TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
[\[\
TIỂU LUẬN
Đề tài:
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế - một nhiệm vụ
trọng tâm của nước ta hiện nay
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế - một
nhiệm vụ trọng tâm của nước ta hiện nay
B NỘI DUNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TOÀN CẤU HOÁ KINH TẾ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ
1. Khái niệm
1.1. Khái niệm về toàn cầu hoá.
Trong hơn một thập kỷ trở lại đây xu thế toàn cầu hoá gia tăng ngày càng mạnh
mẽ.Và cùng với điều đó là những cách lý giải và thái độ không giống nhauđối với xu thế
này.
Có quan điểm cho rằng toàn cầu hoá chỉ mới xuất hiện gần đây. Toàn cầu hoá đợc
trên phạm vi toàn cầu.”
1.2 Khái niệm khu vực hoá.
Cùng với toàn cầu hoá và bổ sung cho toàn cầu hoá là xu thế khu vực hoá. Xu thế
khu vc hoá vừa là sự thể hiện vừa là sự phản ứng đối với xu thế toàn cầu hoá.Trong quan
hệ với toàn cầu hoá thì xu thế khu vực hoá đợc xem là bớc chuẩn bị để tiến tới toàn cầu
hoá,mặt khác khu vực hoá hiện nay phản ánh một thực trạng co cụm nhằm bảo vệ những
lợi ích tơng đồng giữa một vài quốc gia trớc những nguy cơ,những tác động tiêu cực do
toàn cầu hoá đăt ra.
Khu vực hoá phản ánh sự khác biệt,mâu thuẫn về lợi ích giữa các quốc gia khu vực
trong một thế giới đa dạng,trong đó sự hợp tác liên kết quốc tế ngày càng tăng lên nhng
cuộc đấu tranh vì lợi ích quốc gia,dân tộc,khu vực cũng rất gay gắt quyết liệt.
Khu vực hoá có nhiều mức độ khác nhau t một vài nớc và một vài vùng lãnh thổ đến
nhiều nớc tham gia vào một tổ chức nhằm hỗ trợ cho nhau trong phát triển, tận dụng nhng
u thế của khu vực trong quá trình tham gia nền kinh tế toàn cầu.
1.3. Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế
Các vấn đề kinh tế không chỉ mang các đặc trng kinh tế đơn thuần ma luôn gắn liền
với một hệ thôngs chính trị là nền tảng của nó. Về mặt thực tiễn rõ rằng ở quốc gia nào
cũng vậy, ngời ta chỉ chấp nhận hội nhập kinh tế quốc tế một khi lợi ích của quốc gia đó
cả về kinh tế, chính trị xã hội đợc đảm bảo. Với cách tiếp cận này có thể hiểu hội nhập
kính tế quốc tế không chỉ la quá trình tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế mà còn đợc
biểu hiện trong bản thân hệ thống chính sách thơng mại, chính sách phát triển kinh tế của
mỗi nớc. Nh vậy có thể xác định hội nhập kính tế quốc tế là việc các nớc đi tìm kiếm một
số điều kiện nào đó mà họ có thể thống nhất đợc với nhau, kể cả dành cho nhau nhng u đãi,
tạo ra nhng điều kiện công bằng, có đi có lại trong quan hệ hợp tác với nhau nhằm khai
thác các khả năng lẫn nhau phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của mình.
