tóm tắt luận án nghiên cứu phát triển hệ thống cây trồng nông nghiệp tại huyện điện biên tỉnh điện biên - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
HOÀNG CÔNG MỆNH

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CÂY TRỒNG
NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN,
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 62 62 01 10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÀ NỘI, NĂM 2014

- Thư viện Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
- Thư viện Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng, đánh giá tiềm năng đất đai, xem
xét mức độ thích hợp của các hệ thống cây trồng và tình hình sử dụng đất làm cơ
sở cho việc đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt hợp lý là vấn đề có tính
chiến lược và cấp thiết của Quốc gia cũng như từng địa phương.
Huyện Điện Biên có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh Điện
Biên. Nằm ở phía Nam của tỉnh (bao quanh Thành phố Điện Biên Phủ), huyện có
diện tích tự nhiên 163.926 ha, với tài nguyên đất khá đa dạng (có đất đồi núi và đất
đồng bằng). Thêm vào đó là ưu thế về vị trí địa lý, độ cao địa hình và sự đa dạng
về khí hậu cho phép phát triển hệ thống cây trồng đa dạng, phong phú. Trong
những năm qua, sản xuất nông nghiệp của huyện phát triển mạnh theo hướng hàng
hóa, gắn với nhu cầu thị trường, trong đó sản phẩm “Gạo Điện Biên” được nhiều
người tiêu dùng biết đến. Tuy nhiên, (i) chất lượng nông sản không đồng nhất,
chưa có cơ chế quản lý sản phẩm; (ii) trên đất ruộng không chủ động nước hiện
mới gieo trồng 1 vụ lúa mùa, hiệu quả kinh tế vẫn còn thấp, trên đất ruộng chủ
động nước hệ số khai thác chưa cao.
Trong chiến lược phát triển KT-XH của huyện, sản xuất nông, lâm nghiệp
cần “Khai thác triệt để tiềm năng, thế mạnh về đất đai, lao động; thâm canh tăng
vụ, sản xuất các loại cây trồng chất lượng cao theo hướng hàng hóa, nâng cao chất
lượng sản phẩm; trồng cây vụ 3 ở đây thực sự trở thành vụ sản xuất chính; phấn
đấu mỗi năm có khoảng 3.000 ha lúa chất lượng cho thu nhập cao“.
Đáp ứng yêu cầu thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
phát triển hệ thống cây trồng nông nghiệp tại huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên”
nhằm góp phần phát triển nền nông nghiệp và kinh tế - xã hội của huyện theo
hướng hiệu quả và bền vững.

- Góp phần nâng cao chất lượng, giá trị hàng hóa của gạo Điện Biên.
5. Điểm mới của luận án
- Đưa ra cơ sở khoa học giải thích được những yếu tố chi phối tạo nên gạo ở
huyện Điện Biên có năng suất cao và chất lượng tốt là do số giờ nắng, lượng bức
xạ và ánh sáng dồi dào, biên độ nhiệt độ ngày đêm lớn.
- Xác định được mối quan hệ giữa một số tính chất của đất với chất lượng
gạo, làm cơ sở phân chia vùng trồng lúa tại cánh đồng Mường Thanh huyện Điện
Biên thành 3 vùng cho chất lượng gạo đồng nhất khác nhau: vùng 1 được xếp loại
cho chất lượng gạo ngon nhất, có diện tích 1.012 ha, trên đất phù sa glây; vùng 2
gạo có chất lượng tốt nhưng kém hơn vùng 1, có diện tích 1.770 ha trên đất có
tầng loang lổ đỏ vàng và đất phù sa ngòi suối; vùng 3 gạo có chất lượng khá, kém
hơn 2 vùng trên, diện tích 1.254 ha.
- Lựa chọn được một số giống cây trồng mới phù hợp với tiểu vùng sinh thái
của huyện là: giống lúa HT6, giống lạc L20, giống đậu tương ĐT22, giống khoai
tây Sinora cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao, góp phần tăng vụ, tăng thu nhập
cho người dân.

