Bài Giảng NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP doc - Pdf 21


BÀI GIẢNG
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN HỆ
THỐNG NÔNG NGHIỆP

1

Bài Giảng
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP
(Chương trình 2 ĐVHT)
* Phân Phối chương trình:
Bài 1: Vai trò nông nghiệp, lịch sử phát triển và các loại hệ thống nông nghiệp (5
tiết)
Bài 2: Tổng quan nghiên cứu & phát triển Hệ thống nông nghiệp (8 tiết).
Bài 3: Lựa chọn khu vực, điểm nghiên cứu và Mô tả Hệ thống nông nghiệp (3 tiết)
Bài 4: Phát hiện vấn đề và khai thác tiềm năng của Hệ thống nông nghiệp (3 tiết)
Bài 5: Nghiên cứu thử nghiệm đồng ruộng và chuyển giao kết quả nghiên cứu (3
tiết)
Phần Semina và thực hành môn học: 8 tiết (2 buổi) cho cả lớp. Một ngày đi
về thôn xã và một ngày thảo luận nhóm.
* Mục tiêu:
Cung cấp những kiến thức cơ bản về nghiên cứu phát triển hệ thống nông
nghiệp. Trang bị những ứng dụng lý thuyết hệ thống trong thực tiễn sản xuất nông
nghiệp hiện nay. Hiểu lịch sử và các loại hệ thống nông nghiệp.
Cung cấp phương pháp và tiến trình thực hiện trong nghiên cứu phát triển hệ
thống nông nghiệp và hệ thống canh tác.
* Nội dung chung:
- Vai trò nông nghiệp, lịch sử phát triển và các loại hệ thống nông nghiệp.

- Nông nghiệp là sản xuất đặc biệt mở ra trên địa bàn rộng lớn, lệ thuộc vào
tự nhiên (Đặc biệt là ngành trồng trọt). Trong nông nghiệp ngành trồng trọt là sản
xuất đầu tiên. Không có sản xuất ngành trồng trọt thì không có sản xuất nông
nghiệp, vì nó cung cấp lương thực, thực phẩm rất thiết yếu cho con người.
- Nông nghiệp là Sinh học áp dụng cho việc trồng trọt và chăn nuôi. Là những
tác động có mục đích của con người vào các cảnh quan dùng để canh tác nhằm lấy
ra ngày một nhiều hơn các sản phẩm nông nghiệp. Đó là sự kiểm soát và điều khiển
cây trồng vật nuôi trong hoạt động của hàng ngày của con người.
- Theo Spedding 1979 đã định nghĩa nông nghiệp là một loại hoạt động của
con người, được tiến hành trước hết là để sản xuất ra lương thực, sợi, củi đốt cũng
như các nguyên vật liệu khác, bằng sự cân nhắc kỹ lưỡng và sử dụng có điều khiển
cây trồng và vật nuôi.
- Hoạt động của nông nghiệp chỉ là một bộ phận của cuộc sống xã hội, do vậy
nó phải được gắn liền với nhiều ngành khoa học khác nhau, bao gồm cả khoa học tự
nhiên, khoa học xã hội, và sinh học .
- Nông nghiệp tự nó đã rất rõ rằng, đó là hoạt động có mục đích của con
người để tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhiều nhu cầu khác nhau của con người.
Những hoạt động đặc thù của nông nghiệp là các hoạt động về trồng trọt và chăn
nuôi để tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho con người.
Nền kinh tế

Khoa học tự nhiên
và xã hội
Sinh học

Näng
nghiãû

4

S 2: Nhng mc ớch ca NN

Làm thoả mn các nhu cầu
Cá nhân
Tồn tại
Đem bán
An ninh bảo
tồn

X
uất khẩu

Nhập khẩu

Lơng thực
Lao động
Nhiên liệu
Nguyên vật liệu
Thức ăn cho gia súc
5

1.2. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA NÔNG NGHIỆP
1.2.1 Lịch sử nông nghiệp thế giới.
Trên thế giới đã có nhiều quan điểm và ý kiến về vấn đề lịch sử phát triển
nông nghiệp của con người. Để nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp có
kết quả, trước hết cần phải hiểu rõ lịch sử phát triển của nền sản xuất này. Nền sản
xuất nông nghiệp phát triển ngày nay đã trải qua một lịch sử lâu dài từ một nền xản
xuất thô sơ, đơn giản đến hiện đại và phức tạp, gắn liền với sự phát triển của xã hội
loài người. Các hệ thống sản xuất xuất hiện và có nhiều những biến đổi
Theo Mazoyer (1997) lịch sử nông nghiệp bắt đầu từ các trung tâm khởi
nguyên lớn và từ các trung tâm này cũng xuất hiện những trung tâm thứ cấp. Tác
giả cho rằng Việc khai khẩn nông nghiệp có cách đây 10.000 - 12.000 năm, ở thời

