Một số ý kiến về phong hướng công tác
phát triển kiểm toán ở nước ta hiện nay
Một số ý kiến về phong hướng công tác phát
triển kiểm toán ở nước ta hiện nay
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN
I. HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN MỘT NHU CẦU TẤT YẾU CỦA NỀN KINH TẾ.
Kiểm toán nhà nớc là cơ quan thuộc chính phủ. Ở nớc ta nó mới đợc thành lập và
phát triển trong mấy năm nay nhng nó đã hệ thống thể hiện một cách rõ rệt về vị trí vai trò
của mình.
Trong nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN. đặc
biệt là quá trình quản ký kinh tế góp phần thúc đẩy nhiệm vụ kinh tế xã hôịo của đất nớc
truớc tình hình mới, thực hiện công cuộc phát triển kinh tế năng động, toàn diện đủ sức hội
nhập theo xu hớng khu vục hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế.
Hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung và kiểm toán nhà nứơc nói riêng đã trở
thành một nhu cầu tất yếu của nền kinh tế chuyển đổi. Nhà nớc cần phải giải quyết nhiều
vấn đè trong mối quan hệ giữa các cấp, các nghành, các đị phơng và các tổ chức kinh tế,
đặc biệt là quá trình xây đựng và hình thành pháp luật kiểm toán nhà nuớc hay luật kiểm
toán nhà nớc trong tơng lai. Để thực hiện các mục tiêu đề ra trong hoạt động sản xuất kinh
doanh phấn đấu đạt hiệu quả cao nhất với chi phí tháp nhất ngời quản lý quá trình diễn
biểu của hoạt động sản xuất từ đầu vào đến đầu ra và quá trình hạch toán kinh tế có đảm
bảo đúng mục đích hay không? Có đúng phát luật hiện hành của nhà nớc không? đồng
thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển năng động đảm bảo “sân chơi” chung phù
hợp với luật pháp trong nớc và thông lệ quốc tế.
Hoạt động kiểm toán nói chung và hoạt động kiểm toán nhà nớc nói riêng đợc tiến
địa vị pháp lý đủ mạnh để thực hiện các chức năng kiểm tra , kiểm soát , cảnh báo và trên
giác độ vi mô , có thể góp phần ngăn chặn các nguy cơ dẫn đến phá sản cho doanh nghiệp
đợc kiểm toán, và mở rộng hơn trên giác độ vĩ mô có thể cảnh báo cá nguy cơ dẫn đến các
khó khăn tài chính , khủng hoảng cho các nghành cũng nh cho toàn bộ nền kinh tế. Hơn
nữa, kiểm toán nhà nớc có thể liên kết với các cơ quan hữu quan đẻ thuc đẩy quá trình
thực thi các kiến nghị kiểm toán, và trên phơng diện nhất định có thẩm quyền pháp lý để
buộc các đối tợng kiểm toán và các bên liên quan thực hiện điều chỉnh quản lý , khắc phục
các vi phạm sửa sai và chấn chỉnh trong công tác tài chính .
Trong quá trình hoạt động vai trò của kiểm toán nhà không ngừng đợc củng cố và
tăng cờng đáp ứng một phần yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn trong việc quản lý điều hành đất
nớc, nó đợc thể hiện một số mặt chủ yếu sau.
- Thứ nhất góp phần kiểm tra việc chấp hành những quy định hiện hành về nghĩa vụ
nộp ngân sách nhà nớc ,thực hiện nộp đúng, nộp đủ theo quy định của pháp luật.
- Thứ hai kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng ngân sách nhà nớc chống thất thoát,
chống lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nớc.
- Thứ ba cung cấp cơ sở dữ liệu để thực hiện việc quyết định và quản lý ngân sách
nhà nớc sát thực và có hiệu quả hơn. Một trong những vấn đề quan trọng để nâng cao hiệu
lực và hiệu quả của việc sử dụng ngân sách nhà nớc và công quỹ quốc gia trong việc quản
lý điều tiết nền kinh tế là dự toán ngân sách nhà nớc.