3
6. Cấu trúc của luận án
Luận án được trình bày trong 141 trang giấy khổ A4. Ngoài phần mở đầu,
kết luận và đề nghị, phần nội dung gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan tài liệu;
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu; Chương 3: Kết quả và thảo luận
với 60 bảng và 7 hình. Danh mục 120 tài liệu tham khảo (98 tài liệu tiếng Việt, 22
tài liệu tiếng Anh). Phần phụ lục dẫn các số liệu chi tiết của chương 3. Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Khái niệm về hệ thống cây trồng (HTCTr)
Theo Zandstra (1981), HTCTr là thành phần các giống và loài cây được bố

1.2.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Từ cuối thế kỷ 18, cuộc cách mạng hệ thống cây trồng được bắt đầu ở một
số nước Tây Âu, chế độ độc canh trong sản xuất nông nghiệp được thay thế bằng
các chế độ luân canh cây ngũ cốc và sử dụng các loại cây họ đậu làm thức ăn gia
súc, kết hợp phân bón đã nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
Sau cuộc “Cách mạng xanh” giữa thế kỷ XX, các nhà khoa học đã lai tạo ra
nhiều giống cây trồng ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng. Nhờ vậy đã góp phần
thành công trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ nên HTCTr
ngày càng phong phú.
Từ năm 1975 ở châu Á đã hình thành ‘Mạng lưới Hệ thống Cây trồng châu
Á’, một tổ chức hợp tác nghiên cứu giữa IRRI và nhiều quốc gia khác; đến thập kỷ
80 đã mở rộng ra phạm vi 16 nước, trong đó có Việt Nam (năm 1981). Nghiên cứu
phát triển HTCTr đã có nhiều kết quả thành công ở nhiều nước châu Á từ những
năm 1970-1980 như: Ấn Độ, Trung Quốc…, ở một số nước Đông nam Á như:
Indonexia, Thái Lan … Các kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao năng suất, sản
lượng và giá trị sản xuất cây trồng.
1.2.2. Những nghiên cứu chính ở trong nước
HTCTr ở nước ta đã được các nhà khoa học nghiên cứu từ những năm 60
của thế kỷ trước, khi năng suất lúa chiêm miền Bắc chỉ đạt 13,61 tạ/ha, các nhà
khoa học đã nghiên cứu đưa vụ lúa xuân trở thành vụ sản xuất chính, thay thế dần
vụ lúa chiêm. Đến năm 1971, diện tích lúa xuân ở đồng bằng sông Hồng vượt lúa
chiêm, cho năng suất bình quân 31,9 tạ/ha, với các giống lúa năng suất cao.
Ngày nay, các nhà khoa học của nước ta đã lai tạo, chọn lọc ra nhiều giống
cây trồng mới, có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chống chịu khá với
các điều kiện ngoại cảnh bất lợi, tạo điều kiện bố trí HTCTr hợp lý. Từ năm 1977
đến năm 2005, cả hệ thống nghiên cứu của Việt Nam đã tạo ra được 575 giống
thuộc 35 loài cây trồng khác nhau. Đến hết năm 2009 nước ta đã có 966 giống cây
trồng, trong đó có 292 giống lúa, 120 giống ngô, 21 giống khoai tây và khoai sọ,
13 giống lạc, 34 giống đậu tương, … phục vụ kịp thời cho sản xuất.
Bùi Huy Đáp (1977) cho rằng phát triển cây vụ đông tận dụng giai đoạn “đất

2+
, Fe
2+
và Fe
3+
đều cao gấp 2-4 nước tưới của các xã lân cận; (3) lúa
Nàng Nhen Thơm Bảy Núi tỉnh An Giang có đặc tính mã gen của 2 loài Indica và
Japonica, có 2/3 thời gian sinh trưởng sống như lúa nước và 1/3 thời gian còn lại
sống như lúa cạn, được trồng tại vùng Bảy Núi có địa hình bán sơn địa, kỹ thuật
canh tác ít sử dụng phân vô cơ, sử dụng phân bò là chính, lúa phát triển tốt từ
nguồn nước mưa; (4) lúa Nàng Thơm Chợ Đào tỉnh Long An do dùng giống lúa
Nàng Thơm Chợ Đào Dòng 5, được trồng trên đất chua, nhiễm mặn, phèn nhẹ.
1.3. Nhận xét chung về tổng quan tài liệu và định hướng thực hiện đề tài
- Nội hàm của HTCTr gồm: Loại cây trồng, giống cây trồng, thời vụ trồng
trọt và công thức luân canh được thực hiện ở từng điều kiện sinh thái cụ thể.
- Phương pháp nghiên cứu cải tiến HTCTr chủ yếu gồm các bước: Chẩn
đoán vấn đề, xác định những lợi thế và hạn chế, tìm ra những giải pháp phát triển,
thiết kế các thí nghiệm đồng ruộng, kiểm chứng để lựa chọn HTCTr tối ưu, xây
dựng mô hình trình diễn và phát triển diện rộng.
- Các tác giả nghiên cứu theo hướng chọn các hệ thống canh tác có HTCTr
phù hợp với các loại cây, vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ độ màu mỡ
của đất. Theo thời gian các nghiên cứu hoàn thiện dần về phương pháp, chuyển từ
nghiên cứu định tính sang định lượng, hoàn thiện HTCTr. Tuy nhiên, chưa có
nhiều đề tài nghiên cứu về HTCTr các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn,
vùng đặc thù. Hơn nữa, việc nghiên cứu chưa mang tính hệ thống trong việc xây
dựng HTCTr theo hướng thích nghi, chưa khai thác những lợi thế, tiềm năng điều
kiện tự nhiên đặc thù tại những địa bàn vùng cao.

