Đề tài: Phân tích cơ hội và thách thức đối với xuất
khẩu hàng nông sản của Việt Nam vào thị trường
EU trong giai đoạn hiện nay
Mục Lục
I, Sơ lược chung:
1, Vị thế của liên minh EU (liên minh châu Âu) trong giai đoạn hiện nay.
2, Những chính sách của EU đối với hàng nông sản.
3, Tình hình quan hệ thương mại của VN và EU.
II, Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của VN sang thị trường EU.
1, Thực trạng hàng nông sản xuất khẩu của VN
2, Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của VN sang thị trường EU.
3,Những thuận lợi và khó khăn của việc xuất khẩu hàng nông sản của VN sang thị trường EU.
a, thuận lợi.
b, khó khăn.
III, Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản của VN sang thị trường EU.
1, Giải pháp cấp nhà nước.
2, Giải pháp cấp doanh nghiệp.
Thành viên:
1, Ngô Thị An
2, Đỗ Thị Hải Anh
3,Trịnh Thị Lan Anh
4, Hoàng Ngọc Ánh _ NT
5, Nguyễn Thị Ngọc Ánh
6, Lê Thanh Ba
7, Nguyễn Thị Bích
8, Nguyễn Thanh Bình
9, Trần Thanh Bình
10, Nguyễn Thị Thu Giang
SƠ LƯỢC CHUNG.
I, Vị thế của liên minh EU trong giai đoạn hiện nay.
đây vẫn là lĩnh vực quan trọng với các chính sách gây tốn kém và đôi khi gây tranh cãi nhiều
nhất của EU. Đây cũng là lĩnh vực được EU ban hành nhiều luật lệ và thu hút nhiều khoản chi
ngân sách nhất. Nhận thức được tầm quan trọng của nó, các nước thành viên sáng lập ra khu
mậu dịch các nước châu Âu ( European Economic Community_EEC ) đã chủ trương thực hiện
chính sách nông nghiệp chung của liên minh. Chính sách nông nghiệp chung (the common
Agricultural Policy – CAP) đã được hình thành ngay từ tháng 3 năm 1957 trong hiệp ước
Rome về việc thành lập cộng đồng kinh tế châu Âu với mục tiêu chính được đưa ra tại điều 39
của hiệp ước này đó là:
+ Tăng năng suất nông nghiệp
+ Bảo đảm chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người nông dân
+ Ổn định thị trường nông nghiệp nhằm đáp ứng đầy đủ nông sản cho người tiêu dùng với giá
cả hợp lý.
Chính sách nông nghiệp chung của EU được xây dựng dựa trên ba nguyên tắc cơ bản là:
+ Tạo lập và duy trì một thị trường nông sản chung của cộng đồng.
+ Coi trọng lợi ích của cộng đồng.
+ Đảm bảo liên kết về mặt tài chính.
Chính sách nông nghiệp chung là một chính sách được cộng đồng hóa nhất và là một
yếu tố trung tâm trong các chính sách của EU. Nó là bước khởi đầu cho thị trường thống nhất
và là một phần trong liên kết về kinh tế và chính trị, là hai yếu tố gắn các phần khác nhau của
cộng đồng.
Kết quả bước đầu của chính sách nông nghiệp chung là năm 1962, những sản phẩm
nông nghiệp đầu tiên được đưa ra thị trường EEC theo nguyên tắc của một thị trường nông sản
chung với một cơ chế giá thống nhất. Đó là giá sản phẩm cao nhất, nhằm đảm bảo lợi ích của
người nông dân. Chính vì vậy mà giá nông sản của EEC và thi trường thế giới có mức chênh
lệch khá lớn.
III, Tình hình quan hệ thương mại của VN và EU.
Ủy ban châu Âu (EC) chủ trương tăng cường hợp tác với Việt Nam, nhất là về kinh tế,
thương mại và đầu tư, đồng thời duy trì đối thoại với Việt Nam về các vấn đề chính trị. Tiểu
ban về hỗ trợ thể chế, cải cách hành chính và nhân quyền đã được thành lập trong khuôn khổ
Uỷ ban hỗn hợp về hợp tác Việt Nam-EC. EU cũng tích cực ủng hộ công cuộc Đổi mới và hội
EU(sau Hà Lan và Pháp) trong số 22 nước EU có đầu tư tại Việt Nam đến năm 2009. Vương
quốc Anh có 8 dự án đăng ký mới với số vốn 40,6 triệu USD.
