.
Căn cứ vào giá trị vốn góp do hai bên thoả thuận, kế toán ghi tăng vốn
góp và nguyên giá TSCĐ.
Nợ TK 211 : Nguyên giá.
Có TK 411 (chi tiết vốn liên doanh): Giá trị vốn góp.
g. Trường hợp nhận lại vốn góp liên doanh với đơn vị khác.
Căn cứ vào giá trị còn lại được xác định tại thời điểm nhận, kế toán ghi
các bút toán:
BT1, Phản ánh nguyên giá TSCĐ nhận về:
Nợ TK 211 : Nguyên giá (theo giá trị còn lại)
Có TK 128: Nhận lại vốn góp liên doanh ngắn hạn.
Có TK 222: Nhận lại vốn góp liên doanh dài hạn.
BT2, Chênh lệch giữa giá trị vốn góp với giá trị còn lại (nếu hết hạn liên
doanh hoặc rút hết vốn không tham gia nữa vì liên doanh không hấp dẫn,...)
Nợ TK liên quan (111, 112, 152, 1388,...)
Có TK 222, 128.

Có TK 3381: Giá trị còn lại.
3.1.2. Hạch toán tình hình biến động giảm TSCĐ hữu hình.
TSCĐ hữu hình của doanh nghiệp giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau,
trong đó chủ yếu do nhượng bán, thanh lý,... Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể,
kế toán sẽ phản ánh vào sổ sách cho phù hợp.
a. Nhượng bán TSCĐ.
Đối với TSCĐ không cần dùng hoặc xét thấy sử dụng không có hiệu quả,
doanh nghiệp cần làm đủ mọi thủ tục, chứng từ để nhượng bán. Căn cứ vào tình
hình cụ thể, kế toán phản ánh các bút toán sau:
BT1, Xoá sổ TSCĐ nhượng bán.
Nợ TK 214 (2141): Giá trị hao mòn.
Nợ TK 821: Giá trị còn lại.
Có TK 211: Nguyên giá.
BT2, Doanh thu nhượng bán TSCĐ.
Nợ TK liên quan (111, 112, 131): Tổng giá thanh toán.
Có TK 721: Doanh thu nhượng bán (không có thuế VAT)
Có TK 333 (33311) : Thuế VAT phải nộp.
Nếu doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp trực tiếp thì phần ghi có
TK 721 là tổng giá thanh toán (gồm cả thuế VAT phải nộp)
BT3, Các chi phí nhượng bán khác (sửa chữa, tân trang, môi giới,...)
Nợ TK 821: Tập hợp chi phí nhượng bán.
Có TK 331, 111, 112,,...
19
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP Phạm Sĩ Thọ
b. Thanh lý TSCĐ hữu hình.
TSCĐ thanh lý là những TSCĐ hư hỏng, không sử dụng được mà doanh
nghiệp xét thấy không thể (hoặc có thể) sửa chữa để khôi phục hoạt động nhưng
không có lợi về mặt kinh tế hoặc những TSCĐ lạc hậu về mặt kỹ thuật hay
không phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh mà không thể nhượng bán
được.

Có TK 211: Nguyên giá TSCĐ.
d. Giảm do góp vốn liên doanh bằng TSCĐ.
Những TSCĐ gửi đi tham gia liên doanh do không còn thuộc quyền sử
dụng và quản lý của doanh nghiệp nữa nên được coi như khấu hao hết giá trị
một lần. Phần chênh lệch giữa giá trị vốn góp với giá trị còn lại của TSCĐ góp
vốn sẽ được ghi vào bên nợ hoặc có TK 412.
Nợ TK 222: Giá trị vốn góp liên doanh dài hạn.
Nợ TK 128 : Giá trị vốn góp liên doanh ngắn hạn.
Nợ TK 214 (2141): Giá trị hao mòn.
Nợ (hoặc có) TK 412 : Phần chênh lệch.
Có TK 211: Nguyên giá TSCĐ.
e. Trả lại TSCĐ cho các bên tham gia liên doanh.
Khi hết hạn hợp đồng liên doanh hoặc khi thừa vốn hay khi các bên tham
gia liên doanh rút vốn, nếu doanh nghiệp trả lại vốn góp liên doanh bằng TSCĐ,
ngoài việc ghi giảm vốn kinh doanh, kế toán còn phải xóa sổ TSCĐ giao trả.
Cần chú ý rằng, khi giao trả, nếu phát sinh chênh lệch giữa giá trị còn lại theo
sổ sách với giá đánh lại để giao trả, phần chênh lệch sẽ được kế toán phản ánh ở
TK412.
BT1, Xoá sổ TSCĐ.
Nợ TK 411 (chi tiết vốn liên doanh): Giá trị còn lại.
Nợ TK 214 (2141): Giá trị hao mòn.
21
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP Phạm Sĩ Thọ
Nợ (hoặc có) TK 412: Phần chênh lệch (nếu có)
Có TK 211: Nguyên giá
BT2, Thanh toán nốt số vốn liên doanh còn lại
Nợ TK 411 (chi tiết vốn liên doanh)
Có TK liên quan (111, 112, 338): Phần chênh lệch giữa giá trị vốn góp
với giá trị còn lại.
g. Thiếu phát hiện qua kiểm kê.

Nhận lại vốn
Góp liên doanh
TK 241
Công trình XDCB
hoàn thành
TK 421
Đánh giá tăng TSCĐ
TK 3381
Phát hiện thừa TSCĐ
TK 153
Chuyển công cụ dụng
cụ thành TSCĐ
TK 411
Được cấp vốn bằng TSCĐ
được điều chuyển hoặc biếu
tặng
TK 211
Xoá sổ TSCĐ khi
thanh lý, nhượng bán
TK 214
TK 821
TK 821
TK 821
Khoản thu về TL
TK 111,131..
Trả lại TSCĐ cho các
bên tham gia liên doanh
TK 241
TK 241
TK 414,341

Nợ TK 213 - TSCĐ vô hình.
Có TK 241 - XDCB dở dang.
* Kế toán giảm TSCĐ vô hình: Việc hạch toán, nhượng bán, thanh lý
TSCĐ vô hình cũng giống như TSCĐ hữu hình.
24
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP Phạm Sĩ Thọ
3.3. Kế toán TSCĐ thuê tài chính.
* Kế toán đơn vị đi thuê TSCĐ:
Trình tự kế toán đơn vị đi thuê được thể hiện qua sơ đồ sau:
(1) Nợ thuê TSCĐ thuê tài chính.
(a) Giá trị TSCĐ thuê tài chính.
(b) Số thuế VAT được khấu trừ.
(c) Số lãi thuê phải trả hoặc số chênh lệch giữa tổng số vốn tiền
thuê và nguyên giá TSCĐ.
(2) Trích khấu hao TSCĐ.
(3) Tính lãi phải trả vào chi phí sản xuất kinh doanh.
(4) Hàng tháng trả tiền thuê TSCĐ cho bên thuê.
(5) Khi kết thúc thời hạn thuê TSCĐ.
(a) Trả lại TSCĐ cho bên thuê.
(b) Đơn vị cho thuê chuyển giao quyền sở hữu cho đơn vị thuê.
* Kế toán tại đơn vị cho thuê TSCĐ.
TSCĐ cho thuê tài chính, về thực chất là một khoản vốn vay bằng hiện
vật cho bên ngoài thuê, TSCĐ vẫn thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê. Bên
25
TK 111, 112
TK 342 TK 212 TK 214 TK 6274,
6414
(4)
TK 315
(1)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status