TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
DỰ ÁN HỢP TÁC VIỆT NAM – HÀ LAN BÀI GIẢNG
KHUYẾN NÔNG CHUYÊN SÂU
Người biên soạn: Hoàng Gia Hùng
1.1.3. Một số kỹ năng thúc đẩy cơ bản
1.1.3.1. Kỹ năng đặt câu hỏi
Đặt câu hỏi làm cho người suy nghĩ sắc bén hơn, thúc đẩy học viên đi vào lĩnh
vực tư duy mới, xới sâu các ý tưởng hiện tại, kiểm tra khả năng thu nhận kiến thúc của
học viên. Khi đặt câu hỏi cần phải:
- Xác định mục tiêu hỏi để làm gì?
- Liệu câu hỏi đó có phù hợp với khả năng trả lời của học viên không?
- Câu hỏi phải rõ ràng phù hợp với đối tượng được hỏi?
- Câu hỏi phải có câu trả lời rõ ràng.
1.1.3.2. Kỹ năng trực quan hóa thông tin
1.1.3.3. Kỹ năng phân tích thông tin
1.1.3.4. Kỹ năng giao tiếp
* Định nghĩa
Giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa con người với con người,
mà qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý và được biểu hiện ở các quá trình thông tin, hiểu
biết rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau.
Giao tiếp là một tiến trình hai chiều của việc chia sẽ thông tin và ý tưởng, trong
đó bao gồm sự tham gia tích cực của người gửi và người nhận thông tin.
2
* Các đặc trưng cơ bản
Giao tiếp có những đặc trưng cơ bản sau:
- Đó là quan hệ giữa con người với con người dù ở bất kỳ lứa tuổi hay vị trí địa
lý nào. Mối quan hệ này là điều kiện tối thiểu để điều hành và hoàn thành các hoạt
động.
- Giao tiếp là quá trình mà con người ý thức được mục đích, nội dung và
phương tiện cần đạt được khi tiếp xúc với người khác.
- Giao tiếp dù mang mục đích gì thì cũng vẫn diễn ra cả sự trao đổi thông tin, tư
tưởng, tình cảm, nhu cầu của người tham gia vào quá trình giao tiếp.
- Giao tiếp là quan hệ xã hội mang tính xã hội.
- Luôn tạo ra những lời khích lệ.
- Thể hiện sự chăm chú và tỏ ra hết sức quan tâm đến câu trả lời đó.
- Lắng nghe đòi hỏi bạn phải kiên nhẫn.
1.1.3.6. Kỹ năng truyền đạt thông tin
Truyền đạt thông tin là một nhiệm vụ của cán bộ khuyến nông. Do đối tượng
truyền đạt phong phú, đa dạng về trình độ văn hoá và phong tục tập quán, nên đòi hỏi
người làm công tác khuyến nông phải có nhiều phương pháp truyền đạt khác nhau.
Một người truyền đạt thông tin giỏi phải là người có được những yếu tố sau:
- Hiểu được người nghe, biết được ý muốn của người nghe.
- Hiểu sấu sắc thông tin của mình và biết tryền đạt thông tin đó đến người nghe.
- Có phương pháp truyền đạt thông tin hợp lý.
- Chuẩn bị thông tin chu đáo sử dụng ngôn ngữ và phương tiện thích hợp.
- Chọn vấn đề phù hợp với từng hoàn cảnh.
- Thông tin truyền đạt cần ngắn ngọn, dễ hiểu.
qua các kênh thông tin khác nhau. Mà việc giải thích ở đây (bao gồm làm sáng tỏ và
truyền đi) chính là lĩnh vực của truyền thông. Như vậy trong hoạt động khuyến nông
thì truyền thông đóng một vai trò hết sức quan trọng. Sự quan trọng đó thể hiện qua
một số điểm sau:
- Cung cấp cho dân chúng những thông tin có ích cho họ.
- Đáp ứng nguyện vọng của người dân trong những điều kiện không thuận lợi.
2.2. Các hình thức và phương thức truyền thông
Trong thực tế có rất nhiều hình thức truyền thông khác nhau. Hình thức đơn
giản nhất là truyền thông giữa hai người đang cùng nhau có mặt, đây gọi là truyền
thông trực tiếp. Còn phức tạp hơn là truyền thông khi có nhiều người tham gia và gián
tiếp thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Những cho dù con đường truyền
thông có dài và phức tạp như thế nào đi nữa thì luôn có 4 thành phần cỏ bản chuyển
động qua 6 bước hay 6 giai đoạn. Có thể dễ dàng mô tả 4 thành phần cơ bản trong mọi
hình thức truyền thông.