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT
NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU.
I, Thực trạng hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam.Trong những năm gần đây, công nghiệp chế biến nông sản Việt Nam có những bước
phát triển tích cực. Với hàng chục ngàn cơ sở thuộc các thành phần kinh tế với các quy mô
khác nhau, hàng năm công nghiệp chế biến nông sản đã sản xuất nhiều loại hàng hoá phục vụ
nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, chế biến nông sản, trong đó có nông sản xuất
khẩu, vẫn là ngành công nghiệp nhỏ bé, công nghệ lạc hậu. Dưới đây là tình hình một số
ngành chế biến nông sản xuất khẩu chủ yếu:
Xay sát gạo (dạng chế biến đơn giản): cả nước có hơn 5.000 cơ sở xay sát tập trung với
công suất từ 8- 60 tấn/ ca/ cơ sở. Ở miền Bắc, các cơ sở này được xây dựng từ những năm
1960 đến nay đã cũ và hoạt động kém hiệu quả. Ở miền Nam, các cơ sở xay sát chủ yếu do tư
nhân quản lý với thiết bị lạc hậu. Gần đây Việt Nam đã đầu tư một số nhà máy lớn tại đồng
bằng sông Cửu Long với thiết bị hiện đại của nước ngoài phục vụ xuất khẩu gạo. Nhờ đó tỉ lệ
gạo phẩm cấp gạo chất lượng cao (<10% tấm) đạt được trên 55%, tỷ lệ gạo phẩm cấp xấu
(>35% tấm) giảm xuống còn 4% .
Chế biến chè: cả nước hiện có 90 cơ sở chế biến chè công nghiệp, trong đó có 13 doanh
nghiệp nhà nước, 6 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, còn lại doanh nghiệp ngoài nhà
nước, công suất thiết kế đạt 1.190 tấn chè búp tươi/ ngày, tương ứng với 89.827 tấn chè chế
biến/ năm. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu chè đen sang Irag, Anh, Nga và một số nước Đông
Âu. Các dây chuyền chế biến chè đen xuất khẩu chủ yếu nhập khẩu từ Liên Xô cũ, những năm
gần đây có trang bị một số dây chuyền mới hiện đại hơn, nhưng nhìn chung thiết bị công nghệ
chế biến còn lạc hậu, thiếu đồng bộ đã ảnh hưởng xấu đến chất lượng chè xuất khẩu.
Chế biến cà phê: có 16 doanh nghiệp nhà nước (Tổng Công ty cà phê Việt Nam), một
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 14 doanh nghiệp ngoài quốc doanh với 50 dây
chuyền chế biến cà phê nhân đạt công suất 100.000 tấn/ năm.Giá trị xuất khẩu duy trì ở mức
xuất khẩu chính là nấm rơm muối, giá xuất khẩu cao nhất của chủng loại này đạt 2.400
USD/tấn. Một thị trường khá quan trọng là Nga, xuất khẩu rau quả trong tháng 3 chỉ tăng nhẹ:
7% đạt 2,46 triệu USD. Đáng chú ý trong tháng 3.2010 là xuất khẩu sang Nga mặt hàng dưa
chuột các loại đạt rất cao với kim ngạch lên đến 1,23 triệu USD, chiếm tới 50% tỷ trọng xuất
khẩu sang thị trường này. Ngoài ra, Việt Nam còn xuất khẩu sang thị trường Nga một số mặt
hàng như dứa đóng lon, cà chua và chuối sấy khô với kim ngạch đạt khá cao. Nhưng xuất
khẩu rau hoa quả sang một số thị trường khá quan trọng khác lại chững lại từ tháng 3 đến nay.
Xuất khẩu sang Indonesia đã chậm lại từ tháng 3: đạt 3,27 triệu USD, tương đương với mức
xuất khẩu 3,29 triệu USD, của tháng 2.2010. Luỹ kế quý 1/2010, xuất khẩu sang Indonesia đạt
8,2 triệu USD, tăng 55,3% so với quý 1/2009. Xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản cũng
chững lại trong tháng 3.2010 đạt 2,87 triệu USD, tương đương mức xuất khẩu của tháng trước
đó.
