Nghiên cứu phát triển hệ thống cây trồng phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới ở vùng ngoại thị của thị xã sơn tây hà nội - Pdf 41

MỤC LỤC

Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục bảng

vii

Danh mục các từ và thuật ngữ viết tắt

ix

I. MỞ ĐẦU

1

1.1.

Tính cấp thiết của đề tài

1


3

1.1.

1.1.1. Một số khái niệm

3

1.1.2. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

7

1.1.3. Mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và hệ
thống cây trồng
1.2.

Cơ sở thực tiễn của đề tài.

8
16

1.2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

16

1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

22



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page iv


2.3.2. Điều tra trực tiếp

32

2.3.3. Các thí nghiệm

33

2.4.

34

Phương pháp phân tích số liệu

2.4.1. Phân tích mối quan hệ giữa khí hậu thời tiết và mùa vụ trồng lúa

34

2.4.2. Phân tích mối quan hệ giữa địa hình, đất đai và hệ thống sử dụng đất

34

2.4.3. Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các hệ thống luân
canh cây trồng


3.1.4. Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất chi phối sự hình thành hệ thống
cây trồng

45

3.1.5. Đánh giá tiềm năng phát triển của Thị xã Sơn Tây

50

3.2.

52

Thực trạng hệ thống cây trồng

3.2.1. Về loại cây trồng

52

3.2.2. Về giống cây trồng

52

3.2.3. Hệ thống luân canh cây trồng trên đất ruộng ở thị xã Sơn Tây

54

Nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng ở thị xã Sơn Tây



3.4.2. Tái cơ cấu về tổ chức sản xuất

80

3.4.3. Sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên

81

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

83

1.

Kết luận

83

2.

Đề nghị

83

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

85

54

Bảng 3.6. Sản xuất rau vụ đông trên đất bãi

55

Bảng 3.7. Sản xuất rau vụ xuân trên đất bãi

56

Bảng 3.8. Các công thức trồng trọt rau màu trên đất cao trong đồng

56

Bảng 3.9. Các công thức trồng trọt trên đất 2 màu 1 lúa

57

Bảng 3.10. Các công thức trồng trọt trên đất trũng vàn ở trong đồng

58

Bảng 3.11. Các công thức trồng trọt trên đất thấp ở trong đồng

59

Bảng 3.12: Năng suất và hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa

ở thị


cao ở trong đồng

71

Bảng 3.20. Hiệu quả môi trường của các công thức trồng trọt rau màu trên đất
cao ở trong đồng
Bảng 3.21. Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt 1 lúa 2 màu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

71
72

Page vii


Bảng 3.22. So sánh hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt trên đất vàn