Thành phần thứ nhất là nguốn thông tin, tức là người có những quan điểm hoặc
các ý nghĩ cần truyền cho người khác.
Thành phần thứ hai là người nhận truyền thông, tức là người hay những người
mà các quan điểm ý nghĩ đang nhằm vào để truyền đạt. Đây chính là đối tượng của
truyền thông, tức là người nông dân.
Thứ ba là phải có một bức thông điệp có thể được truyền từ nguồn đến người
nhận. Đây chính là các thông tin, các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các công nghệ mới
5
trong lĩnh vực nông nghiệp.
Thứ tư và là cuối cùng, thông điệp phải được phải hành trình qua một kênh hoặc
một phương tiện trung gian để làm thành lối đi tốt từ nguồn đến người nhận. Người cán
bộ khuyến nông có thể cung cấp những thông tin trên cho nông dân thông qua các hoạt
động tập huấn, đào tạo, huấn luyện,
2.3. Các thành tố của một quá trình truyền thông trong khuyến nông
Thành phần thứ nhất là nguồn thông tin, tức là người có những quan điểm hoặc
nhìn thấy, nghe thấy hoặc cảm thấy. Thực tế kí hiệu thay cho quan điểm và nhận thức.
Từ ngữ là kí hiệu thay cho nhận thức và động tác, tranh ảnh hay âm nhạc cũng vậy.
6
Các kiến thức và tình huống khác nhau thì yêu cầu những nhận thức khác nhau.
Chọn đúng kí hiệu là rất quan trọng và không phải lúc nào cũng dễ dàng. Đây là một
điều hết sức quan trọng trong khuyến nông, bởi vì nội dung hoạt động khuyến nông rất
đa dạng cộng với đối tượng khuyến nông cũng không đồng nhất. Có thể có lúc chúng
ta không thể tìm ra những kí hiệu thích hợp để diễn tả một ý nghĩ muốn bộc lộ. Có lẽ
một động tác hay một cái nhăn mặt có thể diễn tả một nhận thức của chúng ta tốt hơn.
Song, chọn được kí hiệu chính xác diễn đạt nhận thức của chúng ta là chưa đủ;
kí hiệu đó phải phù hợp với người nhận. Đây là một khía cạnh vô cùng khó khăn đối
với người làm công tác khuyến nông. Khó khăn thứ nhất là trong nông nghiệp sản xuất
bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau cho nên đòi hỏi phải có các cách nhận thức khác
nhau. Thứ hai đối tượng khuyến nông phong phú và đa dạng cả về trình độ và phong
tục tập quán nên đòi hỏi phải có các kí hiệu phù hợp với từng đối tượng.
Hãy quay lại ví dụ trước chúng ta thấy rằng: Nếu như tôi (nguồn thông tin)
muốn đích (người nhận thông tin - người bạn) hiểu rằng anh ta được mời đến để nói
chuyện trong chóc lát nhưng không quá lâu, thì tôi phải chọn từ, động tác và nét mặt để
anh ta hiểu đúng và chính xác rằng đây là một lời mời có giới hạn. Như vậy đòi hỏi
chúng ta phải mã hoá các ý nghĩ nhận thức bằng những kí hiệu sao cho người nhận
hiểu rõ và chính xác.
+ Bước 3: Truyền đạt. Một quan điểm trong nhận thức đã được mã hoá thành
các kí hiệu gọi là một thông điệp. Như vậy một thông điệp đơn giản là một nhận thức
được mã hoá và luôn luôn mã hoá bằng kí hiệu. Một thông điệp được mã hoá tốt là loại
mà kí hiệu đại diện đầy đủ và chính xác quan điểm mà nguồn mong muốn truyền
thông. Khi quan điểm đã được mã hoá thành thông điệp, thông điệp đó phải được
truyền đạt đến người nhận. Nói cách khác là, những từ ngữ - kí hiệu phải được hoặc là
nói ra hoặc là viết ra và trình bày; động tác phải được thực hiện; hình ảnh phải được
trình bày; động tác phải được trình diễn và cứ như thế đối với các kí hiệu khác.
quan. Chúng ta thực hiện việc đó theo bản năng khi nói chuyện với nhau. Kinh nghiệm
và cảm giác cho chúng ta thấy đó là phương pháp có hiệu quả đảm bảo việc tiếp nhận
có hiệu quả. Như vậy khi đào tạo, huấn luyện nông dân, người cán bộ khuyến nông cần
phải chú ý đến các khía cạnh có thể làm ảnh hưởng đến sự tiếp nhận thông tin của
người nông dân.