+ Du mục
6

+ Sản xuất kiểu đồn điền
+ Chăn nuôi lấy thịt
+ Sản xuất cây lấy hạt ở quy mô lớn
 Đường Hồng Dật (1980); Cao Liêm, Trần Đức Viên (1990 ) và một số tác giả
khác chia lịch sử phát triển nông nghiệp thành 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn nông nghiệp thủ công: Con người tác động vào thiên nhiên là
chủ yếu và phổ biến là bằng lao động sống, lao động cơ bắp giản đơn, còn trí tuệ
chủ yếu là kinh nghiệm, vật tư kỹ thuật sản xuất và công cụ lao động cũng rất đơn
giản nên sản phẩm nông nghiệp được tạo ra ít, năng suất cây con thấp.
Sơ đồ 3: Phương thức chính trong khai thác tài nguyên
+ Giai đoạn nông nghiệp cơ giới hoá: Bắt đầu từ thế kỷ 18 đến thập kỷ 70
của thế kỷ 20. Sản xuất nông nghiệp ở giai đoạn này có những bước tiến nhảy vọt
nhờ có lao động sống được hỗ trợ bởi vật tư và công cụ sản xuất được cải tiến
không ngừng và nhờ đó mà sản phẩm tạo ra ngày thêm nhiều, năng suất tăng rõ rệt,
góp phần cải thiện đời sống người lao động.
Trong giai đoạn này Con người đã thực hiện "5 hoá" trong sản xuất nông
nghiệp: cơ khí hoá, thuỷ lợi hoá, hoá học hoá, điện khí hoá và sinh học hoá. Tuy
nhiên đây cũng là giai đoạn sản xuất nông nghiệp đã sử dụng quá nhiều năng lượng

Sơ đồ 4: Phương thức chính trong khai thác tài nguyên
+ Giai đoạn phát triển nông nghiệp hiện đại trên cơ sở khoa học kỹ thuật tiên
tiến: Những phản ứng tự nhiên của thiên nhiên đã buộc con người phải cân nhắc và
có những biện pháp tích cực và thận trọng hơn trong sản xuất nông nghiệp. Các hoạt
động sản xuất ở giai đoạn này được định hướng phù hợp với các quy luật tự nhiên
của hệ sinh thái và dựa trên cơ sở điều khiển sản xuất bền vững bằng trí tuệ - đó là
các tri thức khoa học và kỹ thuật hiện đại, tiên tiến. Tuy nhiên, thực trạng sản xuất
nông nghiệp trên thế giới cho thấy mới chỉ có một số nước phát triển bước vào giai
đoạn thứ ba này. Nhìn chung ở nhiều nước giai đoạn này chưa phát triển rõ, mới thể
hiện ở lý thuyết cấu trúc hệ thống và lý thuyết sinh thái nông nghiệp, sinh thái môi
trường.
Sơ đồ 5: Phương thức chính trong khai thác tài nguyên
 Harrison (1964) và một số tác giả khác nhìn nhận lịch sử phát triển nông nghiệp
do áp lực gia tăng dân số của con người. Kết quả nghiên cứu cho thấy số người cư
trú trên một dặm vuông của các kiểu canh tác khác nhau rõ rệt, các hoạt động sản
xuất mang tính đặc trưng riêng cho mỗi vùng:
Kiểu canh tác

Hái lượm
Săn bắn và câu cá
Trồng trọt đơn giản

 Thời kỳ nguyên thuỷ
- Người vượn và người hiện đại: săn bắt, hái lượm, cuộc sống rất hoang dã và
phụ thuộc vào tự nhiên. Cư dân văn hoá Hoà Bình: trồng rau củ, săn bắt, đánh cá
(Khoảng hơn 1 vạn năm trước đây)
Có thể coi các cư dân nông nghiệp sơ khai thuộc nền văn hoá Hoà Bình. Công
cụ đá thuộc văn hoá Hoà Bình có thể dùng để chế tác các công cụ bằng tre, gỗ và để
dùng trực tiếp trong săn bắt.
Nông nghiệp đã nảy sinh trong lòng nền văn hoá Hoà Bình, người ta đã thấy
phấn hoa cây bộ đậu ở Việt Nam, thấy hạt bầu bí và các loại đậu ở Thái Lan. Trong
một số hang thuộc văn hoá Hoà Bình, ở Xóm Trại (Hoà Bình) đã tìm thấy nhiều hạt
thóc, vỏ trấu và hạt gạo cháy. Từ đó, người ta cho rằng nông nghiệp ra đời bắt đầu
bằng giai đoạn trồng rau, củ rồi đến giai đoạn trồng lúa. Ở thời kỳ này, các bộ lạc
vùng núi lấy săn bắt làm chính, các bộ lạc vùng biển lấy khai thác thuỷ hải sản làm
chính.
- Thời đại đá mới: Các bộ lạc trồng lúa. Thời đại đá mới, nghề săn bắt trên cạn
và dưới nước vẫn phát triển. Vào cuối thời kỳ đá mới, khoảng 5000 - 6000 năm trước
đây, phần lớn các bộ lạc nguyên thuỷ trên đất nước Việt Nam đã phát triển đến giai
đoạn nông nghiệp trồng lúa. Các cư dân nông nghiệp trồng lúa ở lưu vực sông Hồng
thuộc các bộ lạc Phùng Nguyên (Vĩnh Phúc) mà người ta cho là cội nguồn của nền văn
minh sông Hồng mang nét đặc trưng của vùng.
Ở Phùng Nguyên, ngoài các công cụ bằng đá, tre, gỗ, đã bắt đầu có đồng thau.
Có một di chỉ rất quý, đó là ruộng có bờ cao xung quanh, mặt ruộng đã được san bằng
phẳng và còn được giữ lại cho đến ngày nay. Nhờ có bờ ruộng giữ được nước việc thay
thế hình thức chọc lỗ bỏ hạt bằng kỹ thuật cấy lúa đã đảm bảo cho lúa cấy phát triển.
Người Phùng Nguyên đã biết chăn nuôi, ít ra đã nuôi chó, lợn, trâu, bò, gà.
 Thời kỳ dựng nước: các vua Hùng, nước Văn Lang (khoảng 4000 năm trước
đây)
Thời kỳ này thuộc nền văn hoá Đồng Thau rực rỡ, gọi là văn hoá Đông Sơn.
Nước Văn Lang thời các vua Hùng ở vào sơ kì thời đại Đồng Thau đến sơ kỳ thời đại
đồ sắt phát triển qua 4 giai đoạn kế tiếp:

đã khai phá ở miền núi, trung du, những diện tích khai phá thêm ở vùng đồng bằng,
ven biển ngày càng nhiều. An Dương Vương dựng nước Âu Lạc, dời đô xuống đồng
bằng. Nhân dân ta tiếp thu một số yếu tố văn hóa và tư liệu sản xuất từ nước ngoài:
giống cây trồng mới (kê, ngô, cao lương, một số loại đậu ), kỹ thuật nông nghiệp mới
(bón phân bắc, guồng nước), kỹ thuật thủ công (dệt lụa gấm, làm đồ sứ, thuộc da )
Từ đầu công nguyên, việc dùng lưỡi cày sắt đã phổ biến., ở thời kỳ này cũng đã
tìm thấy rìu, mai, cuốc bằng sắt. Cùng với việc dùng công cụ bằng sắt sắc bén hơn,
đất được cày bừa tốt hơn, diệt trừ cỏ dại, khai hoang, làm thuỷ lợi, làm ruộng bậc
thang, đắp đê sông, đê biển, đào sông ngòi nông dân đã biết thâm canh hơn, dùng
nhiều loại phân (tro than, phân bắc). Lúa được gieo cấy theo vụ, tăng vụ.
Về lương thực và hoa màu, nông dân trồng nhiều lúa gạo, khoai, đậu đỗ, củ.
Cây ăn quả có chuối, cam, quít, vải, nhãn, dừa Trong vườn còn có dưa, rau (cà,
hành, gừng, hẹ, rau muống ). Để chống sâu bọ đục thân và quả cam, người ta nuôi
loại kiến vàng cho làm tổ trên cành cam, bán cành cam chiết, bán luôn cả tổ kiến
vàng trên cành có bó chiếu. Như thế nghề làm vườn đã biết chiết, ghép Người ta
trồng mía, ép mía làm đường, mật. Ven sông trồng dâu nuôi tằm. Nông dân đã biết
khai thác những loại gỗ quý và lâm sản (trầm hương, tre, mây), cây làm thuốc (quế,
xương bồ, ý dĩ, sa nhân ). Về chăn nuôi, người Lạc Việt nuôi trâu, bò, lợn, gà, dê,
chó, vịt, ngỗng và voi. Nghề nuôi tằm được mở rộng, đã có thả cá ao. Việc đánh cá,
săn bắt không còn vị trí độc thân như trước.
10
 Thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến thống nhất độc lập (từ thế kỷ X đến thế
kỷ XVII)
Thời kỳ này có thể chia thành 2 giai đoạn:
- Giai đoạn nhà nước phong kiến độc lập: từ thế kỷ X đến thế kỷ XV. Ở giai
đoạn này nhà nước phong kiến trải qua các triều đại: Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng,
Tiền Lê, Lý (thế kỷ XI, XII), Trần (thế kỷ XIII), Hậu Lê (thế kỷ XV, XVI). Có sự khác
nhau trong mỗi giai đoạn lịch sử.
+ Theo lịch sử, vua Lê Đại Hành là người đầu tiên tổ chức lễ cày ruộng tịch
điền. Nhà Tiền Lê chú ý các công trình vét sông, đào kênh dùng vào giao thông và thuỷ

Đời Trần suy vong, chính quyền về tay Hồ Quý Ly. Đối với nông nghiệp họ Hồ
có hai cải cách lớn. Năm 1347 nhà vua thực hiện chính sách hạn điền quy định số
lượng ruộng đất cho người có ruộng.
11
Nhà Hồ suy vong, tiếp theo là thời kỳ nhà Minh đô hộ. Thóc gạo, trâu bò bị
cướp bóc. Nhiều thứ thuế mới được đặt ra, lao dịch nặng nề
+ Nhà Hậu Lê: đầu thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVI. Đây là thời kỳ nông nghiệp
Việt Nam phong kiến thịnh đạt nhất.
Sau 20 năm bị nhà Minh đô hộ, nhà nước chủ trương mở rộng khẩn hoang lập
đồn điền, mở mang thuỷ lợi.
Chế độ sở hữu ruộng đất của nhà nước được mở rộng thêm, có mấy điểm đáng
chú ý:
* Lộc điền: theo luật lệ ban hành 1447 họ hàng nhà vua và quan lại từ tứ phẩm
trở lên được cấp lộc điền, một phần cấp vĩnh viễn, một phần cấp cho sử dụng, sau khi
chết 3 năm hoàn trả lại cho nhà nước.
* Quân điền: 1429 quy định cách phân phối và sử dụng ruộng đất của công xã.
Về nguyên tắc, mọi người đều được chia ruộng, nhưng một viên quan tam phẩm được
chia 11 phần thì nông dân nghèo chỉ được 3 phần rưỡi. Thời gian quân cấp 6 năm một
lần. Nông dân làm ruộng đất công, thực tế là tá điền cho nhà nước, nên phải nộp tô
thuế, lao dịch, đi lính.
* Mở rộng chế độ tư hữu ruộng đất: triều đình miễn thuế ruộng tư và ban hành
nhiều điều luật nhằm hợp pháp hoá việc chiếm đoạt và tập trung ruộng đất của giai cấp
địa chủ.
Khi triều Lê suy vong thì nông nghiệp cũng bắt đầu suy thoái, đê điều bỏ mặc
không ai trông nom, các công trình thuỷ lợi bị hư hỏng.
- Giai đoạn nhà nước phong kiến suy yếu: từ cuối thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ
XVII. Thời kỳ vua Lê chúa Trịnh ở đàng ngoài và chúa Nguyễn ở đàng trong, sản xuất
nông nghiệp thu nhập rất thấp. Thời kỳ vua Lê chúa Trịnh, Nam Bắc phân tranh, cuộc
nội chiến Nam Bắc kéo dài hơn hai trăm năm là nguyên nhân chính làm kinh tế suy
sụp, đời sống người lao động rất vất vả, không bình đẳng trong cuộc sống.