73

Bảng 3.23. So sánh hiệu quả kinh tế của các công thức sử dụng đất trên đất trũng

74

Bảng 3.24. Kết quả lựa chọn từ thực tế sản xuất

75

Bảng 3.25. Đặc điểm giống lúa lai lựa chọn trong vụ xuân năm 2015

76

4

DV

Dịch vụ

5

DVNN

Dịch vụ nông nghiệp

6

GT

Giá trị

7

GTSX

Giá trị sản xuất

8

HTCT

Hệ thống cây trồng


14

NN

Nông nghiệp

15

NNTS

Nông nghiệp thủy sản

16

NS

Năng suất

17
18

NTM
PTNT

Nông thôn mới
Phát triển nông thôn

19

SL



I. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thị xã Sơn Tây là một đơn vị hành chính của Hà Nội, ở đây có 2 khối
cư dân: cư dân đô thị và cư dân nông thôn nên đề tài nghiên cứu được giới
hạn trong nhóm cư dân nông thôn (vùng ngoại ô). Nông nghiệp ở vùng ngoại
ô được hình thành từ kinh tế hộ nông dân với đặc điểm là ruộng đất ít lại phân
tán nên rất khó cơ giới và tổ chức sản xuất; hậu quả là giá thành sản xuất cao.
Quỹ đất sản xuất, nguồn lao động, nguồn vốn và kỹ năng nghề nghiệp của các
hộ là rất khác nhau; sản xuất của nhiều hộ thường áp dụng cách làm theo, sản
xuất không có kế hoạch, vì vậy thường gặp hiện tượng những năm mất mùa thì
được giá, những năm được mùa thì mất giá; kết quả của sản xuất không bền vững.
Hiện nay thị xã Sơn Tây cùng với cả nước xây dựng nông thôn mới, hệ
thống cây trồng trong nông thôn mới được xây dựng từ sự liên kết giữa 4 nhà;
các nhà nông liên kết với nhau về ruộng đất, lao động, vốn và kỹ năng sản
xuất để hình thành cánh đồng mẫu lớn. Nhà nông liên kết với nhà khoa học để
chọn lựa các hệ thống kỹ thuật, trong đó có hệ thống cây trồng. Nhà nông liên
kết với các doanh nghiệp để được cung cấp các vật tư phục vụ sản xuất chế
biến và tiêu thụ nông sản. Nhà nông liên kết với Nhà nước để được vay vốn
và đảm bảo về pháp lý trong mối liên kết.
Trong thời gian thực tập tôi lựa chọn đề tài: "Nghiên cứu phát triển hệ
thống cây trồng phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới ở vùng
ngoại thị của thị xã Sơn Tây" để viết luận văn thạc sĩ.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Góp phần làm rõ thêm nội hàm của hệ thống cây trồng trong xây dựng
nông thôn mới. Về chọn loại cây trồng, giống cây trồng và hệ thống ử dụng
đất ở từng điều kiện sinh thái theo hướng tăng thu nhập bền vững cho nhân
dân thị xã Sơn Tây.

hội hiện nay ở thị xã Sơn Tây.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 2


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Hệ thống cây trồng
Theo Phạm Chí Thành (1988) thì hệ thống cây trồng có nội hàm gồm
loại cây trồng, giống cây trồng và công thức luân canh cây trồng trong năm
trên một mảnh đất cụ thể.
Theo Phạm Chí Thành và Trần Đức Viên (2012) xây dựng nông thôn
mới có nội hàm gồm xây dựng hệ hống biện pháp kỹ thuật, xây dựng hệ thống
tổ chức sản xuất và xây dựng hệ thống sử dụng nguồn tài nguyên.
Những năm trước đây, hệ thống cây trồng được xây dựng phục vụ cho
nền nông nghiệp lấy hộ nông dân làm đơn vị sản xuất cơ sở. Người nông dân
trồng trọt loại cây trồng gì, giống gì và công thức luân canh nào trên mảnh
ruộng của họ là tùy thuộc vào các yếu tố bên ngoài gồm các yếu tố tự nhiên, các
yếu tố kinh tế xã hội của vùng, các yếu tổ bên trong như đất đai, lao động, tiền
vốn và kỹ năng nghề nghiệp của nông hộ (Phạm Chí Thành và cộng sự 1996).
Hiện nay Việt Nam đang xây dựng nông thôn mới theo hướng sản xuất
hàng hóa tập trung. Người nông dân trồng trọt như thế nào là tùy thuộc vào
các yếu tố bên ngoài như điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, còn các
yếu tố bên trong không còn phụ thuộc nhiều vào nông hộ nữa. Người quyết
định hệ thống cây trồng là hiệp hội sản xuất (Phạm Chí Thành và Trần Đức
Viên, 2012).

hưởng đến bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững.
Do vậy phát triển nông thôn luôn là mục tiêu quan trọng trong phát
triển đất nước.
1.1.1.3. Khái niệm về Nông thôn mới
Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính thức về nông thôn mới. Theo
nhiều cán bộ địa phương cho rằng:
“Nông thôn mới phải tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng làm đòn bẩy
phát triển các ngành nghề khác.”
“Nông thôn mới đạt được bộ tiêu chí do Chính phủ ban hành (19 tiêu chí)”.
“Nông thôn mới phải cải tạo được cảnh quan, bảo vệ môi trường phục
vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
“Nông thôn mới phải áp dụng khoa học kĩ thuật mới, nâng cao thu nhập
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 4