+ Bước 5: Giải mã. Người nhận sau khi nhận được thông điệp họ phải giải mã
để hiểu được chúng. Việc này phụ thuộc trước tiên vào sự nhận biết các kí hiệu của
người nhận. Có trường hợp người nhận đã giải mã được thông điệp tuy nhiên lại hiểu
sai ý của nguồn, điều này rất tai hại. Những trở ngại trên minh hoạ cho tầm quan trọng
của của việc phản hồi trong phương pháp truyền thông. Có nhiều trường hợp truyền
thông mà việc phản hồi ngay tức khắc là không thể thực hiện được ví dụ như viết thư
hoặc phát thanh. Vì vậy cần hết sức thận trọng khi mã hoá thông điệp và truyền đạt
chúng.
+ Bước 6: Tiếp thu. Sau khi giả mã thông điệp, thì cho dù thế nào đi nữa cũng
sẽ có những quan điểm mới định hình trong đầu người nhận. Để thông điệp đó có ích
cho người nhận thì phải có một sự hoà hợp giữa những kinh nghiệm có sẵn trong đầu
với những kiến thức vừa mới nhận được. Điều này nói lên người nhận cảm nhận được,
hiểu được thông điệp tức là họ giải thích được vấn đề chứ không phải là tiếp nhận để
lặp đi lặp lại mà không hiểu tại sao lại như thế. Để đảm bảo giai đoạn này thành công
người khuyến nông viên cần phải chú ý tới liều lượng thông tin, các loại ký hiệu cũng
như khả năng nhận thức của người nhận. 8
Chương 3
CHƯƠNG TRÌNH KHUYẾN NÔNG, TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ KHUYẾN
NÔNG
3.1. Đặc điểm của các chương trình khuyến nông
rộng lớn của nhà nước để đưa ra được mục tiêu hợp lý. Nhưng cho dù thế nào đi nữa
thì mục tiêu phải rõ ràng và cụ thể. Mục tiêu tổng quát phải được cụ thể hoá bằng các
mục tiêu trung gian.
9
Ví dụ: Mục tiêu tổng quát là cải thiện phúc lợi cho cộng đồng dân cư ở một tỉnh
A nào đó. Thì chúng ta có các mục tiêu trung gian thứ nhất là nâng cao thu nhập; mục
tiêu trung gian thứ hai là nâng cao năng suất; thứ 3 là nâng cao năng suất lúa; thứ 4 là
sử dụng giống có năng suất cao, tăng mức độ thâm canh, cải thiên điều kiện canh tác;
thứ năm là dạy cho nông dân biết cách trồng các giống lúa năng suất cao,
* Chọn nhóm mục tiêu (đối tượng)
Chọn nhóm mục tiêu hay đối tượng của chương trình khuyến nông
Mỗi một chương trình khuyến nông nên hướng vào một nhóm đối tượng (nhóm
mục tiêu) nhất định. Bởi vì để đạt được mục tiêu của mỗi chương trình này cần phải có
sự thoả mãn các điều kiện về nhân vật lực cần thiết, từ đó mà có thể lựa chọn phương
pháp thích hợp. Ứng với mỗi mục tiêu khác nhau thì nội dung viết ra cũng khác nhau.
Ví dụ: Có một chương trình khuyến nông với mục tiêu là cải thiện chất lượng
đàn bò chẳng hạn của một xã B nào đó, thì nhóm mục tiêu cho chương trình này là
những người nông dân có chăn nuôi bò, chăn nuôi càng nhiều càng tốt, càng lâu năm
càng tốt.
* Nội dung khuyến nông
Nội dung khuyến nông phụ thuộc vào mục tiêu của chương trình khuyến nông,
nhóm mục tiêu và chiến lược khuyến nông. Chính vì vậy khi đưa ra những khuyến cáo
đối với người nông dân, chúng ta cần phải căn cứ vào các khía cạnh trên.
Nội dung khuyến nông nên phải được tiến hành theo tuần tự bởi vì chuyển đổi
quan điểm và thái độ người dân đòi hỏi phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Chúng
ta có thể bắt đầu với những khuyến cáo như vẫn giữ vững năng suất nhưng chi phí sản
xuất giảm thay vì khuyến cáo tăng năng suất ngay từ đầu, hoặc bắt đầu khuyến cáo trên
một phạm vi nhỏ sau đó mới mở rộng diện tích ra, Vì những lý do trên mà khi đặt ra
nội dung cho 1 chương trình khuyến nông nên lưu ý các điểm sau:
đây là dễ làm và có hiệu quả hơn cả trong việc xác định nhu cầu của nông dân. Chúng
tôi gọi đó là phương pháp dùng thẻ (phiếu) nêu yêu cầu. Cách làm như sau.
