Báo cáo khoa học " Những khó khăn, rào cản tâm lý đối với học sinh lớp 12 hiện nay trên địa bàn Hà Nội " - Pdf 21

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC


BÁO CÁO KHOA HỌC
Đề tài: “Những khó khăn, rào cản tâm lý đối với học sinh lớp 12 hiện nay
trên địa bàn Hà Nội”

Giáo viên hướng dẫn : TS. NGÔ THU DUNG
Sinh viên : NGUYỄN THỊ LIÊN
ĐỖ THỊ THƯ
TRẦN THỊ XUYẾN
Lớp : B3 -K53 Sư Phạm Vật Lý

Hà Nội, 03/20111
MỤC LỤC
Phần I: Mở đầu
1.Lý do chọn đề tài 3
2.Mục đích nghiên cứu 3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4.Phương pháp nghiên cứu 3
5.Phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
Phần II :Một số kết quả nghiên cứu chính
I.Cơ sở lý luận
1.Xác định được khái niệm cơ bản để nghiên cứu 5
đó là khái niệm “khó khăn, rào cản tâm lý”.
2.Một số đặc điểm của sự phát triển tâm lý của học 5
sinh lớp 12 và hoàn cảnh môi trường sống của các em.

dẫn đến những khó khăn đó.
Từ đó đưa ra một số biện pháp giáo dục những khó khăn, rào cản tâm lý ấy.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những khó khăn rào cản tâm lý của học sinh lớp 12 hiện nay.
Khách thể nghiên cứu:Các học sinh lớp 12 trên địa bàn Hà Nội
4.Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu, tham khảo những tài liêu sưu tầm được
,tham khảo các trang wed về giáo dục và đào tạo…
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát thực tế, tham khảo các ý kiến của những
học sinh, giáo viên THPT, phụ huynh học sinh về vấn đề cần nghiên cứu.
Phương pháp điều tra: Phát phiếu điều tra để khảo sát thực trạng nhận thức của học
sinh về một số khó khăn rào cản tâm lý mà các em gặp phải và nguyên nhân gây ra
những khó khăn đó.
3
Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi trò chuyện với các em và các thầy cô giáo dạy các
em.
Phương pháp quan sát: Dự giờ,quan sát cách học, giao tiếp của các em để thấy được
những khó khăn đó.
Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng công thức toán học để xử lý các kết quả
nghiên cứu thực tiễn.Từ đó đưa ra kết luận khoa học về các thông tin.
5.Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài chỉ nghiên cứu một số khó khăn rào cản tâm lý của học sinh lớp 12 trên địa bàn
Hà Nội và đưa ra một số biện pháp giáo dục nhằm hạn chế những khó khăn đó.
Phần II :Một số kết quả nghiên cứu chính
I.Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.Xác định được khái niệm cơ bản để nghiên cứu, đó là khái niệm “khó
khăn, rào cản tâm lý”.
Khó khăn, rào cản có nghĩa là những cản trở, trở ngại, đòi hỏi nhiều nỗ lực để vượt
qua.Vậy khó khăn, rào cản tâm lý chính là những trở ngại tâm lý.
Trong thực tiễn, với bất kỳ một hoạt động nào của con người tham gia đều có thể gặp