Theo số liệu của bộ Công thương, xuất khẩu một số mặt hàng rau củ quả tăng mạnh trong
tháng 3 như: hoa hồng đạt 105.400 USD; hoa cẩm chướng đạt 260.000 USD; nấm rơm đạt
1,51 triệu USD; thanh long đạt khoảng 2,93 triệu USD (trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc
lớn nhất đạt 1 triệu USD, chiếm 34% tỷ trọng, xuất khẩu sang Thái Lan cao thứ hai đạt
450.000 USD, chiếm 15,2% tỷ trọng). Đáng chú ý, có doanh nghiệp xuất khẩu sang Hoa Kỳ
với mức giá khá cao đạt 7.000 USD/tấn .
II, Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU.
Hiện nay EU đã trở thành đối tác thương mại lớn của Việt Nam.Xuất khẩu của Việt
Nam sang thị trường này tăng nhanh và đều qua các năm.Các doanh nghiệp Việt Nam tích cực
tìm cách mở rộng thị trường sang Châu Âu và doanh nghiêp các nước EU cũng đến Việt Nam
ngày càng nhiều để tìm kiếm cơ hội đầu tư kinh doanh tai đất nước giàu tiềm năng, văn hóa
lâu đời và có hơn 80 triệu khách hàng này. Những nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu vào thị
trường EU ổn định và liên tục tăng từ năm 2000 đến nay như: sản phẩm gỗ 77%/năm, điều
nhân 32%/năm, chè 35,8%/năm, cao su sơ chế 44,7%/năm, rau quả 35,5%/năm. Riêng cà phê
đã có dấu hiệu phục hồi sau vài năm đi xuống . Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản
đang khai thác tốt và có thị phần tương đối lớn ở khu vực này: Tại Bỉ chiếm 10,1% thị trường
nhập khẩu, Pháp chiếm 48,5%, Đức chiếm 57%, Italy chiếm 49,6%, Tây Ban Nha chiếm
53,9%, Anh chiếm 64,2% Có những mặt hàng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của nước
dụng thương hiệu của mình để tiêu thụ sản phẩm cho các đơn vị nhỏ trên cơ sở kiểm soát công
nghệ, chất lượng sản phẩm, đào tạo và hướng dẫn họ sản xuất để tạo ra nguồn hàng hóa đồng
nhất, ổn định. 6 - 7 tỷ USD là mục tiêu xuất khẩu vào EU của ngành nông nghiệp nước ta vào
năm 2010. Hiện nay thị trường EU mới chiếm gần 20% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông
sản của Việt Nam. Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn có kế hoạch nâng tỷ lệ này lên
30% với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như cao su, cà phê, chè, rau quả, hạt có dầu
Theo Cục Chế biến nông lâm sản và nghề muối, nên thành lập một số trung tâm thương
mại (có kho ngoại quan, phòng trưng bày, giao dịch nông sản ) tại các nước EU; cần có các
hình thức thưởng xuất khẩu mạnh hơn đối với mặt hàng phải cạnh tranh và đang gặp khó khăn
như rau quả, chè; đồng thời mở rộng các hoạt động xúc tiến thương mại ở các địa phương. Bộ
Nông Nghiệp và PTNT đề nghị Bộ Thương mại hỗ trợ xây dựng một chương trình tôn vinh
nông sản Việt Nam đối với cả thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu Do vậy các
doanh nghiệp phải nhận thức đúng và đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, xây dựng
thương hiệu, chỉ dẫn địa lý và quảng bá cho sản phẩm của mình.
III, Những thuận lợi và khó khăn của việc xuất khẩu hàng nông sản của VN
sang thị trường EU.