Chuẩn bị khoảng 20 - 50 thẻ giấy cũng có kích thước 10 x 20 chỉ (dùng giấy bìa
có màu là tốt nhất). Chuẩn bị thêm khoảng 5-6 bút dạ và 2 cuộn băng dính (có thể dùng
đinh ghim). Nếu có thể có 1 bảng gỗ là tốt nhất dùng để dán các thẻ trên đó. Nếu không
có thì có thể tận đụng bức tường hoặc mặt tủ để thay thế.
Sau đó, mời một số nông dân am hiểu và trực tiếp tham gia vào lĩnh vục sản
xuất mà ta cần tìm hiểu (nhóm này từ 5 - 10 người). Phát thẻ và bút cho họ và yêu cầu
họ viết các nhu cầu (hoặc các khó khăn trở ngại mà họ gặp phải) trong quá trình sản
xuất. Yêu cầu họ viết chữ to và ngắn gọn. Sau đó, người tổ chức sẽ tập hợp các thẻ đó
lại và dán (hoặc ghim) các thẻ đó lên bảng (hoặc lên lường) theo các nhóm có yêu cầu
tương tự. Khi làm yêu cầu các nông dân cùng tham gia phân nhóm sẽ giúp chúng ta sắp
xếp chính xác nó vào nhóm nhu cầu nào. Sau khi tạm thời phân được các nhóm nhu
cầu trên cơ sở ý kiến của các cá nhân riêng lẻ. Điều cần thiết là phải lấy ý kiến thảo
luận của cả nhóm xem sự xác định các nhu cầu đó đã hợp lý và đầy đủ chưa, còn thiếu
hoặc cần điều chỉnh nhu cầu nào nữa không.
Bằng cách này, chúng ta có thể dễ dàng xác định nhu cầu của người nông dân về
bất cứ lĩnh vực nào mà ta cần tìm hiểu.
Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, rẻ tiền, dễ làm (kết hợp được cả ý
kiến cá nhân và tập thể) và dễ cuốn hút người dân tham gia. Điều cần lưu ý là người tổ
chức cần phải giải thích rõ ràng và hướng dẫn cụ thể cho các nông dân tham gia.
3.4.2. Xếp thứ tự mức độ quan trọng của các nhu cầu (hoặc các trở ngại)
Sau khi đã tìm được các nhu cầu (hoặc các khó khăn trở ngại) theo phương pháp
như đã nêu ở trên thì điều quan trọng tiếp theo là phải biết xếp thứ tự ưu tiên theo mức
độ tầm quan trọng của chúng để chúng ta tìm những nhu cầu quan trọng, cấp thiết nhất
11
để giải quyết trước, vì khả năng và điều kiện của chúng ta không cho phép giải quyết
đồng thời các nhu cầu cùng một lúc được.
Để xếp thứ tự mức độ quan trọng của các nhu cầu vừa tìm được, chúng ta có thể
thức ăn gia súc hoặc làm chất đốt. Như vậy, có thể nhận ra 2 nguyên nhân chính dẫn
đến cây ngô thiếu đạm là cách thức bón phân (bón không đủ, bón không đúng cách) và
đất nghèo chất hữu cơ.
2. Một nguyên nhân đặc biệt gây ra nhiều hậu quả
Ví dụ: Canh tác trên đất đồi dốc xói mòn, rửa trôi cây trồng sinh trưởng
kém, năng suất thấp thiếu thức ăn cho chăn nuôi sản xuất nông nghiệp phát triển
12
kém đời sống nông dân khó khăn, thu nhập thấp nông dân phá rừng làm nương
rẫy mới môi trường bị phá hủy
Như vậy, xói mòn trên đất đồi dốc là nguyên nhân chính gây ra khó khăn. Nếu
như chúng ta có giải pháp ổn định được độ phì, của đất bằng kỹ thuật canh tác trên đất
dốc hợp lý thì các mối liên hệ tiếp theo sẽ từng bước được giải quyết.
3. Hai vấn đề trở ngại có quan hệ qua lại với nhau
Ví dụ: sâu bệnh, cỏ dại không những ảnh hưởng đến cây trồng ngoài đồng
ruộng mà còn ảnh hưởng sang cả giai đoạn thu hoạch, bảo quản sau này.
4. Nguyên nhân xảy ra chỉ là một giả định
Trong nhiều trường hợp, nhiều nguyên nhân gây ra khó khăn trở ngại có vẻ như
không chắc chắn và khó có thể chứng minh tại chỗ. Trong trường hợp này, cần phải liệt
kê những nguyên nhân có thể xảy ra, sau đó thông qua các dữ liệu thu nhập được để
tìm ra cốt lõi của nguyên nhân gây ra qua phương pháp ngoại suy và loại trừ dần.