Để thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế, các điều kiện chung đợc quy định đối với
mỗi quốc gia, là tự do hoá thơng mại và đầu t một cách công khai, rõ ràng. Cụ thể, các tổ
chức hợp tác kinh tế quốc tế hay khu vực nói chung đều hoạt động theo 4 nguyên tắc cơ
bản sau:
- Công bằng: các nớc dành cho nhau quy chế u đãi cao nhất của mình và chung cho
Nhiều thế kỉ trớc, những tiến bộ trong kỹ thuật hàng hải, công nghệ đóng tàu, khai
phá giao thông, những phát triển của thị trờng hàng hoá đã tạo điều kiện mở mang giao lu
buôn bán giữa các quốc gia. Trải qua quá trình phát triển lâu dài, quan hệ kinh tế quốc tế
ngày càng trở nên phổ biến, bao quát nhiều lĩnh vực với nhiều hình thức. Đặc biệt vài chục
năm gần đây xuất hiện những yếu tố kinh tế kỹ thuật rất mới dẫn đến bớc phát triển nhảy
vọt cua toàn cầu hoá các quan hệ kinh tế. Sau đây là 6 yếu tố cơ bản thúc đẩy quá trình
toàn cầu hoá:
2.1. Sự phát triển ngày càng cao của lực lợng sản xuất
Thực tiển của nền kinh tế thế giới đang cho thấy bớc quá độ từ nền kinh tế công
nghiệp sang nền kinh tế tri thức, điều này đợc thể hiện rõ ở các quốc gia phát triển. Cùng
với nó các quốc gia đang phát triển cũng đã kết hợp bớc chuyển nông nghiệp lên công
nghiệp kết hợp những bớc nháy tắt để rút ngắn quá trình xây dựng những cơ sở của nền
kinh tế tri thức.
Sự phát triển của kinh tế tri thức dự trên các công nghệ có hàm lợng khoa hoc kỹ
thuật cao, nhất là công nghệ thông tin đã mở ra điều kiện thuận lợi cho sự đẩy nhanh xu
thế toàn cầu hoá, ví dụ nh: các công nghệ mới làm tăng tốc độ giao dịch kinh doanh, rút
ngắn khoảng cách về không gian và thời gian. Công nghệ thông tin đồng thời cũng góp
phần nâng cao trình độ dân trí, tạo điều kiện cho dân chủ phát triển, thúc đẩy nhu cầu mở
của, giao lu hội nhập.
Tóm lại, chính sự phát triển nh vũ bảo của khoa học kỹ thuật đã làm phá vỡ hàng
rào ngăn cách địa giới trong giao dịch của con ngời trên tất cả các mặt giãu các quốc gia.
Điều này đã đẩy quốc tế hoá nền kinh tế lên một thời kỳ mới, thời kỳ toàn cầu hoá nền
kinh tế thế giới. Cac quốc gia dù muốn hay không dều chịu tác động của của quá trình toàn
cầu hoá và đơng nhiên để tồn tại và phát triển trong điều kiện hiện nay không thế không
tham gia quá trình toàn cầu hoá, tức là hội nhập quốc tế.
2.2. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thi trờng
Qua trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá có sự gắn bó chặt chẽ với tiến trình phát triển
của kinh tế thi trờng. Kinh tế thị trờng phát triển đã mở ra điều kiện cho sự gia tăng xu thế
quốc tế hoá, thể hiện trên hai khía cạnh chính: Thứ nhất, kính tế thị trờng mở ra cơ sở,
điều kiện cho sự phát triển của lực lợng sản xuất, làm cho quy mô sản xuất không bó hẹp
2.4 Sự bành trớng của các công ty xuyên quốc gia
Với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất trong chủ nghĩa t bản tất yếu dẫn đến sự tâp
trung sản xuất và dẫn đến độc quyên. Trong lịch sử của nền sản xuất thế giớivào cuối thế
kỷ 19 đầu thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21 này dới sự tác động của cuộc cách
mạng khoa học kĩ thuậtđã đa lại sự phát triển cha từng có của các công ti xuyên quốc gia.
Đến nay có gần khoảng 60000 công ti xuyên quốc gia đang kiểm soát 2/3 nền thong
mại thế giới, 4/5 nguồn vốn đầu t trực tiếp ở nớc ngoài và 9/10 kết quả nghiên cứu và
chuyển giao công nghệ thế giới. Với sức mạnh nh vậy các công ti xuyên quốc gia không
những có u thế trong phân phối tài nguyên trên phạm vi thế giới giúp cho việc thúc đẩy
phân công lao động quốc tếđi vào chi tiết hoá mà còn thông qua việc toàn cầu hoá sản xuất
và kinh doanh để đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hoá kinh tế.
Sự phát triển mạnh mẽ của các công ti xuyên quốc gia trên địa phận toàn cầu đã tạo
ra mạng lói liên kết kinh tế quốc tế. Các quốc gia có thể tham gia ngay vào dây chuyền sản
xuất quốc tế và cũng vì vậy mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau gia tăng.