sống của các em. Nó ảnh hưởng tới đời sống tâm lý, tinh thần vì lứa tuổi này rất cần sự
tiếp xúc giao lưu tích cực để bổ sung và hoàn thiện nhân cách. Đặc biệt với các em học
sinh lớp 12, với quan niệm “đại học là cánh cửa duy nhất bước vào đời”, nhiều bậc cha
mẹ chỉ chăm chú đầu tư cho con cái hết học chính đến học thêm để vượt qua các kỳ thi,
mà quên chia sẻ và hỗ trợ các em vượt qua những khó khăn tâm lý trong học tập và
hướng nghiệp.
Trong nhà trường: Mặc dù trong thời gian gần đây vấn đề tâm lý của học sinh được
quan tâm và lưu ý nhiều hơn. Tuy nhiên nó chưa thực sự phổ biến nhiều trong các trường
học. Những cơ hội trao đổi về tâm lý giữa các em học sinh với thầy cô và cha mẹ không
nhiều. Kèm thêm đó, thời gian học tập của năm học cuối cấp là quá nhiều và căng thẳng.
Các em vừa phải lo học chính, học phụ đạo, học thêm Nên không còn nhiều quỹ thời
gian cho các hoạt động tập thể và giải trí. Sự hoang mang vì không được thổ lộ và tìm
kiếm nguồn hỗ trợ tâm lý, cộng với nhiệm vụ học tập nặng nề và những yêu cầu quá sức
từ gia đình và nhà trường đã tạo nên áp lực tâm lý rất lớn đối với học sinh.
Về môi trường xã hội, xã hội phát triển kéo theo đó là nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên
các tệ nạn xã hội cũng theo đó mà xuất hiện ngày càng nhiều. Mặt trái của cơ chế thị
trường đã tác động tiêu cực tới nhận thức của các em dẫn tới lối sống ích kỷ, buông thả,
đua đòi, thích hưởng thụ tạo ra những hiện tượng lệch lạc trong suy nghĩ và hành động
của các em. Một số lượng không nhỏ các bạn học sinh dù đang trên ghế nhà trường
THPT cũng dễ sa ngã vào các tệ nạn mà không lường trước được hậu quả.
5
II) Kết quả về mặt thực tiễn
1.Nhóm các khó khăn, rào cản,tâm lý trong học tập
Trong trường THPT, nhất là học sinh lớp 12, những khó khăn, rào cản tâm lý không
chỉ liên quan đến việc học sinh lĩnh hội lượng tri thức lớn hơn, khó hơn mà còn liên quan
đến cách học, cách áp dụng các tri thức đó vào thực tiễn một cách hiệu quả. Bên cạnh
những khó khăn, rào cản tâm lý đó còn có những khó khăn, rào cản tâm lý khác, làm ảnh
hưởng không nhỏ tới chất lượng học tập của học sinh như các vấn đề về hoàn cảnh gia
đình, môi trường sống, bạn bè, bản thân cá nhân học sinh… Những yếu tố này nếu tồn tại
độc lập nó sẽ không có ý nghĩa nhưng khi chúng gộp lại, liên kết với những yếu tố khác

N
1
=81
THPT
Hermann
N
2
=57
THPT Lương
Văn Can;
Đào Duy Từ
N
3
=94
Kết quả
chung
N=232
n
1
% n
2
% n
3
% n %
A 12 14.81 22 38.6 34 36.17 68 29.31
B 3 3.71 18 31.58 20 21.28 41 17.67
C 18 22.22 6 10.53 14 14.89 38 16.38
D 48 59.26 11 19.29 26 27.66 85 36.64
Bảng 1: Tỷ lệ học sinh chịu áp lực vì thi đại học
Chú thích:

N
2
=57
THPT Lương
Văn Can;
Đào Duy Từ
N
3
=94
Kết quả
chung
N=232
n
1
% n
2
% n
3
% n %
5 buổi/1
tuần trở lên
57 70.37 28 49.12 37 39.36 122 52.59
3-4 buổi
/tuần
13 16.1 21 36.84 27 28.72 61 26.29
1-2 buổi /
tuần
7 8.64 5 8.77 23 24.46 35 15.08
Không 4 4.89 3 5.27 7 7.44 14 6.04
Bảng 2: Thời gian học thêm của học sinh

các em
28.4% 51.8% 13.6% 6.2%
Thầy cô cởi mở lắng nghe ý kiến
của các em
18.5% 23% 49.8% 8.7%
Tổ chức nói chuyện giữa gia đình
và nhà trường về tâm lý học sinh
8.6% 63% 28.4% 0%
9
Em có đi nghe những buổi nói
chuyện về tâm lý học sinh do nhà
trường tổ chức
23.4% 0% 0% 76.6%