1, Thuận lợi:
Trước hết việc duy trì và cải thiện mối quan hệ Việt Nam – EU trong những năm qua đã
và sẽ mang lại những cơ hội cho quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam, không những chỉ
trong hoạt động xuất khẩu mà còn mở rộng sang các lĩnh vự khác như : ODA, du lịch… Một
trong những thuận lợi cho việc xuất khẩu các mặt hàng nông sản Việt Nam sang EU là cơ sở
pháp lý vững chắc. Điều đó thể hiện bằng hiệp định khung giữa EU và Việt Nam. Bằng việc kí
kết này EU đã thể hiện mối quan tâm thực sự của mình đối với Việt Nam và có chiến lược phát
triển lâu dài không những trên phương diện thương mại mà còn nhiều lĩnh vực khác như quan
hệ chính trị, văn hoá…
Việt Nam cũng đã có mối quan hệ lâu dài với các nước thành viên của EU khác như
Pháp, Đức, Italia… Với mối quan hệ tốt đẹp với các thị trường này, chúng ta có thể thâm nhập
dễ dàng hơn vào các nước thành viên khác trong liên minh châu Âu. Các mặt hàng nông sản
Việt Nam đang có ưu thế hơn so với các mặt hàng cùng loại của các nước trong ASEAN, Trung
Quốc… vì các mặt hàng này của các nước đã bị loại khỏi danh sách ưu đãi GSP hoặc đang bị
1, Thị hiếu, phong cách tiêu dùng, ngôn ngữ, văn hoá kinh doanh của mỗi nước, mỗi vùng
khác nhau:
Trong khi đó hàng hoá vào thị trường EU lại được lưu thông trên toàn bộ 27 nước. Như
vậy, việc tạo ra một sản phẩm và đưa sản phẩm vào được một nước và phải thích ứng với 26
nước còn lại là một thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Bởi nếu không
thì các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải chuyển từng lô hàng nhỏ vào để thích ứng với từng
vùng, miền, quốc gia hay nhóm tiêu dùng. Như vậy thì hiệu quả quy mô kinh tế sẽ không cao.
2, Thiếu vốn, nghiên cứu thị trường còn thấp:
Việt Nam rõ ràng có rất nhiều tiềm năng xuất khẩu nông sản, nhưng để thành công, sản
phẩm của ta phải đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế và đây thực sự là thách thức. Các công ty
kinh doanh hàng nông nghiệp ở Việt Nam thường có quy mô nhỏ và thiếu một chiến lược
chung trong sản xuất và tiêu chuẩn chất lượng. Do năng lực tài chính yếu kém khiến họ không
nâng cao được công nghệ và năng lực sản xuất, gặp khó khăn trong việc đáp ứng tiêu chuẩn
mẫu mã, vệ sinh và chất lượng. Đối với hàng nông sản, ngoài mặt hàng gạo, sắn lát khó khăn
về đầu ra thì các mặt hàng khác đều có triển vọng tốt về xuất khẩu trong năm nay. Do sản
lượng giảm nên giá cả xuất khẩu của các mặt hàng nông sản như điều, tiêu đứng ở giá cao. Dù
tình hình xuất khẩu khả quan về lượng cũng như giá, tuy nhiên, các hiệp hội cho rằng, do
không tiếp cận được với nguồn vốn nên các doanh nghiệp trong ngành không thể dự trữ đủ
nguyên liệu cho sản xuất. Nhiều hiệp hội sản xuất hàng xuất khẩu như cà phê, điều đều cho
biết doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn vì thiếu vốn mua nguyên liệu sản xuất. Còn đối
với ngành cà phê, do không có tiền nên các doanh nghiệp chỉ mua dự trữ được 7-8% so với kế
hoạch. Cần có phương án chủ động điều tiết thu mua hàng dự trữ, không phải đợi đến lúc thị
trường mất giá hàng hóa ế mới bàn đến chuyện mua tạm trữ. Vấn đề dự trữ nguyên liệu phải
tính đến mức độ thực hiện thường xuyên. Lâu nay, các doanh nghiệp Việt Nam quen kiểu mua
đâu bán đó chưa có khái niệm "mua thời vụ, bán thời giá" nên giá trị mang lại chưa lớn.
Nhiều doanh nghiệp cho rằng vì không đủ vốn nên đã bỏ qua cơ hội mua nguyên liệu giá rẻ và
có thể sẽ mất cơ hội có được mức lợi nhuận cao nhờ giá xuất khẩu hàng hóa tăng mạnh. Nhiều
hợp đồng nhưng thiếu vốn.