Các công ty xuyên quốc gia đã đóng vai trò rất lớn trong việc tăng mức xuất khẩu,
gia tăng mạnh mẽ vốn đầu t trực tiếp nứoc ngoài vào các nớc đang phát triển đẩy mạnh
tiến trinhf hội nhập của nền kinh tế này vào nền kinh tế thế giới nói chung.
Nh vậy sự phát triển và xâm nhập ngày càng mạnh của các công ty xuyên quốc gia
vào các nền kinh tế dân tộc đã góp phần xoá bỏ sự ngăn cách biệt lập trong phát triển của
nhiều quốc gia trên thế giới. Các quốc gia dân tộc từng bớc thamm gia, thích ứng với các
chuẩn mực của nền kinh tế quốc tế đồng thời nó cũng đem lại nét mới từ những bản sắc
riêng, bổ sung vào nền kinh tế toàn cầu làmm gia tăng tính đa dạng của nó.
2.5 Sự hình thành và phát triển của các định chế toàn cầu và khu vực.
Các định chế toàn cầu ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thế quốc tế hoá, toàn cầu
hoá kinh tế. Sự tồn tại và hoạt động của các định chế toàn cầu và khu vực lại góp phần
thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của xu thế toàn cầu hoá.
Trong các tổ chức kinh tế- thơng mại-tài chính toàn cầu và khu vực có ảnh hỏng lớn
tới quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá phải kể đến ƯTO, IMF, ƯB và các tổ chức khu
vực khác nh EU, NAFTA, APEC Với các mục tiêu chức năng của mình các tổ chức kinh
tế quốc tế đã tham gia và thúc đẩy các hoạt động kinh tế quốc tế, điều phối và quản lí các
mà phải căn cứ vào nhu cầu thị trờng thế giới, sản xuất sản phẩm và dịch vụ phù hợp với
yêu cầu chuẩn mực của thị trờng quốc tế. Muốn vậy đòi hỏi các quốc gia phải mở cửa nền
kinh tế, cho nhập các thành tựu công nghệ, thu hút vốn đầu t để xây dựng và phát triển một
cơ cấu ngành kinh tế phù hợp. Nh vậy với chiến lợc hớng về xuất khẩu, trên thực tế đã đẩy
đến xu thế gắn bó phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, giữa các nền kinh tế thông qua
thực hiện phân công lao động quốc tế dựa trên thế mạnh của từng nền kinh tế đân tộc.
Ngoài những nhân tố đã nêu trên thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hoá trong
những năm gần đây chúng ta còn có thể kể đến một số nhân tố khác xem nh xung lực đẩy
mạnh thêm cho xu thế toàn cầu hoá. Đó là sự phát triển về dân chủ, văn hoá
3. Triển vọng phát triển toàn cầu hoá và hội nhập KTQT
3.1. Toàn cầu hoá không còn là âm mu của các nớc t bản phát triển nhằm thôn
tính thế giới
Chúng ta đã biết rằng sau chiến tranh lạnh thế giới vận động theo trật tự đa cực với
một siêu cờng là Mỹ. Với sức mạnh của mình Mỹ đóng vai trò chi phối bàn cờ thế giới.
Suốt những thập kỷ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 Mỹ luôn chiếm 30% GDP thế giới.
Và đến khi cờng quốc Xô Viết sụp đổ thì Mỹ thực sự trở thành một siêu cờng duy nhất,
Mỹ đã xúc tiến một chiến lợc nhằm đề cao vai trò lãnh đạo của mình. Mu đồ của Mỹ là
"không để có một kẻ thách thức nào ở lục địa Âu - Á nổi lên có đủ khả năng thống trị nơi
đây và thách thức nớc Mỹ. Mỹ muốn quy tụ toàn thế giới vào vòng ảnh hởng, chịu sự chỉ
huy, điều khiển của mình.