bỏ hoang được thanh toán, sản xuất nông nghiệp phục hồi.
Nhà Nguyễn Gia Long thiết lập nền cai trị bằng những hình phạt khắc nghiệt,
dã man. Về chính sách ruộng đất, Gia Long ra lệnh tịch thu ruộng đất của những
người theo Tây Sơn, trả lại cho chủ cũ những ruộng đất Tây Sơn đã chia cho nông
dân. Ruộng đất công của làng xã được chuyển thành quân điền. Thuế ruộng đất của
đàng ngoài cao hơn đàng trong khoảng hai lần. Tô thuế nộp bằng sản phẩm, khi mất
mùa nộp thay bằng tiền. Phải tiến cống các sản phẩm quý, thuế thân, thuế đi buôn, thuế
nghề thủ công, lao dịch nặng nề.
Triều Nguyễn bất lực trong việc bảo vệ đê điều. Thiên tai xảy ra liên tiếp. Để
giải quyết những khó khăn về kinh tế, tài chính nhà Nguyễn chú trọng khẩn hoang.
Công việc khai hoang có kết quả, nhưng thành quả khai hoang trước hết lọt vào tay
giai cấp địa chủ phong kiến. Dưới triều Nguyễn, ruộng công không còn được một
nữa tổng số. Cả ruộng công lẫn ruộng tư đều bị địa chủ, cường hào lũng đoạn. Đời
sống người dân lao động rất vất vả.
1. 2.2.2 Thời kỳ thực dân Pháp đô hộ (1884-1945)
* Từ khi lập nền đô hộ trên toàn cõi Việt Nam đến chiến tranh thế giới thứ nhất
(1884-1918)
Trong công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, chính sách
cơ bản là thuộc địa (Đông Dương) phải được giành riêng cho thị trường Pháp, cung cấp
nguyên liệu cho Pháp và mua hàng hoá của Pháp. Ngành nông nghiệp là ngành đầu tư
ít vốn mà dễ dàng thu được lợi nhuận. Thực dân Pháp cướp đoạt ruộng đất của nông
dân Việt Nam. Lao động phần lớn chính là những người nông dân bị chúng chiếm đoạt
ruộng đất trở thành tá điền hay phu đồn điền.
Chúng khai thác lúa ở đồng bằng sông Cửu Long, sau đó khai thác cao su là
chính ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Ngoài ra chúng còn khai thác cà phê, chè.
Phương thức khai thác lúa ở đồng bằng sông Cửu Long là đào nhiều kênh mương bằng
máy xáng để khai hoang và vận chuyển lúa, bán các diện tích được hưởng thuỷ lợi với
13
giá cao hơn (gần kênh 4 tạ lúa/ha, xa kênh 2 tạ lúa/ha) để thu ngay được nhiều lợi
nhuận. Nông dân tá điền phải nộp tô tức bằng lúa với giá rẻ mạt. Chúng còn thu lợi

những người cùng đinh không có thế lực ra ngoài. Đế quốc, phong kiến cấu kết
chặt chẽ với nhau áp bức, bóc lột làm cho nông dân Việt Nam bần cùng và phá sản
ngày càng trầm trọng.
Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), Đông Dương phải cung
cấp lính, chịu nhiều thứ thuế, cung cấp hàng vạn tấn quặng kim loại và 336 nghìn tấn
nông lâm sản (Gạo, ngô, cao su, đường, gỗ ) cho Pháp. Nông nghiệp từ chỗ chỉ trồng
lúa là chính được chuyển một phần sang trồng các cây phục vụ chiến tranh như thầu
dầu, đay, lạc, đậu
 Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất đến cách mạng tháng 8/1945
Thực dân Pháp tăng cường chiếm đoạt ruộng đất, mở thêm đồn điền, vơ vét
nông sản xuất khẩu. Đến 1930, tổng số ruộng đất mà thực dân Pháp chiếm đoạt để lập
đồn điền là 1,2 triệu hécta, bằng 1/4 tổng diện tích đất canh tác của cả nước lúc bấy giờ.
Theo tài liệu của ủy ban cải cách ruộng đất Trung ương (sau 1945) giai cấp địa chủ
chiếm 3% số dân nhưng chiếm tới 24,5% ruộng đất, nếu tính cả ruộng đất công mà
chúng thao túng bằng cách này hay cách khác thì giai cấp địa chủ đã chi phối khoảng
50% diện tích đất ruộng ở miền Bắc. Nông dân lao động mà tầng lớp đông đảo nhất là
bần nông (gần 60% số dân) chỉ có 12% ruộng đất, phần lớn lại là ruộng đất xấu. Riêng
cố nông (20% số dân) chỉ có 1,2% tổng số ruộng đất.
14
Ở giai đoạn này nông nghiệp vẫn xoay quanh nghề trồng lúa. Hầu hết đất đai và
lao động dành cho việc trồng lúa. Nhưng do chế độ chiếm đoạt ruộng đất của thực dân
Pháp và phong kiến, dù dân ta có nhiều kinh nghiệm phong phú và quý báu về trồng
lúa từ mấy nghìn năm, vẫn không có điều kiện và cũng không có quyền lợi gì trong
việc thâm canh nên năng suất lúa rất thấp (trung bình 12 tạ/ha). Tuy nhiên, do liên tục
mở rộng diện tích canh tác, do thu tô hết sức nặng nề, và một phần đáng kể do vơ vét
thóc gạo với giá rẻ trên thị trường, số gạo mà tư bản Pháp xuất khẩu vẫn không ngừng
tăng lên.
Ở thời kỳ này tư bản Pháp đua nhau mở các đồn điền cao su ở những vùng đất
đỏ và đất xám thuộc miền Đông Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ. Việc trồng cao su
bắt đầu từ năm 1897 ở trạm thí nghiệm Ông Yêm, Bến Cát, Sông Bé (Nam Bộ), Suối