Là một trường THPT chuyên nên ý thức tự học và tự tìm hiểu của các bạn học sinh ở
đây là khá cao. Sự liên hệ giữa gia đình và nhà trường là khá đều đặn.Tuy nhiên sự tiếp
xúc của các thầy cô với các em là không nhiều so với các nhóm trường khác.
Trường Phổ thông Trung học Dân lập Hermann Gmeiner - Hà Nội
Luôn
luôn
Thường
xuyên
Thỉnh
thoảng
Không
bao giờ
Thầy cô quan tâm đến các em 12.3% 38.6% 35% 14.1%
Các em cảm thấy hài lòng về thầy

3.5% 43.8% 49.1% 3.5%


10.6% 41.5% 42.6% 5.3%
Thầy cô công bằng khi đối xử với
các em
28.7% 36.2% 27.6% 7.5%
Thầy cô cởi mở lắng nghe ý kiến
của các em
19% 29.8% 36.1% 15.1%
Tổ chức nói chuyện giữa gia đình
và nhà trường về tâm lý học sinh
6.4% 27% 27.7% 18.9%
Em có đi nghe những buổi nói
chuyện về tâm lý học sinh do nhà
trường tổ chức
34% 66%
Việc tổ chức những buổi nói chuyện về tâm lý học sinh còn quá ít và cũng chưa nhận
được nhiều sự tham gia của các bạn học sinh. Nếu có thể triển khai được những buổi nói
chuyện này sẽ giúp ích được rất nhiều học sinh có thể bước qua rào cản tâm lý của mình.
2.2. Khó khăn, rào cản tâm lý từ gia đình
Do quá kỳ vọng vào con cái mình phải đỗ vào đại học các bậc cha mẹ đã vô tình tạo ra
rất nhiều áp lực cho con cái trong việc học tập và hướng nghiệp. Tuy vậy, nhiều phụ
huynh đã không dành nhiều thời gian để quan tâm tới con, có tới gần 60% cha mẹ chỉ
thỉnh thoảng dành thời gian trò chuyện với các em.
11
THPT Chuyên Tự Nhiên
Luôn
luôn
Thường
xuyên
Thỉnh

Thường
xuyên
Thỉnh
thoảng
Không
bao giờ
Trò chuyện về việc học tập của em 16% 14.8% 54.2% 4.2%
12
Cha mẹ yêu cầu em phải đỗ đại học 68% 29.9% 2.1% 0%
Cha mẹ nghĩ em phải đi học thêm 43.6% 30.7% 23.1% 2.6%
Bắt con phải học suốt ngày 11.6% 70.2% 12% 6.2%
Luôn kiểm soát mọi việc 2.3% 63.5% 17.3% 16.9%

Có tới 97.4% cha mẹ nghĩ rằng con cần phải học thêm, và 92.8% nghĩ con họ cần phải
học thật nhiều. Nếu các em phải dành toàn bộ thời gian của mình chỉ để học hết ở trường
rồi đến lớp học thêm thì thời gian tự học ở nhà là quá ít. Lượng kiến thức các em nhận
vào quá nhiều mà không đủ thời gian cho các em tiếp thu và tự ôn tập, dẫn đến kết quả
học tập đạt được chưa thực sự tốt.
3. Những khó khăn, rào cản tâm lý trong việc định hướng và rèn luyện
nghề nghiệp.
Năm lớp 12 là năm các em phải trải qua các kì thi rất khó khăn:tốt nghiệp,đại học.Các
em sẽ phải chọn cho mình những trường đại học hoặc các nghề mà mình yêu thích,phù
hợp với sức học của các em.Đó không phải là một vấn đề đơn giản.Các em không những
phải cân nhắc,suy nghĩ xem mình thích ngành gì,ngành đó sẽ đào tạo như thế nào hoặc
nghề mà các em chọn học nó sẽ ra sao?
Việc lựa chọn một trường học phù hợp để đăng ký dự thi đang là trăn trở của rất nhiều
người, từ học sinh đến các bậc phụ huynh trên khắp miền đất nước. Khi đắn đo để có một
quyết định nào đó, cân nhắc để lựa chọn trường thi, ngành thi, những vấn đề tâm lý có tác
động rất lớn đến mỗi người. Vì vậy khi đăng kí dự thi hoặc dự định nghề mình sẽ học các
bạn sẽ gặp phải một số khó khăn sau:

lao động trong nghề.
+ Các em thiếu thông tin về thị trường lao động,về những ngành nghề các em học sau này
sẽ làm gì và làm như thế nào?
+Có một số em gặp khó khăn về hoàn cảnh gia đình như vấn đề về tài chính…
Nhiều em đã chọn được nghề phù hợp nhưng thiếu điều kiện tài chính theo học như
không đủ tiền đóng học phí, không có điều kiện để trọ học.Vì vậy có nhiều em đã chọn
được trường,ngành mà mình yêu thích nhưng đành phải từ bỏ ước mơ.
+ Các em sẽ gặp phải khó khăn từ phía gia đình.
Hiện tượng bị cha mẹ, người thân trong gia đình phản đối việc chọn nghề của các em
cũng khá phổ biến. Người lớn can thiệp vào việc chọn nghề của các em thường do động
cơ muốn con em mình chọn những nghề mà theo chủ quan của họ thì đó là lĩnh vực hoạt
động mang lại lợi ích thiết thực.
Ví dụ: cha mẹ không cho con cái theo học nghề địa chất, nông nghiệp vì không có cơ
14
hội ở thành phố Trong những trường hợp như thế mà thiếu bản lĩnh thì các em sẽ không
thể chọn được nghề phù hợp với khả năng và nguyện vọng của bản thân.
Do áp lực quá lớn từ phía gia đình, từ yêu cầu và mong đợi quá cao của người thân nên
có thể tỏ ra lúng túng khi chẳng biết lựa chọn trường nào, chọn lựa cách thức nào để thể
hiện giá trị đích thực của mình và có thể trở nên hết sức căng thẳng, cá biệt có bạn bị
stress dữ dội vì cứ phải lo lắng mỗi ngày.Vì vậy một số bạn vì có sự chuẩn bị chưa thật
tốt nên có thể cứ tần ngần, đến lúc phải quyết định chọn lựa một trường nào đó thì lại tỏ
ra hoài nghi, hoài nghi về độ tin cậy của sự lựa chọn và hoài nghi cả về cơ hội của mình.
Một khi đã có sự bất an về tâm trạng từ lúc chọn ngành thi và trường thi, sự ức chế tâm lý
có thể kéo dài và do đó khi dự thi, bạn có thể dễ dàng mất bình tĩnh và trở nên thiếu sáng
suốt, có thể quên mất những kiến thức tích lũy được trong kỳ ôn tập
+ Các em sẽ gặp phải khó khăn từ phía xã hội:
Trên thị trường ngày nay các sản phẩm luôn đổi mới. Trước đây có sản phẩm tồn tại
trên thị trường hàng chục năm nhưng ngày nay nó chỉ tồn tại trong khoảng thời gian rất
ngắn. Vòng đời của công nghệ đang được rút ngắn nên sản phẩm sẽ thay thế nhau, kế tiếp
nhau rất nhanh. Sáng tạo là theo nghề. Thiếu sáng tạo sẽ bị nghề từ chối.