cho người dân”.
Dựa trên các quan điểm của Phạm Chí Thành và Trần Đức Viên (2012)
như sau: “Một vùng làng, xã được xem là nông thôn mới khi ở đó có sự kết hợp
giữa khoa học công nghệ, tổ chức sản xuất và sử dụng họp lý nguồn tài nguyên
để tạo ra môi trường sống trong lành, người dân có thu nhập cao và ổn định”.
Theo Nghị quyết số 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thì nông thôn mới là khu vực nông thôn
có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các
hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công
nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội
nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh
thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần
của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

thực tế đối với từng huyện, xã trên địa bàn nhưng vẫn đảm bảo đạt mức chung
của tỉnh theo quy định của Bộ tiêu chí quốc gia. Đồng thời giao các Sở
chuyên ngành chịu trách nhiệm hướng dẫn việc thực hiện, đánh giá, công
nhận đạt tiêu chí hoặc chỉ tiêu thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành trên
cơ sở các văn bản hướng dẫn cụ thể của Bộ, ngành, Trung Ương.
Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu
cầu phát triển, có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường,
đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,
tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ
biến và vận dụng trên cả nước.
1.1.1.4. Xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới có nội hàm thực hiện bộ tiêu chí về xây dựng
nông thôn:
Ý nghĩa của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới:
- Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu

quốc gia về xây dựng nông thôn mới, là chuẩn mực để các xã lập kế hoạch
phấn đấu đạt 19 tiêu chí nông thôn mới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 6


- Là căn cứ để chỉ đạo và đánh giá kết quả thực hiện xây dựng NTM

của các địa phương trong từng thời kỳ; đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt
nông thôn mới; đánh giá trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền xã
trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.
1.1.1.5. Phân loại loại hình nông nghiệp
(1) Nông nghiệp tự cung, tự cấp

áp dụng đặt lên hệ thống.
- Các hệ thống thực tế thường là các hệ thống có cấu trúc phân cấp, do
đó phải xác định rõ mức cấu trúc.
- Các hệ thống thường là các hệ thống hữu ích, tức là sự hoạt động của
hệ thống có thể điều khiển được nhằm đạt được những mục tiêu đã định. Từ
đó nảy sinh vấn đề cần phải kết hợp các mục tiêu.
- Với mỗi hệ thống điều quan tâm chủ yếu là hành vi của nó, song hành
vi lại phụ thuộc vào cấu trúc của hệ thống một cách tái định hoặc ngẫu nhiên.
Do đó phải kết hợp cấu trúc với hành vi.
- Các hệ thống thực tế thường là đa cấu trúc (chồng chất các cấu trúc).
Vì vậy phải nghiên cứu theo nhiều giác độ rồi kết hợp lại. Người ta đi từ việc
nghiên cứu cấu trúc hiện sang nghiên cứu cấu trúc mờ.
1.1.3. Mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và hệ
thống cây trồng
1.1.3.1. Quan hệ giữa khí hậu và hệ thống cây trồng

Theo Trần Đức Hạnh và cộng sự (1997) thì: Khí hậu là một thành phần
rất quan trọng của các hệ sinh thái, là tổng hợp các yếu tố thời tiết, là một
trong những yếu tố quyết định hệ thống trồng trọt của mỗi vùng. Vì vậy xác định
hệ thống cây trồng, điều quan tâm đầu tiên là các yếu tố cấu thành khí hậu.
Khí hậu tạo năng lượng chủ yếu cho quá trình hình thành chất hữu cơ,
tạo năng suất cây trồng. Hệ thống cây trồng tận dụng cao nhất điều kiện khí
hậu sẽ có tổng giá trị sản phẩm và giá trị kinh tế cao nhất. Hệ thống cây trồng
hợp lý là phải tránh được tác hại của các điều kiện bất lợi của khí hậu. Bố trí
hệ thống cây trồng hợp lý cho một vùng là phải tận dụng được sản phẩm có
giá trị cao nhất trên cơ sở nắm bắt cụ thể các chế độ mưa, nắng trong năm,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 8


nắng quyết định độ dài ngày và cường độ ánh sáng. Theo Đào Thế Tuấn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 9