bằng Bắc Bộ. Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “diệt giặc đói, diệt giặc dốt,
15
diệt giặc ngoại xâm”, “tăng gia sản xuất”, “sản xuất và tiết kiệm”, nhiều phong trào
quần chúng được phát động và toàn dân đã hưởng ứng. Chỉ sau một năm nhân dân Việt
Nam đã chiến thắng được nạn đói. Năm 1946 thực dân Pháp phát động cuộc chiến
tranh xâm lược hòng chiếm Việt Nam lần thứ hai, chúng đã chiếm đóng các vùng
ruộng đất phì nhiêu, ra sức phá hoại vùng tự do của ta. Nhưng nhân dân ta vẫn đẩy
mạnh sản xuất nông nghiệp, đáp ứng về cơ bản nhu cầu ăn no, đánh thắng theo chiến
lược tự lực cánh sinh, kháng chiến lâu dài.
Phục vụ các phong trào trên, nhân dân ta đã vận dụng những kinh nghiệm lâu
đời của dân tộc kết hợp khoa học kỹ thuật hiện đại đưa ra những phong trào: “toàn dân
canh tác”, phong trào thâm canh, dùng phân hữu cơ, phân bắc, nước giải, chọn giống
và ngâm ủ giống (ba sôi hai lạnh), cày ải, cào cỏ cải tiến để tăng năng suất lúa, phòng
toi dịch gia súc Đồng thời bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, lập Viện khảo
cứu nông nghiệp ở Tuyên Quang, trường trung cấp nông nghiệp Bản Thuỷ (Thanh
Hoá), trường trung cấp nông lâm Phước Sơn (Quảng Nam), đào tạo đội ngũ khoa học
kỹ thuật, tuyên truyền sâu rộng các biện pháp kỹ thuật mới cho quần chúng.
 Sau hiệp định Giơnevơ đến hoàn toàn giải phóng đất nước (1954-1975)
* Miền Bắc
Hoà bình được lập lại ở miền Bắc, công việc đầu tiên là hàn gắn những vết
thương do chiến tranh để lại: 14,5 vạn ha ruộng hoang, nhiều công trình thuỷ lợi lớn bị
phá huỷ, đê điều hư hỏng nặng nề, công cụ sản xuất bị phá hoại, trâu bò cày kéo bị bắn
giết. Qua các cuộc vận động giảm tô, cải cách ruộng đất (1953-1957) hơn 810.000 ha
ruộng đất đã được chia cho nông dân và nhân dân lao động. Nông dân còn được chia
thêm nông cụ, trâu bò, nhà cửa.
Sau khi khôi phục kinh tế (1958), chính quyền nhân dân đã đề ra nhiệm vụ cải
tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế, xây dựng thành phần kinh tế quốc
doanh. Riêng với nông nghiệp, chủ trương vận động hợp tác hoá kết hợp với cải tiến kỹ
thuật và phát triển sản xuất. Bước đi của hợp tác hoá nông nghiệp là từ tổ đổi công lên
hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp, rồi bậc cao, đồng thời phát triển hợp tác xã

- Đưa lợn lai thế hệ 1, các giống gà công nghiệp vào sản xuất với tiến bộ kỹ
thuật về giống, thức ăn, thú y.
- Xây dựng quy trình kỹ thuật cho một số cây trồng, vật nuôi cho việc phát triển
sản xuất, cải thiện thu nhập.
- Cải tiến quản lý sản xuất, tổ chức và định mức lao động trong hợp tác xã.
- Cải tiến công cụ và máy móc dùng trong nông nghiệp.
- Điều tra cơ bản, lập bản đồ thổ nhưỡng ở miền Bắc, các tỉnh huyện, nông lâm
trường và một số hợp tác xã, điều tra về giống cây trồng, gia súc, sâu bệnh, dịch
bệnh làm cơ sở cho việc xây dựng qui trình sản xuất nông nghiệp.
- Đào tạo lực lượng khoa học kỹ thuật và quản lý, mở viện nghiên cứu phục vụ
cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội

* Miền Nam : Ở thời kỳ này nông nghiệp Miền Nam có những đặc điểm sau:
- Về quan hệ sản xuất: Cơ bản là sản xuất cá thể, những người có nhiều ruộng
đất chủ yếu nằm trong bộ máy thống trị. Lao động bị tách khỏi đất đai. Do chính sách
dồn điền của Mỹ-Nguỵ, hàng triệu nông dân đã phải đổ ra thành phố, thị trấn để trở
thành người thất nghiệp, trong khi đó đất đai bị bỏ hoá vì thiếu nhân lực. Do chính sách
cải cách điền địa hàng triệu nông dân thiếu ruộng hoặc trở thành không có ruộng. Sản
xuất của nông dân lệ thuộc vào vật tư công nghiệp nhập khẩu, bị ảnh hưởng của
phương thức kinh doanh chạy theo lợi nhuận tối đa, trong khi đó giá cả ở thị trường
thường không ổn định.
- Về tình hình sản xuất: phải nhập khẩu lương thực khoảng 800.000 tấn/năm.
Về nguyên liệu cho công nghiệp, trước đây miền Nam có nhiều cao su, cà phê, chè,
thuốc lá, mía, đường, dừa đến năm 1975 chỉ còn rất ít. Riêng cao su trước có 143.000
ha (1963), năm 1975 còn 78.856 ha nhưng có 80% đã già cỗi.
- Về cơ sở vật chất và kỹ thuật đối với nông nghiệp: Các công trình thuỷ lợi
trong 30 năm hầu như không thêm gì. Các công trình cũ bị huỷ hoại, các kênh mương
17
và đê biển không được tu sửa. Trại giống lúa ở miền Nam chỉ có 20 ha phục vụ cho
hơn 3 triệu ha gieo cấy. Đã nhập nội và phát triển các giống lúa mới IR. Dùng phân hoá

mỗi vùng và mỗi vụ. Tăng hiệu quả sử dụng phân vô cơ, phát triển các loại phân xanh,
cải tạo đất bạc màu, phèn Có các tiến bộ kỹ thuật về xác định thời vụ để tăng vụ,
chống rét, sâu bệnh. Trong chăn nuôi có các kết quả về thụ tinh nhân tạo, thức ăn hỗn
hợp, thú y Vụ đông trở thành vụ sản xuất chính, các phương thức nông lâm kết hợp
được mở rộng, có các phương án phân vùng quy hoạch, công tác điều tra cơ bản sâu và
rộng về các điều kiện và tài nguyên của nông, lâm, ngư nghiệp.
Đã nghiên cứu sâu và phát triển những yêu cầu mới về: quy mô hợp tác xã,
phương thức quản lý đất đai, lao động, phân phối thu nhập, lưu thông thương mại, nhất
là các thành phần kinh tế trong nông nghiệp như quốc doanh, tập thể, gia đình. Qua
những nghiên cứu này đã thấy rõ chính những thiếu sót về quản lý kinh tế đã làm cho
18
sản xuất nông nghiệp phát triển chậm lại, đời sống nông thôn nảy sinh nhiều vướng
mắc, nông dân không yên tâm sản xuất và sinh sống. Từ những năm 1980 những
khuyết điểm trong việc quản lý kinh tế và riêng quản lý nông nghiệp đã bộc lộ rõ.
Đường lối trong từng giai đoạn sản xuất đối với sản xuất nông nghiệp, nông
thôn và nông dân chưa được cụ thể, cơ chế quản lý không phù hợp, quá tập trung bao
cấp, cửa quyền đã ngăn cản mọi năng lực lao động, sáng tạo, cần cù đã có từ bao đời
của người nông dân. Việc củng cố và phát triển sản xuất ở các hợp tác xã và nông
trường quốc doanh bị chế độ quản lý nặng tính hành chính ràng buộc, chưa vận dụng
đúng đắn các quy luật phát triển của một nền nông nghiệp tự cấp tự túc tiến đến sản
xuất hàng hoá.
Kế hoạch hoá nông nghiệp không phản ánh đúng thực tế sản xuất và phân phối.
Kế hoạch ở cơ sở không được người lao động tham gia. Kinh tế gia đình bị xem nhẹ và
có phần hạn chế. Các chính sách thúc đẩy và khuyến khích phát triển nông nghiệp chưa
được ban hành và bổ sung kịp thời. Chưa làm tốt dịch vụ vật tư nông nghiệp, chế biến,
lưu thông và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, có trường hợp làm đình đốn hoặc triệt tiêu
sản xuất. Việc chỉ đạo sản xuất và chỉ đạo khoa học kỹ thuật nông nghiệp kém hiệu lực,
nặng tính chất quan liêu, giấy tờ.
Trước thực trạng đó, Ban bí thư trung ương ra chỉ thị 100 (1/1981) hướng dẫn
các hợp tác xã thực hiện việc khoán sản phẩm đến hộ và nhóm người lao động và cho