3, Suy giảm kinh tế từ các nước thuộc Liên minh châu Âu cùng với việc đồng Euro bị mất giá
đã liên đới làm xuất khẩu nông sản của Việt Nam gặp khó khăn
+) REACH Registration (Đăng ký), Evaluation (Đánh giá), Authorization
(Cấp phép) được ban hành và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/6/2007 để thay thế cho 40 luật về
hóa chất ở EU. Đây là luật nghiêm ngặt nhất về hóa chất trên thế giới cho đến nay. Mục đích
của Quy định REACH là đảm bảo an toàn sức khỏe cho con người và môi trường ở mức cao
bằng cách áp dụng các phương pháp đánh giá độ nguy hại của các chất
+) IUU là tên viết tắt của các hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không có
báo cáo và không được quản lý. Theo quy định IUU, các quốc gia thành viên EU phải áp dụng
việc xử phạt ở mức ít nhất gấp 5 lần giá trị của sản phẩm sai phạm, gấp 8 lần giá trị cho các
trường hợp tái phạm trong thời gian 5 năm. Ngoài ra, luật cũng đưa ra các biện pháp xử phạt
khác kèm theo như tịch thu tạm thời tàu đánh bắt cá vi phạm
+) SPS (Sanitary and Phytosanitary Measures) là hiệp định về áp dụng các
biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật. Biện pháp SPS áp dụng đối với hàng nhập khẩu
được xây dựng nhằm đảm bảo thực phẩm nhập khẩu an toàn cho sức khoẻ, ngăn chặn sự xâm
nhập, hình thành và lan rộng sâu rầy, dịch bệnh có thể tác động tiêu cực đến con người, động
vật hay thực vật tại nước nhập khẩu. Một số biện pháp SPS điển hình hiện nay như: tiêu chuẩn
vệ sinh an toàn thực phẩm, các quy định về kiểm dịch, các quy định về chứng nhận hàng xuất
khẩu của các cơ quan có thẩm quyền ở nước xuất khẩu. Các hàng xuất khẩu phải tuân thủ các
quy định SPS của EU bao gồm: thủy sản đánh bắt và nuôi trồng; sản phẩm từ thực vật như
gạo, hồ tiêu, cà phê, chè, hạt nhân, tiêu rau quả tươi; thực phẩm chế biến; sản phẩm từ động
vật gồm cả mật ong và thịt; gỗ…
Ủy ban châu Âu (EC) cũng đẩy mạnh việc kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm vào
nhóm hàng thuỷ sản, nông sản, mật ong, kiểm tra xuất sứ hàng Việt Nam, điều tra gian lận
thương mại Đây cũng là một trong những khó khăn của các doanh nghiệp Việt Nam bởi họ
vừa phải tìm cách tăng cường xâm nhập thị trường và vừa phải tính ở mức độ để không phải
là đối tượng của các biện pháp bảo hộ, và không phải doanh nghiệp nào cũng có thể đáp ứng
được các tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật này.
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU.
I, Giải pháp cấp nhà nước.
Hoàn thiện hành lang pháp lý tạo thuận lợi tối đa cho xuất khẩu.
Dubai, Matxcơva; Mỹ…
Gắn nhập khẩu công nghệ nguồn với xuất khẩu
Hiện nay trong buôn bán với EU Việt Nam xuất siêu khá lớn, nếu Việt Nam tăng cường
nhập khẩu công nghệ nguồn từ EU sẽ làm cân bằng cán cân thanh toán, phía EU sẽ không tìm
cách cản trở xuất khẩu Việt Nam, đồng thời nhập khẩu được công nghệ hiện đại phục vụ cho
sản xuất hàng xuất khẩu giúp thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu nói chung và sang thị trường EU
nói riêng. Đây là phuơng pháp hữu hiệu hỗ trợ và đẩy mạnh xuất khẩu sang EU. Nhập khẩu
công nghệ nguồn từ EU có thể thực hiện bằng hai biện pháp sau:
+ đầu tư của chính phủ
+ Thu hút các nhà đầu tư EU tham gia và quá trình sản xuất hàng xuất khẩu tại Việt Nam.
Để thực hiện, Nhà nước Việt Nam cần có những chính sách ưu đãi riêng cho các nhà
đầu tư EU ngoài những ưu đãi và quyền lợi họ sẽ được hưởng theo Luật đầu tư nước ngoài
của Việt Nam.
Hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
- Sử dụng có hiệu quả quỹ hỗ trợ xuất khẩu để các doanh nghiệp được vay vốn với lãi suất
thấp, giải quyết được khó khăn về vốn lưu động và vốn đầu tư đổi mới trang thiết bị. Bảo lãnh
tín dụng xuất khẩu, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thâm nhập được thị trường EU.
- Đảm bảo sự bình đẳng thực sự trong quan hệ tín dụng ngân hàng trên cơ sở pháp luật
giữa các thành phần kinh tế. Mở rộng khả năng tiếp cận nguồn tín dụng từ các ngân hàng cũng
như các định chế tài chính. Đơn giản hóa thủ tục vay vốn và yêu cầu thế chấp tài sản của ngân
hàng và các tổ chức tín dụng.