(1997): số giờ nắng/ngày và cường độ ánh sáng ở giai đoạn cuối vụ liên quan
chặt chẽ đến năng suất cây trồng (đối với cây lúa là 45 ngày cuối vụ), số giờ
nắng/ngày và số giờ nắng/vụ có ý nghĩa quan trọng đối với cây lúa: Nếu số
giờ nắng/ngày dưới 3 giờ thì cây thiếu nắng, từ 3,1-6,0 giờ thì cây đủ nắng,
trên 6 giờ là điều kiện tối ưu.
* Tài nguyên nhiệt
- Tích nhiệt: là đơn vị biểu hiện thời gian cần thiết để thực hiện hoàn

thành một giai đoạn hay cả một vòng sinh trưởng, phát triển. Thông qua tích
nhiệt cả năm của một vùng nào đó có thể nắm bắt khả năng gieo trồng số vụ
trong năm.
- Biên độ ngày, đêm của nhiệt độ (chênh lệch giữa nhiệt độ cao nhất và

thấp nhất) được xem như là một chỉ tiêu phân loại khí hậu. Đối với sản xuất
nông nghiệp, biên độ ngày, đêm có tác dụng lớn đối với quá trình sinh trưởng,
phát triển của cây trồng, đặc biệt trong quá trình quang hợp tích lũy vật chất
và quá trình hô hấp vào ban đêm. Do đó, đối với từng vùng thời gian có nhiệt
độ ngày càng lớn chính là thời gian thích hợp và thuận lợi với quá trình ra
hoa, tạo quả và làm hạt (củ) của nhiều loại cây trồng. Biên độ nhiệt độ chênh
lệch càng cao thì năng suất càng cao do cường độ quang hợp ban ngày vẫn ổn
định mà hô hấp lại giảm vào ban đêm, tạo nên năng suất cao, đặc biệt sẽ làm
tăng chất lượng nông sản.
* Lượng mưa, chế độ mưa:
Mưa là một trong những yếu tố rất quan trọng của khí hậu nói chung và

nước giữ lại ở phía Tây Nam, khi vào đến nước ta thì trở lên khô và nóng,
nhưng chỉ xuất hiện từng đợt. Ở khu vực các tỉnh miền Bắc, gió Tây Nam khô
nóng thường bắt đầu vào tháng 6 kết thúc vào tháng 8 và gây hậu quả xấu
như: đất thiếu nước, cây cối khô héo, giảm năng suất, tăng tích lũy sắt, nhôm,
pH giảm gây thoái hóa đất, Gió Tây Nam nóng xuất hiện làm tăng cường độ
bốc hơi nước, nếu xuất hiện vào thời kỳ lúa xuân trổ bông, thụ phấn sẽ gây
ảnh hưởng lớn đến năng suất.
Khả năng bảo đảm nhiệt độ và độ ẩm cho các loại cây trồng ngắn là hai
yếu tố chính để xem xét, bố trí hệ thống cây trồng. Từ đó các nhà nông học đã
đưa ra các khái niệm về cây ưa nóng, cây ưa lạnh và cây trung gian với nhiệt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 11


độ ở ranh giới 20°C. Cây ưa nóng là các loại cây có thể sinh trưởng tốt, ra
hoa, kết quả tốt ở nhiệt độ trên 20°C như cây lúa, mía, lạc... Cây ưa lạnh là
những loại cây sinh trưởng tốt, ra hoa, kết quả tốt ở nhiệt độ dưới 20°C.
Bố trí hệ thống cây trồng hợp lý là cần nắm cụ thể các chế độ mưa,
nắng trong năm, trong từng mùa vụ ở khu vực. Có thế mới tận dụng được tối
ưu các điều kiện thời tiết vùng đó để nhằm tạo ra được một khối lượng sản
phẩm có giá trị cao nhất. Việc bố trí hệ thống cây trồng, đặc biệt với cây hàng
năm phụ thuộc rất nhiều vào tổng tích ôn hàng năm ở từng vùng, tiểu vùng sinh
thái và nhiệt lượng cây cần để hoàn thành chu trình sinh trưởng và phát triển.
1.1.3.2. Quan hệ giữa đất đai và hệ thống cây trồng