phát triển theo cơ chế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa đã bắt đầu xuất hiện
trên đất nước ta.
Tuy nhiên, trên bước đường phát triển, nông nghiệp nước ta còn gặp một số hạn
chế: đất canh tác hẹp, dân số đông, cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật yếu, nhất là vùng
trung du miền núi trình độ khoa học và công nghệ còn thấp kém, vốn đầu tư của nhà
nước và nhân dân vào phát triển nông nghiệp còn hạn chế, tổ chức quản lý nông nghiệp
đang trên đường tìm tòi đổi mới và hoàn thiện, sản phẩm nông lâm ngư nghiệp chưa
nhiều, chất lượng chưa cao. Đó là hạn chế cần khắc phục để phát huy mạnh mẽ tiềm
năng còn rất to lớn của nền nông nghiệp Việt Nam.
1.3. CÁC LOẠI HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP.
1. 3.1. Nông nghiệp du canh
 Định nghĩa
Nông nghiệp du canh là sự thay đổi nơi sản xuất từ vùng này sang vùng khác,
từ khu vực này sang khu vực đất khác sau khi độ phì của đất đã nghèo kiệt.
Nói một cách khác: Hệ thống nông nghiệp có sự luân phiên về mặt trồng trọt
trong một vài năm giữa những nơi được chọn và những nơi bỏ trắng một thời gian
dài cho đất nghỉ. Việc trồng trọt được tiếp tục trên những diện tích được phục hồi
bởi thảm thực vật tự nhiên. Mức độ du canh thay đổi khá nhiều, một tiêu chuẩn khá
đơn giản và hợp lý về mức độ sử dụng đất là mối quan hệ giữa thời kỳ trồng trọt và
thời kỳ bỏ hóa.
 Đặc trưng
Nông nghiệp du canh người nông dân chỉ biết lợi dụng các điều kiện tự nhiên
sẵn có để làm ra sản phẩm mình mong muốn. Khi điều kiện thuận lợi đã bị khai thác
hết họ lại đi tìm chỗ khác có điều kiện tốt hơn về dinh dưỡng của đất để phát triển
sản xuất phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của họ.
Việc thay đổi nơi sản xuất xảy ra ở những mảnh ruộng, những khu rừng quanh
nơi họ ở, khi tất cả những khu quanh đấy đều cạn kiệt dinh dưỡng thì họ lại chuyển
cả nhà cửa đến định cư ở một nơi mới. Tùy theo khả năng phục hồi dinh dưỡng của
đất nhanh hay chậm mà người ta có thể quay về những nơi cũ.
Thường xảy ra ở những nơi đất dốc, rừng núi có mật độ dân cư thưa thớt. Nếu

Một số vùng ở Philippin cho biết trung bình một gia đình cứ 5 năm di chuyển
một lần và với khoảng cách 5-10km. ở vùng thấp thung lũng (Amazon, Brazin)
những người trồng trọt du canh thực hiện di cư tới những canh rừng nguyên sinh
trồng trọt trong vòng 2 năm trên một mảnh đất và di chuyển căn lều của họ cứ 10
năm một lần. Đó là chu kỳ di cư.
3) Hệ thống du canh quay vòng: Sự du canh này thường xảy ra ở vùng núi cao,
ẩm ướt, dân cư thưa thớt chu kỳ 30-25 năm họ quay trở về canh tác trên đất đó. Cây
trồng thay đổi và phù hợp với yêu cầu đời sống của họ, năng suất cây trồng đã được
nâng cao.
4) Hệ thống phát quang: Vào thời kỳ đồ đá các hệ thống trồng trọt bằng đốt rẫy,
làm nương. Nó xuất hiện tại vùng tiểu á 7000 năm trước công nguyên, Trung Hoa
và Trung Mỹ là 3000 - 4000 năm sau đó. Hình thức phát quang này là đặc trưng cơ
bản nhất của hệ thống nông nghiệp du canh. Nó xuất hiện sớm và kéo dài trong
nhiều năm. Giai đoạn này con người chỉ mới biết dựa vào thiên nhiên để làm ra các
sản phẩm cho mình để sinh sống.
* Sự đầu tư và lao động trong hệ thống nông nghiệp du canh:
Phương thức trồng trọt hỗn hợp này là bứơc tiến bộ đáng kể trong trồng trọt
của nền nông nghiệp du canh. Nó làm giảm đi tính mẫn cảm của cây trồng với sâu
bệnh và sử dụng tốt hơn với môi trường sống. Sự đầu tư trong các hệ thống nông
21
nghiệp du canh thường là rất thấp, việc đầu tư chủ yếu tập trung trong các giai đoạn
đầu của quá trình sản xuất như mua con giống, còn đầu tư cho chăn sóc hầu như
không có.
Riêng đối với chăn nuôi đầu tư có cao hơn do tiền vốn mua con giống nhiều
hơn trồng trọt, chăn nuôi theo kiểu chăn thả, quảng canh nên đầu tư cho quá trình
chăm sóc cũng có nhưng rất thấp. Lao động trong hệ thống nông nghiệp du canh
thường là lao động giản đơn, chủ yếu là lao động chân tay với các công cụ lao động
rất thô sơ: liềm, cuốc, dao được dùng cho việc phát nương đốt rẫy, làm có : việc
đầu tư lao động rất thấp.
Theo tổng kết ở nhiều vùng lao động trên đồng ruộng nương rẫy không chiếm