6
Điện Biên là huyện thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, có điều kiện giao thông

- Số mẫu đất được thu thập 32 mẫu, trên 4 loại đất: đất phù sa glây (Pg) 10
mẫu; đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf) 12 mẫu; đất đỏ vàng biến đổi do
trồng lúa nước (Fl) 6 mẫu; đất phù sa không được bồi chua (Pc) 4 mẫu.
(b) Phân tích đất: Theo các phương pháp phân tích đất thông dụng quốc tế
của “Trung tâm Thông tin đất Quốc tế” theo Tiêu chuẩn Việt Nam như sau:

7
STT

CHỈ TIÊU PP PHÂN TÍCH
1 pH
KCl
pH - Meter
2 Chất hữu cơ (OM) (%) Walkley - Black
3 Đạm tổng số (N) (%) Kjeldahl
4 Lân tổng số (P
2
O
5
) (%) So màu
5 Kali tổng số (K
2
O) (%) Quang kế ngọn lửa
6 Lân (P
2
O
5
) dễ tiêu (mg/100g đất) Ôniani
7 Kali (K
2

2
Tỷ lệ gạo nguyên, kích thước hạt gạo TCVN 1643:2008
3
Hàm lượng amyloza TCVN 5716-2:2008
4
Hàm lượng protein TCVN 4328:2001
5
Hàm lượng tinh bột, nhiệt độ hóa hồ TCVN 5715-1993
6
Độ bền gel 10TCN 424-2000
2.2.4. Xác định mối quan hệ giữa tính chất đất và chất lượng gạo tại huyện Điện Biên
Ảnh hưởng của tính chất đất đến chất lượng gạo được xác định 2 chỉ tiêu:
- Với chỉ tiêu độ trong của gạo y
1
= f (x
1
, x
2
, …. x
n
) (y
1
là tỷ lệ trắng trong);
- Với chỉ tiêu kết quả thử nếm y
2
= f (x
1
, x
2
, …. x


, S
2

, S
3

).
Lồng ghép y
1
và y
2
trên bản đồ tỷ lệ 1/25.000 để xác định S
1
, S
2
, S
3
theo
phương pháp GIS và phần mềm chuyên dụng bản đồ Mapinfo.

8
2.2.5. Thí nghiệm đồng ruộng
Thí nghiệm 1:
So sánh khả sinh trưởng, năng suất và chất lượng của một số giống
lúa chất lượng trồng trong vụ xuân và vụ mùa năm 2011 và 2012.
Thí nghiệm 2:
So sánh một số giống lạc trồng trong vụ xuân trên đất ruộng
không chủ động nước tại huyện Điện Biên.
Thí nghiệm 3:

/hộ.
Toàn bộ thân lá lạc của mô hình trồng lạc vụ xuân được vùi xuống ruộng trước khi gieo
vụ lúa mùa. Các biện pháp kỹ thuật canh tác khác làm theo quy trình canh tác của
khuyến nông huyện.
* Tăng vụ trên đất ruộng chủ động nước (2 vụ lúa)
- Mô hình thử nghiệm: lúa xuân (giống HT6) - lúa mùa (giống HT6) - khoai
tây đông (giống Sinora);
- Mô hình đối chứng: lúa xuân (giống BT7) - lúa mùa (giống BT7).
Mô hình thực hiện trong năm 2012 trên địa bàn xã Thanh Luông huyện Điện
Biên, trên đất phù sa glây (Pg) có địa hình vàn, chủ động nước, tại ruộng của 3 hộ nông
dân, mỗi hộ là 1 lần nhắc lại, diện tích 1 hộ 300 m
2
. Các biện pháp kỹ thuật canh tác khác
làm giống nhau giữa các hộ thí nghiệm theo quy trình canh tác của Trạm Khuyến nông
huyện, có tham khảo kết quả điều tra kinh nghiệm thâm canh cây trồng ở phần trên.