Trong lĩnh vực kinh tế, Mỹ thao túng các định chế kinh tế toàn cầu, đòi các quốc gia
phải mở rộng cửa thị trờng, tham gia hội nhập vào bàn cờ kinh tế quốc tế theo các luật
chơi đã đợc định sẵn xuất phát từ nhu cầu, lợi ích và quan niệm chuẩn mực giá trị lối sống
Mỹ. Vì vậy không phải ngẫu nhiên mà có ý kiến đã đồng nhất toàn cầu hoá với Mỹ hoá.
Nghiên cứu lịch sử phát triển của nền kinh tế t bản ta thấy bản thân các nền kinh tế
này cũng đã trải qua thời kì bảo hộ cao chống lại sự xâm naâpj từ bên ngoài. Nhng do sự
phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất đã đặt ra nhu cầu mở rộng giao tiếp và mở rộng
thị trờng ngoài biên giới.
Sự phát triển CNTB của Mác đã chỉ ra luôn bị hai giới hạn bởi thị trờng và nguyên
liệu, cho nên xu hớng bành trớng tìm kiếm thị trờng và nguyên liệu có nguồn gốc trong kết
những cái gì là tiến bộ sớm muộn sẽ tất yếu đợc phát triển. Đó là quy luật phát triển của xã
hội. Những diễn biến trong tổ chức thơng mại thế giới vừa qua chính là một ví dụ phản
ánh xu thế đó. Và cũng vì vậy sẽ là không thoả đáng khi xem toàn cầu hoá hiện nay thuần
tuý mang tính chất t bản chủ nghĩa. Sự đan xen của các lợi ích trong quá trình tham gia hội
nhập của các chủ thể phản ánh tính phức tạp và đầy mâu thuẫn của chính quá trình này.
3.2. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng
Xu thế toàn cầu hoá từ khi xuất hiện cho đến nay trong quá trình phát triển luôn vấp
phải sự chống đối của những ngời có quan niệm sai lệch về toàn cầu hoá. Nhng điều đó
không thể thay đổi đợc tính tất yếu của xu thế này. Toàn cầu hoá vẫn diễn ra và diễn ra
ngày càng mạnh mẽ trên tất cả các phơng diện từ kinh tế cho đến chính trị, văn hoá, xã hội.
Trong tất cả các mặt đó thì toàn cầu hoá kinh tế phát triển nhất, có tác động đến các lĩnh
vực khác của xu thế này. Toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đang diễn ra mạnh mẽ gắn liền với
xu thế khu vực hoá diễn ra cũng không kém phần nhộn nhịp.
Trớc xu thế đó thì hội nhập kinh tế quốc tế đã đang trở thành yêu cầu bức thiết đối
với mỗi nớc. Ngày nay số đông các nớc trên thế giới đã nhận thức đợc rằng toàn cầu hoá là
sản phẩm văn minh của nhân loại và do đó họ đón nhận, tự nguyện hội nhập và góp sức
mình thúc đẩy toàn cầu hoá. Nh vậy hội nhập kinh tế quốc tế cũng đang gia tăng nhanh
chóng cùng với xu thế toàn cầu hoá.
II. THỰC TRẠNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
1. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Nhìn lại chặng đờng phát triển của dân tộc ta, trên thực tế chúng ta cha bao giờ tách
khỏi nền kinh tế thế giới, chúng ta đã đang và sẽ tiếp tục quá trình hội nhập.
Giai đoạn từ năm 1945 cho đến khi chúng ta thực hiện đổi mới quan hệ Việt Nam
với khu vực bị ngừng trệ. Chúng ta chỉ tiến hành quan hệ với các nớc XHCN mà đáng chú
ý là việc tham gia vào hội đồng tơng trợ kinh tế (SEV). Nhng bớc sang giai đoạn đổi mới
mà bắt đầu từ đại hội Đảng 6 của Đảng đã mở ra phơng cách mới chúng ta đã tiến hành
chuyển sang cơ chế thị trờng. Cùng với những đổi mới bên trong chúng ta thực hiện
chuyển nhợng chiến lợc trong kinh tế đối ngoại từng bớc hội nhập vào nền kinh tế thế giới
và khu vực.