% n %
Rất nhiều 1 1.23 14 14.89 9 15.79 24 10.34
15
Rất ít 72 88.89 43 45.74 32 56.14 147 63.36
Thỉnh thoảng 7 8.65 26 27.66 10 17.54 43 18.53
Khôngbaogiờ 1 1.23 11 11.71 8 10.53 20 7.77
Những buổi hướng nghiệp phần nào giúp học sinh hiểu biết sâu hơn về những trường
mình sẽ thi và giúp các em có những lựa chọn đúng đắn hơn.Ở một số trường THPT hiện
nay cũng đã quan tâm đến vấn đề hướng nghiệp,và tổ chức nhiều hoạt động tư vấn cho
học sinh.Nhưng tuy nhiên hoạt động này vẫn chưa rộng khắp.
Từ bảng số liệu trên đây chúng ta thấy các trường cũng chưa tổ chức nhiều buổi hướng
nghệp cho các em. Nhiều trường vẫn còn 63.36% các em không được tham gia các buổi
hướng nghiệp.cụ thể ở trương THPT chuyên có tới 88.89% các em cho là có rất ít các
buổi hướng nghiệp.
Điều này cũng có thể lý giải trong một nghiên cứu của Phạm Mạnh Hà,có tới gần 100%
các trường THPT ở Hà Nội không có phòng tư vấn hướng nghiệp cho học sinh và không
có cán bộ làm công tác hướng nghiệp được đào tạo chuyên môn.
3.2.Chọn trường theo xu hướng thời đại
Bên cạnh đó khi chọn ngành các em có thể bị thu hút bởi một số tên trường “hot”.Ở các
trường trung học phổ thông hiện nay,thường xảy ra tình trạng học sinh chọn ngành theo
những trường “hot”.Có thể là do các trường đó đào tạo những ngành đang cần hiện
nay.Hoặc do quan niệm cứ thi trường cao trượt thì cũng được tiếng là thi trường cao.
THPT chuyên
tự nhiên
THPT Đào
Duy Từ và
Lương
Văn Can
THPT Hermann Kết quả chung
N

Sự quan tâm
của các em
đến trường
mình sẽ thi
THPT
chuyên tự
nhiên
N
1
=81
THPT Đào
Duy Từ và
Lương Văn
Can
N
2
=94
THPT Hermann
N
3
=57
Kết quả chung
N=232
n
1
% n
2
% n
3
% n %

• Do phương pháp dạy học của giáo viên.
18
• Do chưa biết tổ chức hoạt động học tập.
• Do hoàn cảnh gia đình.
• Do gia đình chưa có sự quan tâm đúng mực.
• Do đò hỏi, yêu cầu xã hội đặt ra với các môn học phục vụ các nghề nghiệp khác
nhau.…
Từ những điều trên cho thấy, khó khăn, rào cản tâm lý trong học tập của học sinh lớp
12 so cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, với mức độ ảnh hưởng là khác nhau.
Nhưng cũng cho thấy khó khăn, rào cản tâm lý trong học tập của học sinh lớp 12 là một
hiện tượng tâm lý có thực. Vấn đề đặt ra là cần nhận thức đầy đủ những nguyên nhân
trên , để từ đó có những giải pháp tháo gỡ khó khăn, rào cản tâm lý giúp các em thích
ứng và đạt kết quả cao trong học tập.
Qua xử lý số liệu thống kê qua bảng hỏi mà chúng tôi đã thu thập được ở bốn trường
THPT trên địa bàn Hà Nội, chúng tôi đã xác định được một số rào cản tâm lý chính mà
học sinh lớp 12 trên địa bàn Hà Nội hiện đang gặp phải như sau:
5.Đề xuất một số biện pháp giáo dục
Từ những nghiên cứu trên, nhằm giảm bớt khó khăn cho học sinh, chúng tôi đề xuất
một số biện pháp giáo dục sau:
5.1 Tác động vào nhận thức
Trước hết cần tác động vào học sinh, phụ huynh và giáo viên để định hướng rõ rằng
“đại học không phải là con đường duy nhất dẫn đến thành công”.Thi đại học không phải
là lựa chọn duy nhất của tất cả các em học sinh.
Cha mẹ nên thường xuyên chia sẻ những khó khăn mà con mình đang vấp phải. Kịp
thời điều chỉnh về thời gian cũng như khối lượng kiến thức, cùng với nhà trường tạo điều
kiện để các em học sinh có thể củng cố lại những kiến thức đã học, khắc phục lại tình
trạng rỗng kiến thức. Đừng tạo cho các em những áp lực mà hãy giúp các em niềm tin
vào khả năng của mình.
5.2 Không tạo áp lực cho học sinh
Tránh ép buộc các em học quá nhiều, dẫn đến quá tải, nên kết hợp các hình thức giải trí,