Thông qua việc kiêm tra tài chính. Kiểm toán nhà nớc đã chỉ ra những bất họp lý
trong việc xác định những chỉ tiêu thu, chi ngân sách nhà nớc, góp phần tạo lập cơ sở, căn
cứ để xây dựng dự toán ngân sách nhà nớc cho những năm sau, nhằm thu đúng thu đủ,
chống thất thu cho ngân sách nhà nớc. Đồng thời kiến nghị việc phân bổ ngân sách nhà
nớc cho các ngành, các địa phơng một cách hợp lý. Ngoài ra ngành kiểm toán nhà nớc đã
góp phần đánh giá một cách sát thực tình hình tài chính của các doanh nghiệp trong khu
vực kinh tế nhà nớc làm căn cứ cải tiến quản lý doanh nghiệp, điều chỉnh các chính sách
kinh tế, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nớc cùng với việc huy động vốn đầu t phát triển.
-Thứ t thông qua hoạt động kiểm toán, kiểm toán nhà nớc đã đề xuất, kiến nghi
nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách về kinh tế tài chính và ngân sách nhà
nớc ở các cơ quan, đơn vị trung ơng và địa phơng.
đợc đào tạo một cách có hệ thống và bài bảng. Vì vậy công tác đào tạo, bồi dỡng kiến thức
nghiệp vụ kiểm toán đã đợc đặc biệt coi trọng.
Sáu năm qua kiểm toán đã thu đợc một số kết quả nhất định trong lĩnh vực hợp tác
quốc tế. Tháng 4 năm 1996,kiểm toán nhà nớc đã ra nhập tổ chức quốc tế các cơ quan
kiểm toán tối cao (INTOSAI) vào tháng 11 năm 1997 trở thành thành viên của tổ chứccác
cơ quan kiểm toán tối cao Châu á (ASOSAI) ngoài ra kiểm toán nhà nớc còn mở rộng
quan hệ hợp tác song phơng và đa phơng với các cơ quan kiểm toán tối cao của nhiều nớc
trên thế giới. Bớc đầu đã thực hiện có kết quả những dự án do ngân sách phát triển Châu
á(ADB).
Ngày nay ngành kiểm toán đã trở thành một ngành có thế mạnh, có tổ chức chặt chẽ
giữa các khâu, các bộ phận với nhau, một ngành mạnh trong cơ quan kiểm tra của nhà nớc.
PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN HỆ
THỐNG KIỂM TOÁN.
I . THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM TOÁN NỚC TA HIỆN NAY.
Đối tợng kiểm toán của cơ quan kiểm toán Nhà nớc là nền tài chính công, các đơn
vị có liên quan đến quá trình quản lý sử dụng ngân sách Nhà nớc và các tài sản cùng công
quỹ quốc gia.
Để thực thi quyền chức năng và trách nhiệm của mình, kiểm toán Nhà nớc phải tiên
hành 3 loại hình kiểm toán:
- Kiểm toán báo cáo tài chính.
- Kiểm toán tuân thủ.
- Kiểm toán hoạt động.
Để cho kiểm toán hoạt động đúng với bản chất và hoạt động có hiệu quả, phải chú
trọng tới chất lợng kiểm toán. Chất lợng kiểm toán là thớc đo về tính hiệu quả của hoạt
động kiểm toán. Chất lợng kiểm toán đợc thể hiện bằng việc đa ra lời nhận xét đúng đắn
và trung thực hợp lý, hợp pháp các thông tin đợc kiểm toán nhằm phục vụ cho công tác
quản lý và điều hành ngân sách Nhà nớc của các cấp chính quyền, các doanh nghiệp quản
trị doanh nghiệp đối với các nhà quản lý, các hoạt động đầu t tài chính và các quan hệ giao
dịch kinh tế khác.
Hiện nay chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần vận
trong và ngoài doanh nghiệp.