5. Nguyên nhân gây ra do không áp dụng kỹ thuật canh tác
Ví dụ: Nguyên nhân làm cho cây trồng các triệu chứng thiếu phân là do người
dân Không sử dụng phân bón (trồng chay) hoặc nếu có bón thì bón ít và không cân đối,
không đúng kỹ thuật, không đúng giai đoạn mà cây cần.
3.4.4. Dùng hình vẽ (sơ đồ) để biểu diễn sự liên hệ giữa những khó khăn trở ngại và
nguyên nhân gây ra
Đây là phương pháp đơn giản, dễ làm và dễ nhận ra các mối liên hệ khi nhìn
vào. Thông thường những nhu cầu, khó khăn và trở ngại được đặt trong các hình hộp
và nguyên nhân gây ra hướng tới hình hộp đó.
Nguyên nhân
trực tiếp
Nguyên nhân
gián tiếp
13
Thông thường người ta hay dùng sơ đồ WEB (hay còn gọi là sơ đồ mạng nhện)
để biểu diễn quan hệ nhân quả này. Bằng cách này chúng ta dễ dàng tìm ra nguyên
nhân và các giải pháp để loại trừ các nguyên nhân đó.
3.4.5. Liệt kê các giải pháp để giải quyết các những khó khăn trở ngại.
Một khi các nguyên nhân gây ra trở ngại chính cho việc phát triển sản xuất đã
được nhận diện, chúng ta cần liệt kê các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề trở ngại đã
được nhận diện thông qua kết quả nghiên cứu đã công bố, các tư liệu sẵn có hoặc
những thông tin có liên quan.
3.4.6. Chọn lọc các giải pháp kỹ thuật để giải quyết các khó khăn trở ngại
Trong hàng loạt các giải pháp mà chúng ta liệt kê để giải quyết các khó khăn trở
ngại hay nhu cầu, không phải giải pháp nào cũng có tính khả thi do những nguyên nhân
chủ quan và khách quan. Vì thế nhiệm vụ của chúng ta là cùng với nông dân chọn ra:
- Những giải pháp kỹ thuật thích nghi với điều kiện sinh thái nông nghiệp mới
nghiên cứu và tình trạng canh tác của nông dân.
- Những giải pháp kỹ thuật có tính hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi
trường.
- Giải pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và điều kiện của hộ
nông dân.
- Giải pháp giảm hoặc tránh rủi ro cho nông dân.
- Giải pháp có tính khả thi với điều kiện ngân sách, khuyến nông, cung ứng dịch
vụ ở địa phương.
3.5. Lập kế hoạch hoạt động khuyến nông và khuyến lâm thôn, bản có người dân
hoạt động. Khuyến nông, khuyến lâm phát triển sản xuất nông lâm nghiệp góp phần
nâng cao đời sống và phát triển nông thôn.
Lập kế hoạch hoạt động khuyến nông, khuyến lâm thôn bản là một quá trình vận
động và điều cốt lõi là có người dân tham gia với trách nhiệm cao. Quá trình này
thường phải qua 3 bước, các bước diễn ra tuần tự trước sau từ 1 đến 3, được sử dụng
nhằm để khuyến khích người dân tham gia một cách thực sự vào các bước và là
phương tiện giao tiếp và tiếp cận chủ yếu giữa cán bộ khuyến nông, khuyến lâm với
người dân và giữa người dân với người dân trong quá trình lập kế hoạch
3.5.2.1. Bước 1: Chuẩn bị
Tham gia vào bước chuẩn bị thường bao gồm cán bộ khuyến nông xã, huyện
(có thể có hỗ trợ của khuyến nông cấp tỉnh). Họ trực tiếp làm việc với các cấp chính
quyền cơ sở thôn, xã và gặp gỡ nông dân trong một số cuộc họp học thôn nhất định.
Công việc phải làm trong bước này gồm:
1. Chọn điểm để tiến hành lập kế hoạch
Điểm chọn được là cấp cộng đồng thôn, bản nơi diễn ra các hoạt động khuyến
nông, khuyến lâm.
Tại sao phải chọn điểm (chọn thôn, bản)?
Chọn điểm để thực hiện chiến lược phát triển khuyến nông, khuyến lâm: Xây
dựng điểm (thành mô hình) để mở rộng điểm ra diện rộng (mở rộng theo chiều ngang).
Nên chọn điểm như thế nào?
Điểm được chọn làm kế hoạch và tiến hành hoạt động khuyến nông, khuyến lâm
theo kế hoạch có vai trò rất quan trọng.