Đất là một thành phần quan trọng của hệ sinh thái, là nguồn cung cấp
nước và dinh dưỡng cho cây trồng. Điều kiện đất đai là một trong những căn
cứ quan trọng sau điều kiện khí hậu để bố trí hệ thống cây trồng. Tùy thuộc
vào điều kiện địa hình, độ dốc, chế độ nước ngầm, thành phần cơ giới của

gieo trồng 2-3 vụ/năm. Các chế độ trồng xen, trồng gối liên tiếp nhau với các
loại cây trồng khác nhau đã được chú ý nhiều ở hầu hết các nước có nền nông
nghiệp phát triển, nhất là ở những nước ít có diện tích canh tác nhưng dân số
đông.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học, sự
phân công trong nội bộ ngành nông nghiệp ngày càng có sự thay đổi về tỷ lệ
và phát triển thêm nhiều nghề mới, xuất hiện nhiều phân hệ mang tính liên tục
và không ngừng hoàn thiện, phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của xã hội về các
nông sản phẩm.
Quá trình sản xuất và tiêu dùng là 2 quá trình đan xen mang tính lịch sử
và xã hội, có tác động qua lại lẫn nhau. Sản xuất nông nghiệp ngày càng phát
triển, phong phú và đa dạng thì càng đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của xã
hội ngày càng cao. Sự xuất hiện nhu cầu tiêu dùng mới là động lực thúc đẩy
quá trình cải tiến cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tạo ra nhiều sản phẩm mới.
Quan hệ này tuân theo nguyên lý phát triển, được chuyển đổi từ thấp đến cao,
từ đơn giản đến phức tạp và ngày càng hoàn thiện hơn.
1.1.3.4. Quan hệ giữa phương thức canh tác, quần thể sinh vật với hệ thống

cây trồng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 13


Các biện pháp kỹ thuật như làm đất, tưới nước, bón phân, chăm sóc, cải
tạo đất, trừ cỏ dại, sâu bệnh, chọn tạo giống cây trồng năng suất cao, chất
lượng tốt, luân canh cây trồng theo thời vụ... đều được coi là liên quan chặt
chẽ đến hệ thống cây trồng. Trong các hệ thống sinh vật nhân tạo, các thành phần
cỏ dại, thực vật bậc thấp, động vật nhỏ, côn trùng, vi sinh vật là những quần thể
sinh vật sống. Do đó khi bố trí hệ thống cây trồng cần chú ý các mối quan hệ này

năng sử dụng hết nguồn tài nguyên thiên nhiên ở một vùng nông nghiệp. Một
trong những biện pháp kinh tế-kỹ thuật nhằm tận dụng tối đa nguồn lợi tự
nhiên và kinh tế, xã hội và bố trí hệ thống cây trồng hợp lý cho một vùng hay
một đơn vị sản xuất nông nghiệp.
Hệ thống cây trồng này là một trong những nội dung của hệ thống biện
pháp kỹ thuật gọi là chế độ canh tác. Hệ thống cây trồng là yếu tố cơ bản nhất của
chế độ canh tác vì chính cây trồng quyết định nội dung của biện pháp kỹ thuật
khác. Có thể tóm tắt mối quan hệ giữa cây trồng và môi trường qua sơ đồ sau:
Hệ thống canh tác

Hệ thống
chăn nuôi

Hệ thống
trồng trọt

Hệ thống
chế biến

Hệ thống cây trồng
Môi trường: Điều
kiện tự nhiên,

Đầu
vào

Cây trồng và giống
cây trồng

Đầu

trồng muốn phát huy được tác dụng phải phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội
của vùng và của người nông dân.
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài.
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp lâu dài, ở những điều kiện sinh
thái và xã hội khác nhau, ở nhiều nơi trên trái đất vào những thời điểm nhất
định của lịch sử đã hình thành những trung tâm cây trồng chủ yếu của nhân
loại, bao gồm cây dại và cây trồng. Lịch sử nông nghiệp thế giới cũng chỉ rõ
việc chuyển đổi sản xuất nông nghiệp hàng hóa gắn liền với biến đổi sâu sắc
hệ thống cây trồng.
- Từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, cuộc cách mạng hệ thống cây