Rõ ràng chí xét về mặt quản lý tài chính, ngân sách Nhà nớc ở nhiều doanh nghiệp
Nhà nớc có thể kết luận là: Công tác này, lâu nay bị buông lỏng, bộ máy quản lý cấp trên
và trong doanh nghiệp vô cùng đồ sộ nhng kém hiệu lực và hiệu quả, không thể xác định
đợc trách nhiệm về khâu nào, cấp nào, cơ quan tổ chức nào. Trong khi đó sự tác động của
hệ thống kiểm toán còn quá mỏng manh và hụt hẫng, rất xa so với nhu cầu công tác kiểm
toán đối với các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị sự nghiệp đứng trên góc độ phát luật.
Những sai sót, gian lận và sự vi phạm các văn bản phát luật của đối tợng kiểm toán, tuỳ
mức độ nặng nhẹ, tuỳ nguyên nhân chủ quan hay khách quan, kiểm toán viên và đoàn thể
kiểm toán có sự phân tích đánh giá và kết luận. Có thể nêu ra một số dấu hiệu chủ yếu của
việc không tuân thủ các quy phạm pháp luật.
1. Những dấu hiệu sai phạm trong khâu tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất kinh
doanh.
- Tổ chức cơ quan, đơn vị không đúng với quy định của các văn bản quy phạm pháp
luật về thành lập và vi phạm điều lệ quy chế về tổ chức và hoạt động của đơn vị.
- Tổ chức quản lý và hạch toán tuỳ tiện không tuân theo 1 mô hình nhất quán và
chặt chẽ, phân cấp hạch toán và tổ chức bộ máy kiểm toán tuỳ tiện, không phù hợp với
quy định của pháp lệnh kiểm toán thống kê và chế độ kiểm toán hiện hành.
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các công chức và viên chức lãnh đạo và kiểm
toán trởng trái các quy định của luật pháp. Tuyển dụng công chức, cán bộ và viên chức
không tuân theo 1 trình tự, thủ tục, tiêu chuẩn cho phép.
- Phát triển các hoạt động một cách tự phát không theo chức năng nhiệm vụ. Liên
doanh, liên kết không có cơ sở pháp lý và luân chức hợp lý, hợp pháp dẫn đến rối loạn
trong quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh gây thiệt hại về nguồn nhân lực.
2. Những dấu hiệu sai phạm về các hoạt động kinh tế.
- Tiến hành các hoạt động vụ lợi trái quy định pháp luật ngoài vi phạm thẩm quyền.
- Vi phạm các chế định của pháp lệnh hợp đồngkt, đặc biệt là trong quan hệ thầu, ký
kết hợp đồng kinh tế. Gian lận khi tiến hành các thủ tục hợp đồng. Vận dụng sai nguyên
tắc các chế định về giá cả.
- Gian lận và man trá trong thủ tục đấu thầu.
thể giữa thủ trởng và ngời lao động.
- Vi phạm các quy định về phân chia lợi nhuận, chia cổ tức khi phân phối lợi nhuận
hoặc sử dụng các quỹ khi giải quyết quan hệ lợi ích với các bên liên quan.
- Vi phạm về phân cấp quản lý vốn, điều hoà chu chuyển vốn, thanh toán trong nội
bộ.
- - Vi phạm các quy định về các nguyên tắc quản lý nguồn vốn chủ sơ hữu, nguồn đi
vay, phần vốn góp và các quỹ của đơn vị.
- áp dụng sai các quy tắc về luật pháp về định giá tài sản, làm thất thuát, xâm hại
nguồn tài chínhcủa đơn vị.
- Dùng công quỹ để hối lộ, để vụ lợi, để che dấu các hoạt động bất minh.
5. Những dấu hiệu vi phạm về kiểm toán.
- Vi phạm các nguyên tắc về tổ chức kiểm toán, bao gồm cả tổ chức bộ máy và tổ
chức công tác kiểm toán nhất là về phân cấp hạch toán.