Điểm không những là nơi thử nghiệm phương thức hoạt động khuyến nông,
khuyến lâm từ người dân, nó còn là mô hình hoạt động khuyến nông, khuyến lâm để
mở rộng diện cho những hoạt động này trên địa bàn rộng (từ thôn đến xã ) .
15
Do vậy cán bộ khuyến nông, khuyến lâm cần lựa chọn một số tiêu chuẩn nhất
định để xác định điểm.
Một số tiêu chuẩn có thể xác định làm căn cứ chọn thôn điểm sau đây:
chọn người thay mặt mình tham gia vào nhóm công tác PRA lập kế hoạch hoạt động
khuyến nông, khuyến lâm.
3.5.2.2. Bước 2: Thực hiện quá trình lập kế hoạch hoạt động khuyến nông,
khuyến lâm tại thôn bản.
Bước này là bước kế tiếp bước chuẩn bị, sau khi thôn đã được chọn người dân
dã nhất trí tham gia, thôn đã chọn được các thành viên đại diện, thôn đã thống nhất kế
16
hoạch và thời gian tiến hành lập kế hoạch cách thức tiến hành bước này tại thôn bản
như sau:
1. Các bộ khuyến nông huyện (hoạt tỉnh) xuống thôn tổ chức chuyển giao các
kỹ năng thực hiện PRA cho các thành viên đại diện đã được thôn bản lựa chọn.
- Thống nhất với họ lần cuối cùng về kế hoạch tiến hành bước 2
- Xác định vai trò, nhiệm vụ của mỗi thành viên trong nhóm
- Huấn luyện và chuyển giao các công cụ PRA cho nhóm
2. Thực hiện quá trình đánh giá thôn bản có sự tham gia của người dân để xác
định thực trạng của thôn bản.
- Bằng các công cụ và kỹ năng sử dụng công cụ của PRA, nhóm công tác PRA
(gồm cán bộ khuyến nông huyện, xã và đại diện thôn, bản) cùng với người dân đánh
giá thực trạng về các tiềm năng: đất đai, lao động, vật nuôi, cây trồng và kiến thức của
cộng đồng.
- Bằng các công cụ và kỹ năng sử dụng công cụ của PRA đánh giá về thực trạng
kinh tế - xã hội (phân loại kinh tế hộ, các phương thức hoạt động sản xuất, sử dụng đất
đai, thực trạng y tế, giáo dục vv )
- Bằng các công cụ và kỹ năng sử dụng công cụ PRA đánh giá và tập hợp được
các yêu cầu của người dân và cộng đồng về phát triển sản xuất, hoạt động khuyến
nông, khuyến lâm Nói chung là những yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội thông
qua hoạt động khuyến nông, khuyến lâm địa phương.
Thực trạng của thôn bản là bức tranh toàn cảnh mô tả một cách chân thực về
tiềm năng, kinh tế, xã hội hiện tại của cộng đồng là cơ sở để xác định điểm yếu, thuận
Ví dụ 2:
Kết quả cuối cùng của thôn B trong năm 2001:
1. Giữ và bảo vệ được (không có hiện tượng chặt phá, đốt ) 10 ha rựng tự
nhiên hiện có
2. Phủ xanh được 20 ha bằng biện pháp trồng rừng và xây dự
ng mô hình nông
lâm kết hợp.
3. Đưa được 50% diện tích vào trồng Ngô Đồng (Ngô lai có năng suất cao)
20% diện tích vào thử nghiệm giống lúa mới
4. 50% lượt hộ gia đình được tập huấn kỹ thuật (lúa mới, ngô mới, thú y,
nuôi cá )
5. …………………….
4. Xác định các giải pháp để đạt được kết quả cuối cùng cho năm kế hoạch.
- Các giải pháp chính là các hoạt động cụ thể của cộng đồng sẽ làm để phấn đấu
đạt tới mục tiêu hay kết quả cuối cùng của năm kế hoạch.
- Các giải pháp thông thường được nhóm công tác PRA tập hợp sau quá trình
đánh giá thực trạng và xác định được mục tiêu bằng phương pháp PRA.