trồng được bắt đầu ở một số nước Tây Âu, chế độ độc canh trong nông nghiệp
được thay thế bằng các chế độ luân canh cây ngũ cốc và đồng cỏ, đồng thời
sử dụng các loại cây họ đậu làm thức ăn gia súc kết hợp với công cụ cải tiến
là phân bón đã thực sự nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp (Phạm Chí
Thành và cộng sự, 1996; Nguyễn Thị Bông, 2014). Các chế độ luân canh này
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 16


đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình phát triển nông nghiệp của châu Âu.
Theo chế độ luân canh này, hệ thống cây trồng gồm một số cây chăm sóc giữa
hàng như khoai tây, cây lấy củ, ngũ cốc, cỏ ba lá và ngũ cốc mùa hè. Chế độ
luân canh này cũng đồng thời tăng cường các biện pháp kỹ thuật như làm đất,
bón phân... Chính vì lẽ đó, năng suất ngũ cốc được tăng lên gấp 2 lần so với
chế độ luân canh cũ và sản phẩm lương thực, thực phẩm được tăng lên gấp 4
lần trên cùng 1 ha đất canh tác ( như các loại cây có củ, quả được đưa thêm
vào hệ thống cây trồng và năng suất của chính cây ngũ cốc được tăng lên).

đất lúa theo hướng lấy lúa làm cây chủ đạo và tăng cường phát triển các loại
cây hoa màu trồng cạn. Các chế độ trồng xen, trồng gối, trồng nối tiếp ngày
càng được chú ý nghiên cứu. Ở châu Á đã hình thành một “mạng lưới hệ canh
tác” đó là một tổ chức hợp tác nghiên cứu giữa Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế
(IRRI) và nhiều quốc gia trong vùng. Hệ thống cây trồng trong mạng lưới này
rất đa dạng và phong phú với nhiều mục tiêu cụ thể như: thử nghiệm tăng vụ
bằng các cây trồng mới ngắn ngày để thu hoạch trước mùa mưa lũ hoặc xen
canh, luân canh tăng vụ, xác định hiệu quả kinh tế của các công thức luân
canh hoặc khắc phục những yếu tố hạn chế để đạt được hiệu quả kinh tế cao.
- Chương trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp toàn Ẩn Độ từ năm

1960 -1972 lấy hệ thâm canh tăng vụ chu kỳ 1 năm làm chiến lược phát triển
sản xuất nông nghiệp đã kết luận: “Hệ canh tác dành ưu tiên cho cây lương
thực, chu kỳ 1 năm 2 vụ ngũ cốc (2 vụ lúa nước hoặc 1 vụ lúa nước 1 vụ lúa
mỳ) đưa thêm vào 1 vụ trồng cây họ đậu”. Điều này đã giải quyết được các
vấn đề chính là khai thác tối ưu tài nguyên của đất đai, góp phần ảnh hưởng
tích cực đến chế độ phì của đất trồng trọt và đảm bảo lợi ích của người nông
dân. Việc phát triển nhiều giống cây trồng cùng với việc bố trí lại cơ cấu cây
trồng hợp lý đã đưa Ấn Độ từ một nước thường xuyên thiếu lương thực trở
thành một nước đủ ăn và có dư thừa để xuất khẩu. Cũng ở Ấn Độ các nhà
khoa học đã đề cập đến cơ cấu luân canh cây trồng hợp lý phụ thuộc vào điều
kiện canh tác, các chính sách và giá cả nông sản hàng hóa. Do đó đã hình
thành hàng loạt các công thức luân canh cho các vùng, tiểu vùng sinh thái.
- Nhật Bản là một nước có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho sản

xuất nông nghiệp. Do đó các nhà khoa học Nhật Bản đã tập trung nghiên cứu
và đề ra các chính sách quan trọng, xây dựng những chương trình có mục tiêu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 18

- Hệ canh tác và công thức luân canh ở những khu vực đồng bằng của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status