- Vi phạm về khâu hạch toán ban đầu, đặc biệt là sử dụng lu hành các chứng từ kiểm
toán bất hợp pháp, không hợp lệ.
- Vi phạm chế độ tài khoản , làm rối loạn khâu hạch toán đặc biệt nghiêm trọng là
chủ tâm gây nhiễu khi thiết kế sơ đồ hạch toán và vi phạm các nguyên tắc ghi sổ, che dấu
các quan hệ tài chính bất minh.
- Vi phạm nguyên tắc định giá, nguyên tắc bảo toàn vốn, nguyên tắc phản ánh trung
thực khách quan các tài sản của đơn vị. Cố ý sử dụng sai tỷ giá hối đoái để vụ lợi bất chính.
- Vi phạm nguyên tắc hạch toán kiểm toán chỉ dùng đồng Việt Nam.
- Hạch toán sai doanh thu, chi phí, thu nhập.
- Xuyên tác kết quả sản xuất kinh doanh, biến lãi thành lỗ và ngợc lại.
- Lên báo cáo tài chính sai quy tắc kiểm toán, gian lận khi lên các chỉ tiêu tổng hợp,
xuyên tạc thực trạng tài chính của đơn vị.
- Không duy trì, hoặc có ý không duy trì sự hạch toán liên tục, đúng kỳ, vi phạm,
quy định về lập báo cáo kiểm toán.
- Vi phạm quy định bảo quản, lu trữ hồ sơ kiểm toán. cố tình che dấu, làm thất lạc
hoặc huỷ hoại tài liệu, hồ sơ kiểm toán.
- Không điều chỉnh sổ sách theo quyết định kiểm kê, theo quyết định của các đoàn
việc nhng trình độ cha tơng xứng với đòi hỏi nhiệm vụ đợc giao. Nó đã xuất hiện 1 vài
hiện tợng cá biệt phản ảnh sự thiết trong sáng trong công việc và sinh hoạt, đã xuất hiện
việc che dấu những vụ làm ăn phí pháp không trung thực với kết quả kiểm tra phản ánh
không đúng thực té tổ chức nhiều khâu làm cho công việc tiến hành đồ sộ qua nhiêu bớc
gây mất nhiều thời gian tiền của trong việc thực thi công việc. Nhiều khi còn tạo kẽ hở cho
bạn trốn thuế, việc tham nhũng, buôn lậu, làm ăn bất chính.
Chức năng, nhiệm vụ cha quy định rõ dàng. Bộ máy hoạt động còn chồng chéo và
đồ sộ, phạm vi hoạt động không quy định rõ dàng. Chính vì vậy mà nó tạo cho việc thực
thi công việc mấtthời gian, phức tạp hiệu quả công tác cha cao. Giữa các bộ phận không
thống nhất còn nhiều sơ hở trong khâu quản lý và điều hành.
II. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT.
Để kiểm toán Nhà nớc hoạt động có kết quả tốt thì một hệ thống chuẩn mực kiểm
toán, chuẩn mực kiểm toán cần sớm đợc ban hành các chế độ, chính sách của Nhà nớc cần
phải thốngnhất, và trên cơ sở đó xác định đúng địa vị pháp lý của kiểm toán Nhà nớc đẻ
xứng đáng là 1 trong những công cụ kiểm kê, kiểm soát đáng tin cậy, góp phần làm lành
mạnh tình hình tài chính Nhà nớc.
1. Mấy kiến nghị tăng cờng hệ thống kiểm toán trong quản lý tài chính ngân sách
Nhà nớc.
- Kiểm toán Nhà nớc phải sớm phát triển mạnh để thực hiện chế độ kiểm toán bắt
buộc với mọi cơ quan, đơn vị có sử dụng ngân sách Nhà nớc. Nhà nớc sớm ban hành luật
kiểm toán trớc mắt là pháp lệnh lkiểm toán trong đó quy định rõ vị trí pháp lý, chức năng,
từng bộ phận cấu thành và của mỗi kiểm toám viên Nhà nớc. Trong luật kiểm toán cũng
phải xác định giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán và trách nhiệm phối hợp trong kiểm
toán nói riêng và giữa kiểm toán với hoạt động của cơ quan khác, thanh tra, quản lý tài
chính, điều tra, giám sát trong và ngoài doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức cơ sở kinh tế sự
nghiệp nói chung.