Ví dụ 1:
Thôn B có 100 ha đồi trọc, mỗi năm phấn đấu trồng được 20 ha
Kết quả cuối cùng sau một kỳ kế hoạch (5 năm) của cộng đồng có thể xác
định cụ thể là phủ xanh toàn bộ đồi trọc bằng trồng rừng tất nhiên khi đánh giá
căn cứ vào mục tiêu này, không những, xem xét diện tích trồng rừng có đạt
Khối lượng là chỉ tiêu hết sức cụ thể cho từng hoạt động, nhóm công tác lập kế
hoạch có thể đưa ra dự kiến của mình sau khi đã thảo luận với cán bộ thôn, bản và
người dân. Dự kiến khối lượng cho từng nội dung hoạt động cần được đưa ra thảo luận
và được thống nhất cao (trồng bao nhiêu ha rừng cho năm 2005, thử nghiệm bao nhiêu
ha giống lúa mới, ngô mới, trên bao nhiêu hộ gia đình?, xây dựng bao nhiêu mô hình,
bao nhiêu thử nghiệm khuyến nông, khuyến lâm )
6. Xác định thời gian cho các hoạt động
19
Thời gian tiến hành các hoạt động cũng cần phải xác định rõ và phù hợp với
yêu cầu của người dân và quan trọng là phủ hợp với lịch mùa vụ của địa phương. Xác
định được thời gian cho các hoạt động cụ thể sẽ giúp, nhóm khuyến nông viên thôn bản
lên được kế hoạch tiến độ. Các tổ chức khuyến nông các cấp cơ sở phối hợp cho việc
theo dõi và hỗ trợ cho cộng đồng thực hiện kế hoạch (hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật, vật
tư, cây con, vốn vay theo dõi, giám sát, đánh giá cho kịp thời vụ và đúng với yêu cầu
của người dân).
Thời gian cần cho một hoạt động nên xác định:
- Khi nào bắt đầu?
- Khi nào kết thúc?
- Khi nào tiến hành tổng kết, đánh giá?
7. Xác định nguồn lực và trách nhỉệm cho từng hoạt động
Nguồn lực và trách nhiệm thực hiện cho từng hoạt động là một nội dung hết sức
quan trọng trong việc lập kế hoạch hàng năm cho hoạt động khuyến nông, khuyến lâm
ở thôn, bản.
Thông thường các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm trên địa bàn thôn, bản
có sự góp phần của 3 nguồn lực: i) Nguồn lực từ người dân/hộ gia đình; ii) nguồn lực
vì cộng đồng thôn bản; iii) Nguồn lực từ Nhà nước/Dự án. Cũng trên cơ sở nguồn lực
mà xác định trách nhiệm cho các bên trong việc thực hiện từng nội dung hoạt động
khuyến nông, khuyến lâm tại thôn, bản.
Trong quá trình sử dụng phương pháp PRA để xây dựng kế hoạch hoạt động
* Trồng rừng
- Hạt giống, túi bầ
u, phân
bón
- Cây con trồng rừng
* Trồng cây ăn quả
*Giống lúa ngô mới
* Huấn luyện, chuyển
giao kỹ thuật
- Làm vườn ươm, sản xuất
ở hộ gia đình
- Mua cây con trả 30% giá
1 cây
Mua cây giống trả 30%
giá 1 cây
- Mua theo giá dịch vụ
- Tham gia
- Hỗ trợ hạt giống, túi bầu,
phân bón
- Dự án sản xuất cây con
cung cấp và thu lại 30% giá 1
cây
- Trợ giá tùy theo mỗi loại
-Tổ chức lớp học, hướng dẫn
và cung cấp tài liệu kỹ thuật
giao kỹ thuật về khuyến nông, khuyến lâm cho người dân.
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Có tinh thần tự nguyện phục vụ nông dân/ cộng đồng.
- Được dân tín nhiệm
- Có trình độ nhất định về văn hóa, kỹ thuật canh tác
- Có thời gian tham gia các lớp tập huấn và giao tiếp với người dân . Bảng 4.3. Mẫu kế hoạch hoạt động khuyến nông thôn, bản hàng năm
Mục tiêu dài hạn
Kết quả mong đợi năm 200
Nguồn lực/ trách nhiệm Nội dung hoạt
động/ giải
pháp
Khối lượng
thực hiện
(ha, hộ )
Thời gian
Hoạt động
Người dân Bên ngoài
Hiện trạng năm 200
2.5.2.3. Bước 3: Thẩm định kế hoạch hoạt động khuyến nông, khuyến lâm thôn,
bản.
Kế hoạch hoạt động khuyến nông, khuyến lâm thôn, bản sau khi đã thống nhất
lần cuối với toàn bộ cộng đồng được gọi là kế hoạch sơ bộ về hoạt động khuyến nông,
khuyến lâm thôn, bản. Nhóm quản lý thôn, bản sẽ gửi lên trạm khuyến nông huyện để
khuyến nông cấp huyện và tỉnh tổ chức thẩm định.