chuyển từ vùng này sang vùng khác, đến những nơi có thức ăn cho đàn gia súc.
 Các kiểu du mục
22
- Du mục hoàn toàn: Sự di chuyển đàn gia súc của họ từ vùng này sang vùng
khác quanh năm. Họ đều không có nhà cửa cố định và không có sự tiến hành bất cứ
một hoạt động trồng trọt nào.
- Bán du mục: Là những người dân chỉ nuôi và chăn thả đàn gia súc theo mùa
của đồng cỏ tự nhiên. Hết mùa họ bán gia súc và tiếp tục công việc khác. Họ kết
hợp một phần nhỏ với công việc trồng trọt và dần dần tạo thành các nông trại và có
nhà cố định của họ.
Dân du mục của toàn thế giới có khoảng 15 triệu người (theo Grigg 1974) họ
sống trên một diện tích khoảng 10 triệu dặm vuông gần gấp 2 lần diện tích trồng
trọt của toàn thế giới. Động vật chăn thả chủ yếu của dân du mục là: lạc đà, bò, cừu,
dê.
Những người dân du mục dựa vào đồng cỏ tự nhiên và những cây rừng lâu
năm để cung cấp, lá làm thức ăn cho gia súc. Họ không hề dự trữ thức ăn hoặc cỏ
cho gia súc, đến khi nơi này hết cỏ, thức ăn họ lại di chuyển đi tìm kiếm nơi khác có
thức ăn cho gia súc. Họ chỉ dự trữ có muối ăn. Dân du mục thường di cư theo nhóm
5 - 6 gia đình một. Mỗi nhóm có từ 25 - 60 con dê hoặc cừu, 10 - 15 con lạc đà,
ngựa.
Đặc tính là chỉ lợi dụng thức ăn sẵn có trong tự nhiên và bị phụ thuộc nên
năng suất trong hệ thống du mục rất thấp, hằng năm dân du mục có khả năng sản
xuất và bán khoảng 20% gia súc, còn dân bán du mục chỉ sản xuất và bán được 6-
10% chất lượng lại kém hơn. Trước kia trong chế độ xã hội cũ, việc đầu tư vào các
hệ thống du mục là thấp và thường họ chỉ có đầu tư một lần sau đó tự gia súc phát
triển, sinh nở dần ra và quy mô của đàn tăng. Lao động cho hệ thống chủ yếu là:
chăn dắt, săn đuổi, công cụ lao động hầu như không có gì. Lao động chủ yếu bằng
sức lực tay chân với những công cụ lao động thô sơ.
Du mục hoàn toàn thường diễn ra trên vùng đất mà không thể chấp nhận một
hình thức sản xuất nào khác. Có thể đây là biện pháp tốt nhất để khai thác những

tượng lãng phí lao động. Nhưng sản xuất chuyên môn hóa lại có ưu điểm là dễ dàng
tập trung sản phẩm tạo điều kiện tốt cho việc thu mua nông sản phẩm và chế biến.
Đây là nơi thuận lợi cho các tổ chức nghiên cứu khoa học nghiên cứu và thí nghiệm
các kỹ thuật tiên tiến.
Kiểu chuyên môn hóa này phù hợp cho những nước có nền kinh tế phát triển
mạnh và kỹ thuật tiên tiến. Đối với nước ta hình thái sản xuất chuyên môn hóa được
hình thành trong thời kỳ xây dựng các nông trường quốc doanh. Hiện nay nó đang
được hình thành và phát triển mạnh dươi nhiều hình thức khác nhau, phù hợp với
kinh tế thị trường.
 Nông nghiệp hỗn hợp
Nhìn chung loại hệ thống nông nghiệp này có phương thức sản xuất tiến bộ
nhất vì với sự đầu tư lớn và cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại hơn trên một diện tích
đất cố đinh, sản lượng và năng suất cây con tăng trưởng và ổ định, vừa đảm bảo nhu
cầu sống vừa tăng được thu nhập kinh tế cho cộng đồng và nông hộ Nông nghiệp
chuyên môn hoá khai thác được triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên thích hợp với
các loại cây con được sản xuất làm hàng hoá. Tuy nhiên nó cũng rất dễ gây nên sự
mất cân đối về chất dinh dưỡng của đất, làm tăng tình hình sâu bệnh, gây căng
thẳng lao động mùa vụ Nông nghiệp hỗn hợp tạo ra nhiều loại sản phẩm, khai thác
khá hài hoà và hợp lý tài nguyên và sức lao động. Tuy nhiên loại hình hệ thống này
là một hạn chế cho nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá, đặc biệt cho hàng hoá xuất
khẩu .
* Khái niệm:
Hệ thống nông nghiệp hỗn hợp là một hệ thống sản xuất bao gồm nhiều loại
sản phẩm, cả sản phẩm trồng trọt lẫn sản phẩm chăn nuôi. Nó ra đời trên cơ sở sử
dụng hợp lý nhất các nguồn tài nguyên cũng như lực lượng lao động hiện có. Là thể
hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa trồng trọt với chăn nuôi. Hai hệ thống trồng trọt và
chăn nuôi được phối hợp nhịp nhàng, cân đối hỗ trợ nhau, tạo ra nhiều sản phẩm
phục vụ tiêu dùng.
24
* Tính chất

tạo những quan điểm nông nghiệp kết hợp dựa trên những đặc thù sẵn có của địa
phương để phát huy nguồn tài nguyên thiên nhiên trong mỗi vùng sản xuất Hướng
đến quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên một cách bền vững, nâng cao thu nhập.
Điển hình có mấy dạng sau đây:
 Hệ thống VAC: ( vườn- ao- chuồng), VACR : vườn - ao - chuồng - rừng (
ruộng) Là mô hình phát triển lý tưởng theo kiểu mô hình trang trại vừa có hiệu
quả cao vừa có tác rụng bảo vệ môi trường.
- Trên đất vườn (V): có thể là các loại rau, cây ăn quả, cây dựơc liệu, cây cảnh,
cây hoa, cây giống các loại
- Trên diện tích ao hồ (A): có thể thả cá chép, trôi, rô phi, trê, mè, ếch Tùy
theo vùng sinh thái.

Trích đoạn Phđn tớch hạn chế liớn quan đến mụi trường éÂNH GI TIỀM NĂNG CỦA HỆ THỐNG NễNG NGHIỆP Phđn tớch sơ bộ cõc thử nghiệm đồng ruộng Thử nghiệm đồng ruộng Phđn tớch vă đõnh giõ kết quả thớ nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status