- Mở rộng mạng lới kiểm toán độc lập, đáp ứng nhu cầu kiểm toán mọi doanh
nghiệp trong và ngoài quốc doanh. Mạng lới kiểm toán này bao gồm các oong ty, kiểm
toán thuộc mọi thành phần kinh tế, hoạt động theo pháp luật Nhà nớc và hợp đồng trách
nhiệm giữa đơn vị kiểm toán với đơn vị kinh tế, sự nghiệp, các cơ quan tổ chức chủ dự án,
điều khoản cụ thể trong luật hay pháp lệnh KTNN.
2.1. Về quyền hạn chung của KTNN.
- Quyền hạn về phạm vị kiểm toán.
Việc tách 1 số lĩnh vực để kiểm tra phải có quy định cụ thể, ngoài ra quyền hạn
KTNN phải bao quát các lĩnh vực, các đơn vị phi chính phủ, các tổ chức.
- Quyền tự chủ về lập kế hoạch kiểm toán và lựa chọn đối tợng kiểm toán mà không
1 cơ quan hoặc cá nhân nào có quyền can thiệp, phần lớn các cơ quan KTNN tự lập kế
hoạch ra quyết định kiểm toán ngoài ra KTNN có thể kiểm toán theo yêu cầu của chính
phủ hoặc Quốc hội Hiện nay ở nớc ta, KTNN lập kế hoạch kiểm toán hàng năm trình
chính phủ phê duyệt. Tổng kiểm toán Nhà nớc ra quyết định kiểm toán theo kế hoạch kiểm
toán đã đợc chínhphủ phê duyệt, theo em để đảm bảo tính độc lập cao của cơ quan kiểm
toán Nhà nớc nên cho phép KTNN quyền tự chủ lập kế hoạch kiểm toán và thông qua
quyết định kiểm toán theo cơ chế hội đồng.
- Nguồn kinh phí để hoạt động của cơ kiểm toán Nhà nớc dựa vào đâu? Ngân sách
cấp hay có phần đống góp của đơn vị kiểm toán, theo em để đảm bảo tính độc lập cần thiết
về mặt kinh tế cho cơ quan KTNN cần cho Kiểm toán Nhà nớc quyền hạn tự lập kế hoạch
về ngân sách của mình đảm bảo đầy đủ các chi tiết cần thiết theo quy định.
2.2. Các quyền điều tra và các quyền thi hành nhiệm vụ.
- Quyền yêu cầu các cơ quan đơn vị, tổ chức thuộc đối tợng kiểm toán cung cấp các
báo cáo quyết toán và các thông tin tài liệu cần thết để thực hiệ kiểm toán.
- Quyền yêu cầu các cá nhân, tổ chức trong xã hội cung cấp các thông tin, dịch vụ
chuyên ngành và t vấn có liên quan đến cuộc kiểm toán.
- Quyền phỏng vấn trực tiếp hoặc yêu cầu giải trình tài kiệu đối với các cá nhân
thuộc đối tợng kiểm toán.
- Quyền đa ra các giải pháp để ngăn chặn kịp thời các sai phạm, vi phạm nghiêm
trọng mà kiểm toán Nhà nớc phát hiện khi thực hiện kiểm toán có ảnh hởng trực tiếp đến
lợi ích Nhà nớc, lợi ích quốc gia.
2.3. Quyền báo cáo kiểm toán và công bố kết quả kiểm toán.
Sự thuyết phục đối với các lực lợng của xã hội của cơ quan kiểm toán Nhà nớc chủ
yếu thông qua các kết luận và kết quả phản ánh trong báo cáo kiểm toám. theo luật định