22
làm, cách khắc phục những vướng mắc khó khăn, xem xét những gì dẫn đến thành
công hoặc thất bại, những kinh nghiệm từ đó rút ra những kết luận có ý nghĩa nguyên
lý về thực tiễn: Sẽ làm gì, làm như thế nào, những điều kiện gì cần có để làm nhằm đạt
được kết quả tốt hơn trong tương lai. Nghiên cứu thiết lập một lúc hoạch đánh giá hay
một kế hoạch tổng kết và tổ chức thực hiện kế hoạch đánh giá - tổng kết, có thể được
coi như một phần quan trọng của toàn bộ quá trình khuyến nông.
23
- Theo J.Seepersad và TH.Hendereon, đánh giá là một hoạt động của chúng ta
làm hàng ngày, bởi vì chúng ta luôn luôn phát hiện chính giá trị của những vấn đề
chúng ta làm, hay kinh nghiệm. Ví dụ chúng ta đánh giá lương thực chúng ta ăn, công
việc chúng ta làm, những chương trình phát thanh chúng ta nghe
Đánh giá khuyến nông có thể định nghĩa như một qua trình liên tục và có hệ
thống để đánh giá giá trị hoặc giá trị tiềm năng của chương trình khuyến nông.
- Theo E.Grober và V.Hoffmann, đánh giá nhằm mục đích đưa ra được những
vấn đề chỉ những khả năng cải tiến hoạt động khuyến nông. Nó so sánh tình trạng ban
đầu với tình trạng hiện nay trong đó đã có đến mức nào, hoặc không có tác động của
hoạt động khuyến nông.
Đánh giá có 4 chức năng rõ rệt:
a. Giúp đỡ cán bộ khuyến nông (CBKN) cải tiến công tác: Chức năng của cán
bộ khuyến nông? CBKN có quan trọng? Đã giúp ích gì cho những thành viên của
những "nhóm nông dân mục tiêu" đã cải thiện được đời sống vật chất và tinh thần của
nông dân như thế nào?
b. Kiểm tra chương trình khuyến nông:
Chỉ ra cho cơ quan khuyến nông những khó khăn, vướng mắt việc thực hiện
chương trình, phát hiện những nguyên nhân và kiến nghị những biện pháp để cải tiến
tình hình.
c. Khuyến cáo những người làm kế hoạch khuyến nông; xem xét lại những quan
điểm và giả thiết đã làm cơ sở cho việc thiết lập chương trình phát triển khuyến nông,
cho phép đưa ra những chủ trương và biện pháp mới thiết thực sát với sự diễn biến của
nông.
k. Phương pháp "bình giá" có thể giúp ta tuyển chọn đề tài giáo dục khuyến
nông theo một tiêu chuẩn khách quan và thích hợp.
l. Có thể bảo đảm việc hoàn tất các kế hoạch giáo dục khuyến nông.
3.6.2. Đối tượng và qui trình đánh giá khuyến nông
3.6.2.1. Đối tượng đánh giá khuyến nông
Khuyến nông là một ngành giáo dục ngoài học đường, nên có thể áp dụng được
những nguyên lý và nguyên tắc của ngành giáo dục chính quy trong học đường. Đối
tượng của đánh giá giáo dục học đường không phải chỉ riêng thành tích học tập của học
sinh mà còn bao gồm cả các phương tiện khác nữa như khả năng của Giáo sư, trang bị,
quy chế và tổ chức giáo dục hành chính học đường.
Ngành giáo dục khuyến nông cũng thế, đối tượng của sự đánh giá không chỉ
riêng, về sự 'biến đổi nhận thức, hành vi của nông dân, sự biến đổi về năng suất cây
trồng, vật nuôi mà thôi, mà còn bao gồm cả các phương tiện tổ chức,'hành chính, kế
hoạch, phương pháp Phải phân tích những ưu khuyết điểm của những phương diện
trên với tinh thần khoa học khách quan, rút ra những kết luận chính xác nhằm làm cho
việc xây dựng các chương trình khuyến nông tiếp theo được tốt hơn.
3.6.2.2. Qui trình đánh giá chương trình khuyến nông
* Giai đoạn I
- Quan sát thực tế, xác nhận hoàn cảnh kinh tế xã hội của cộng đồng nông dân
trước khi phổ biến và thực hiện chương trình khuyến nông. Ghi nhận rõ những đặc
điểm trong hệ thống sinh thái và hệ thống xã hội, những tập quán, cách làm ăn, những
hành vi của nông dân trước đây. Phải xem lại các tài liệu điều tra và ghi chép sổ tay
ban đầu của cán bộ khuyến nông.
* Giai đoạn II
- Quan sát sự diễn biến của tình hình trong khi phổ biến và thực hiện chương
rình khuyến nông.