- Xúc tiến thành lập ngân hàng chuyên doanh của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, thu
hút sự tham gia của các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp lớn với sự hỗ trợ của Nhà nước
và các tổ chức quốc tế.
- Thực hiện lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất, kinh doanh xuất khẩu
sang EU có hiệu quả, sản xuất sản phẩm mới hoặc nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ
mới.
II, Giải pháp cấp doanh nghiệp.
Hiện nay cung với Mỹ, CanaDa, Eu là mợ trong những thị trường xuất khẩu chính của
hàng nông sản Việt Nam. Tuy nhiên các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn vướng phải những
lượng sản phẩm, thuận lợi hơn khi phải đáp ứng rào cản kỹ thuật của thị trường, có thể hạ giá
thành sản phẩm, tăng năng xuất, dễ dàng hơn khi tạo dựng thương hiệu.
Một quy trình sản xuất thống nhất nghĩa là từ khâu chọn giống, nuôi trồng, thu hoạch,
vận chuyển bảo quản đều phải nằm trong 1 quy trình nhất định, phải có giấy chứng nhận đảm
bảo. Để xây dựng một quy trình như vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự đầu tư lớn về vốn,
nhân lực, sự liên kết chặt chẽ giữa người nông dân, nhà xuất khẩu và cả những nhà khoa học.
Rõ ràng đây không phải là thế mạnh của doanh nghiệp Việt Nam khi vốn ít, nhân lực thiếu, và
luôn đau đầu về vấn đế đảm bảo sự ổn định nguyên liệu khi giá cả thị trường biến đổi. Vấn đề
về vốn doanh nghiệp có thể giải quyết bằng các nguồn tín dụng như ngân hàng, các quỹ,
trương trình hỗ trợ xuất khẩu của nhà nước, hay có thể liên doanh liên kết với nhau. Để đảm
bảo nguồn nhân lực chất lượng việc liên kết với các trường đại học, cao đẳng là giải pháp
không thể thiếu, sự bắt tay chặt chẽ với các nhà khoa học, các trung tâm giống, cây trồng
trong nước. Có thể cử nhân lực đi học hỏi các nước phát triển khác tuy nhiên cần chú ý nông
sản là mặt hàng có tính đặc thù cao vì điều kiện địa lý tự nhiên mỗi nước khác nhau. Yêu cầu
khoa học công nghệ khi xây dựng 1 quy trình sản xuất cũng rất quan trọng, khi các trung tâm
nghiên cứu tại Việt Nam chỉ tập về giống, hay phương pháp canh tác, sản xuất thì có rất ít các
công trình đưa ra cụ thể 1 quy trình sản xuất bảo quản hoàn thiện. Giải quyết vấn đề này
doanh nghiệp cần chủ động trong việc tìm kiếm,hợp tác, yêu cầu các trung tâm nghiên cứu, có
thể học hỏi các quy trình sản xuất ở nước ngoài và áp dụng vào điều kiện Việt Nam, cũng đã
có 1 số doanh nghiệp tự thành lập các trung tâm nghiên cứu cho riêng mình để thuận tiện hơn
trong kinh doanh. Sự liên kết với nông dân cũng cần nói đến vì đây chính là người trực tiếp
sản xuất, canh tác. Khi mà nông dân Việt Nam vẫn quen với phương pháp sản xuất nông
nghiệp manh múm, nhỏ lẻ, thiếu tính đồng bộ thì chưa thể có 1 quy trình sản xuất. Chỉ rõ
những lợi ích của việc sản xuất theo quy trình công nghiệp, hướng dẫn cụ thể từng bước, hỗ
trợ kinh tế kỹ thuật canh tác là những điều doanh nghiệp cần làm để đổi mới tư duy suy nghĩ
của người dân. Quan trọng hơn DN cần giữ chữ tín, trong việc thu mua sản phẩm đảm bảo giá
cả để nông dân yên tâm sản xuất, canh tác. Tóm lại để có 1 quy trình sản xuất thống nhất quan
trọng nhất là phải đảm bảo tính liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, người nông dân và các
nhà khoa học. Doanh nghiệp cần là cầu nói giữa họ, cần một cái nhìn vừa tổng thể, bao quát
vừa sâu sát để đảm bảo thành công.