Tiếp tục tinh thần đại hội VII, đại hội VII, VIII và gần đây nhất là đại hội IX cùng
sớm gia nhập tổ chức này trong thời gian gần nhất có thể đợc.
Nh vậy nớc ta ngày càng chủ động hơn trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế
để hoà mình vào xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ.
2. Những thành tựu của quá trình hội nhập kinh tế và hạn chế cần khắc phục
2.1. Những thành tựu của hơn 1 thập kỷ hội nhập kinh tế quốc tế
Trải qua hơn 10 năm hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới nớc ta đã có đợc
những kết quả bớc đầu quan trọng.
Mở rộng các mối quan hệ kinh tế song phơng, đa phơng với nhiều nơi trên toàn thế
giới đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội nớc ta trong
thập niên cuối của thế kỷ XX. Nếu nh trớc những năm 90, tốc độ tăng GDP bình quân nớc
ta chỉ đạt khoảng 2-3%/năm thì ở thập niên cuối của thể kỷ XX (1991-2000), mức tăng
bình quân GDP đạt 6-8%/năm. Sau 10 năm, tổng sản phẩm xã hội (GDP) tăng thêm 13 tỷ
USD, thu nhập bình quân đầu ngời tăng gấp hơn 2 lần. Nhiều mặt hoạt động sản xuất và
đời sống xã hội đã có những bớc phát triển tơng đối nhanh.
Song song với việc phát triển kinh tế rút ngắn khoảng cách đối với các quốc gia thì
nớc ta đã có những thành công trong công cuộc xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ
trong bối cảnh hội nhập. Đảng và Nhà nớc ta đã xây dựng đợc đờng lối chính sách kinh tế
độc lập tự chủ, chúng ta tự mình lựa chọn định hớng phát triển kinh tế. Bên cạnh đó thì
nớc ta cũng đã đạt đợc thực lực kinh tế ở một mức độ tơng đối cao, giá trị sản xuất trong
nớc bớc đầu đã đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và có phần tích luỹ cần thiết
để thực hiện tái sản xuất mở rộng. Nói tóm lại ta đã xây dựng đợc một nền kinh tế mà
không hoặc rất ít bị lệ thuộc, bị các thế lực xấu, thù địch lợi dụng vấn đề kinh tế để lôi kéo
khống chế, ép buộc đó là yếu tố để nớc ta đi đúng quĩ đạo của chủ nghĩa xã hội.
Đến nay nớc ta thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 160 nớc và tham gia vào nhiều
tổ chức và các hiệp định thơng mại trên thế giới nh ASEAN, AFTA, APEC đã phá vỡ thế
cô lập tạo ra đợc một môi trờng cùng hợp tác phát triển đối với các đối tác trên thế giới.
* Những thành tựu cụ thể trên các mặt
- Về ngoại thơng: Trong hơn 160 nớc đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao thì
nớc ta kí kết hiệp định thơng mại với hơn 60 nớc. Tốc độ tăng xuất nhập khẩu hàng năm
thờng cao gấp 2-3 lần tốc độ tăng GDP. Nếu năm 1991, thị trờng Liên Xô và các nớc
hợp đồng đa vạn lao động ra nớc ngoài làm việc.
2.2. Những hạn chế cần khắc phục trong quá trình hội nhập.
Sau hơn 10 năm đổi mới nền kinh tế, hội nhập kinh tế thì đi kèm với những thành
tựu là tồn tại và yếu kém là những vấn đề đặt ra ở cả tầm vĩ mô và vi mô cần suy nghĩ giải
quyết để hội nhập ngày càng hiệu quả hơn.
Đối với nớc ta niện nay thách thức lớn nhất là năng lực cạnh tranh của hàng xuất
khẩu của các doanh nghiệp trong nớc còn yếu bị thua thejt trên thơng trờng. Cho đến nay
hàng xuất của ta chủ yếu vẫn là sản phẩm thô hoặc sản phẩm sơ chế có giá trị gia tăng thấp
(do vèe trình độ kỹ thuật công nghệ chế biến thấp mẫu mã chủng loại sản phẩm cha phong
phú kém hấp dẫn nên gía trị thấp dẫn đến sức cạnh tranh yếu, hiệu quả kinh tế thấp. Đối
với các doanh nghiệp thì thiếu hụt năng lực thu thập và phân tích thông tin để dự báo
chiều hớng phát triển của nền kinh tế thế giới và các đối tác cạnh tranh từ đó kém khả
nang mở rộng và phát triển thị trờng của mình, cácdn Việt Nam hiện nay vẫn làm ăn theo
kiểu chớp giật, thiếu tính chiến lợc ở qui mô vừa và nhỏ.