trong nhà trường. Hướng tới một môi trường giáo dục tốt, tiên tiến, phát triển về nhiều
mặt.
Hà Nội, ngày…tháng …năm2011
Nhóm sinh viên thực hiện
20
Nguyễn Thị Liên
Đỗ Thị Thư
Trần Thị Xuyến

Phần IV: Tài liệu tham khảo
Tài liệu tiếng Việt
1.Phạm Mạnh Hà."Thực trạng công tác hướng nghiệp cho học sinh của các trường THPT
ở Hà Nội".Tạp chí Tâm Lý học ,số 9 (114),9-2008.
2.Nguyễn Thị Mai Lan."Nhận thức của học sinh THPT về định hướng giá trị nhân cách
".Tạp chí Tâm lý học số 9 (114), 9-2008.
3.Nguyễn Thị Mai Lan."Định hướng giá trị nhân cách của học sinh THPT thể hiện trong
quan hệ với bản thân".Tạp chí Tâm Lý học,số 12 (117),12-2008.
4.Luật giáo dục 2005.
5.Đào Thị Oanh."Một số khía cạnh trong biểu hiện cảm xúc của học sinh thiếu niên".Tạp
chí Tâm Lý học,số 4 (119),2-2009.
21
6.Lê Thị Thanh Thủy ."Stress trong học tập và cách ứng phó của học sinh cuối cấp THPT
".Tạp chí Tâm Lý học, số 4 (141), 4-2009.
7.Lê Thị Thanh Thủy."Thực trạng và nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở trường THPT
chuyên Quảng Bình".Tạp chí Tâm Lý học, số 6 (123), 6-2009
Các bài báo trên các trang wed.
http:// khoahocphothong.trust.vn/news/detail/2799/tam-ly-hoc-tap-cua-hoc-sinh
http// vnexpress net /gl/doisong/2010/04/3 ba/ ae6c/
tim.com.vn/Vietnam/Thegioi-tuoi-moi-lon/lam-bao-cung-MTO/2010/5-
28/37841/

- Quá khó □ - Khá khó □
- Bình thường □ - Dễ □
8.Bố mẹ của em nghĩ thế nào về việc đi học thêm của em?
- Cực kì cần thiết □ - Cần thiết □
- Không cần thiết cho lắm □ - Không cần phải học thêm □
9.Em đánh giá thế nào về mức độ kì vọng của gia đình với em ?
- Rất kì vọng □ - Kỳ vọng □
- Không quá kì vọng □ - Không kì vọng □
10. Em và cha mẹ có thường xuyên trò chuyện về việc học tập của em không?
- Rất thường xuyên □ - Bình thường □
- Khá ít □ - Chưa bao giờ □
11.Em có thường đi nghe những buổi nói chuyện về tâm lý học sinh do trường trung
học phổ thông tổ chức không?
- Có □ - Không □
12.Em cảm nhận như thế nào về mối quan hệ giữa thầy cô giáo và các em:
Luôn
luôn
Thường
xuyên
Thỉnh
thoảng
Không
bao giờ
Thầy cô quan tâm đến các em
Các em cảm thấy hài lòng về
thầy cô
Thầy cô công bằng khi đối xử
với các em
Thầy cô cởi mở lắng nghe ý kiến
của các em


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status