Nớc ta bớc vào hội nhập với xuất phát điểm rất thấp vì vậy dù đã có những bớc phát
triển vợt bậc nhng nớc ta vẫn là nớc bị tụt hậu khá xa so với các nớc phát triển cũng nh so
với nhiều nức đang phát triển trong khu vực. Nền kinh tế nớc ta ngành nông nghiệp vẫn
chiếm một tỉ trọng lớn (20%) GDP), công nghiệp lạc hậu so với thế giới từ 50 - 100 năm;
hệ thống thiết bị kỹ thuật ở hầu hết các doanh nghiệp lạc hậu so với mức trung bình của
thế giới từ 2 - 3 thế hệ thậm chí là 4 - 5 thế hệ. Đây cũng chính là lí do làm cho năng suất
lao động của ta thấp sản phẩm làm ra giá thành cao không có sức cạnh tranh.
Một mặt tồn tại nữa ở bộ máy điều hành; khâu quản lý. Trình độ cán bộ quản lí của
ta nhất là cán bộ làm công tác hội nhập còn mỏng và yếu; sự kết hợp giữa các ban ngành
địa phơng, doanh nghiệp trong quá trình hội nhập cha thực sự chặt chẽ, nhịp nhàng và
đồng bộ. Tiếp đó là tình trạng tham nhũng đang trở thành quốc nạn thực sự là vấn đề nan
giải, nguy cơ lớn không những đối với thúc đẩy hội nhập nói riêng mà còn đối với sự phát
triển kinh tế nói chung.
Điểm hạn chế quá trình hội nhập của nớc ta đó là hệ thống luật hệ chính sách. Mặc
dù trong những năm gần đây chúng ta đã có rầt nhiều cố gắng trong công tác soạn thảo xây
dựng ban hành pháp luật nhng hệ thống luật lệ, chính sách của Việt Nam liên quan, đến
giới "Tiếp đó tại đại hội VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1991 đã đề ra đờng lối
chiến lợc" thực hiện đa dạng hoa đa phơng hoá quan hệ quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế
đối ngoại.
Đến Đại hội VIII (1996) Đảng ta tiếp tục chủ trơng chính sáhc đối ngoại độc lập tự
chủ mở rộng các quan hệ đối ngoại với tinh thần "muốn làm bạn với tất cả các nớc trong
cộng đồng thế giới". Tháng 12/1997 Nghị quyết Trung ơng 4 khoá VIII đề ra nhiệm vụ"
giữ vững độc lập, tự chủ đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài, xây dựng một nền
kinh tế mở hội nhập với khu vực và thế giới. Và gần đây nhất là tại đại hội Đảng lần 9 năm
2001 đã nêu rõ: "chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ mọi thời cơ để phát triển
trên nguyên tắc giữa vững độc lập tự chủ và định hớng xã hội chủ nghĩa".
Và cụ thể hơn biểu hiện rõ chủ trơng và nguyên tắc chỉ đạo của Đảng và nhà nớc ta
ngày 27/11/2001 Bộ chính trị đã ban hành nghị quyết về hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị
quyết đã chỉ rõ mục tiêu những quan điểm chỉ đạo.
Mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế:
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trờng, tranh thủ thêm vốn,
công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hớng
xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dana chủ, văn minh,
trớc mắt là thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ nêu ra trong chiến lợc phát triển kinh tế -
xã hội năm 2001 - 2010 và kế hoạch 5 năm 2001 - 2005.
Những quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập.
+ Quán triệt chủ trơng đợc xác định tại Đại hội IX là: "Chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc
tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hớng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc; an ninh
quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trờng.
+ Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân; trong quá trình hội nhập cần
phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội, trong đó
kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo.
+ Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và cạnh tranh,
vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo, và linh hoạt
trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tuỳ theo đối tợng, vấn đề, trờng hợp, thời điểm
dịch vụ, từng doanh nghiệp, từng địa phơng để có biện pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu
quả và tăng cờng khả năng cạnh tranh. Gắn quá trình thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung
ơng 3 khoá IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp
nhà nớc với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong quá trình hội nhập cần quan tâm tranh thủ những tiến bộ mới của khoa học,
công nghệ, không nhập khẩu những công nghệ không nhập khẩu những công nhệ lạc hậu,
gây ô nhiễm môi trờng.
Đi đôi với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ, của các
doanh nghiệp, cần ra sức cải thiện môi trờng kinh doanh, khả năng cạnh tranh quốc gia
thông qua việc khẩn trơng đổi mới và xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật phù hợp với
đờng lói của Đảng, với thông lệ quốc tế, phát triển mạnh kết cấu hạ tầng; đẩy mạnh công
cuộc cải cách hành chính nằm xây dựng bộ máy nhà nớc trong sạch về phẩm chất vững
mạnh về chuyên môn.
- Tích cực tạo lập đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa; thúc đẩy sự hình thành phát triển và từng bớc hoàn thiện các loại hình thị trờng
hàng hoá, dịch vụ, lao động khoa học - công nghệ, vốn, bất động sản
…
tạo môi trờng kinh
doanh thông thoáng, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, tiếp tục đổi mới các công cụ
quản lý kinh tế của Nhà nớc đối với nền kinh tế, đặc biệt chú trọng đổi mới và củng cố hệ
thống tài chính, ngân hàng.
- Có kế hoạch cụ thể đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực vững vàng về chính
trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, tinh
thông nghiệp vụ và ngoại ngữ, có tác phong công nghiệp và tinh thần kỷ luật cao. Trong
phát triển nguồn nhân lực theo những tiêu chuẩn chung nói trên, cần chú trọng đào tạo đội
ngũ cán bộ, quản lý và kinh doanh hiểu biết sâu về luật phpá quốc tế và nghiệp vụ chuyên
môn, nắm bắt nhanh những chuyển biến trên thơng trờng quốc tế để ứng xử kịp thời, nắm
đợc kỹ năng thơng thuyết và có trình độ ngoịa ngữ tốt. Bên cạnh đó cần hết sức coi trọng
việc đào tạo đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao.
Cùng với việc đào t ạo nhân lực cần có chính sách thu hút, bảo vệ và sử dụng nhân
Thực hiện hội nhập quốc tế đã trở thành nhu cầu cấp thiết của mọi quốc gia nhằm tận
dụng các mặt lợi thế của toàn cầu hoá, đồng thời qua hoạt động thực tiễn, mặc nhiên góp
phần thúc đẩy làm phong phú nội dung cơ bản của xu thế này. Và Việt Nam cũng không
nằm ngoài vòng ảnh hởng đó.
Những gì đã thực hiện đã giành đợc chứng minh rằng: Đảng ta, nhà nớc ta và nhân
dân ta có đủ bản lĩnh và khả năng khai thác những gì là lợi thế với nhiều loại thử thách
phức tạp. Thực tế vừa qua về cả hai mặt "đợc" và "cha đợc" đều là những kinh nghiệm, bài
học bổ ích giúp chúng ta mạnh dạn chuyển qua bớc phát triển mới của hội nhập quốc tế.
Bằng những kiến thức thu nhận đợc qua môn học kinh tế chính trị em đã cố gắng
nêu lên những vấn đề cơ bản về toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của nớc ta. Tuy
nhiên, do những hạn chế về kiến thức và thời gian nghiên cứu nên chắc chắn đề án sẽ
không tránh khỏi những khiếm khuyết. Em rất mong nhận đợc sự chỉ bảo của thầy giáo để
bài viết đợc hoàn chỉnh hơn.
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn thầy giao Mai Hữu Thực đã tận tình bhớng
dẫn em hoàn thành đề án này.