9
2.2.7. Phương pháp phân tích kết qủa nghiên cứu
(1) Thí nghiệm đồng ruộng: Kết quả được phân tích bằng phương pháp phân
tích phương sai với phần mềm IRRISTAT version 5.0.
(2) Năng suất điều tra từ các hộ và từ các mô hình thí nghiệm được xử lý, phân
tích thống kê cơ bản Excel.
(3) Xác định hệ số tương quan và xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính
- Xác định hệ số tương quan đơn (r) để đo mức độ tương quan giữa chất lượng
gạo và các tính chất của đất;
- Xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính bội (nhiều biến): Sau khi xác định các
hệ số r, kết hợp với quá trình lọc biến để xác định biến độc lập có ý nghĩa x
1
, x
2

37’ vĩ độ Bắc.
Bảng 3.1. Đặc điểm một số yếu tố khí hậu tại trạm khí tượng Điện Biên
(Số liệu trung bình năm 1971-210)
Tháng

Số giờ
nắng (giờ)

Độ dài
ngày
(giờ)
B
ức xạ
quang h
ợp
(Kcal/cm
2
)

Nhiệt độ
trung
bình (
o
C)

Biên độ
nhiệt ng
ày
đêm (
o

Cụ thể tình hình sử dụng các loại đất trồng các cây hàng năm như sau:
Bảng 3.4. Hiện trạng sử dụng đất trồng cây hàng năm huyện Điện Biên năm 2010
Hệ thống sử dụng đất
DT c
anh
tác (ha)

Cơ cấu
(%)
DT gieo
trồng (ha)

Cơ cấu
(%)
H
ệ số SD
đất (lần)

Tổng diện tích 15.741 100 22.700 100
I Đất ruộng chủ động nước 5.302 33,68 12.026 52,98 2,27
II Đất ruộng không chủ động nước

2.036 12,94 2.342 10,32 1,15
III

Đất bãi ven sông 583 3,70 1.224 5,39 2,10
IV

Đất nương rẫy 7.820 49,68 7.108 31,31 0,91


6. Lúa xuân - Lúa mùa 116,3 51,7 64,6

11
3.2.2.2. Trên đất ruộng không chủ động nước (1 vụ lúa mùa)
Có 3 công thức trồng trọt chính, trong đó công thức luân canh rau xuân - lúa mùa
cho thu nhập thuần cao nhất (61,6 triệu đ/ha), tuy nhiên diện tích công thức này có 30-40
ha, trồng đậu rau, dưa chuột, còn lại chủ yếu đất chỉ trồng 1 vụ lúa mùa bị bỏ trống vụ
xuân và vụ đông. Đây là những hạn chế cần được nghiên cứu tăng vụ.
Bảng 3.7. Năng suất cây trồng ở một số công thức trồng trọt chính
trên đất ruộng không chủ động nước tại huyện Điện Biên năm 2010
Công thức trồng trọt n
Năng suất (
x
± S
x
) (tạ/ha)
Vụ 1 Vụ 2
1. Ngô xuân - Lúa mùa 41 41 ± 16,6 47 ± 16,4
2. Rau - Lúa mùa 32 158-262 49 ± 14,6
3. Lúa mùa 45 46,5 ± 17,1
3.2.3. Thực trạng sản xuất, tiêu thụ lúa và chất lượng gạo huyện Điện Biên
3.2.3.1. Thực trạng sản xuất lúa
(a). Giống và năng suất lúa
Từ năm 2007, người dân chủ yếu sử dụng giống lúa Bắc Thơm số 7. Hiện tại có
98% số hộ trồng lúa và trên 80% diện tích được gieo cấy bằng các giống lúa thuần
chất lượng (BT7, IR.64, HT1). Các giống lúa thuần chất lượng này thích nghi với khí
hậu của vùng, có chất lượng gạo dẻo, thơm, năng suất cao, 6,5-8 tấn/ha. Tuy nhiên,
năng suất giống lúa BT7 có biến động nhất do diện tích lớn, phạm vi vùng sản xuất
rộng và giống này dễ bị ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh.
Bảng 3.10. Biến động năng suất các giống lúa tại cánh đồng Mường Thanh

vùng trồng lúa phổ biến của nước ta, không có kỹ thuật đặc thù.
3.2.3.2. Hiệu quả kinh tế, tình hình tiêu thụ lúa hàng hóa
(a) Hiệu quả kinh tế sản xuất lúa: Các giống lúa BT7, IR.64, HT1 và lúa lai có
hiệu quả kinh tế tương đương nhau. Tuy nhiên, giống lúa IR.64 cho thu nhập ổn định
hơn, giống lúa BT7 được thị trường ưa chuộng, lưu thông tốt hơn.
(b) Lúa hàng hóa: Tỷ lệ lúa chất lượng hàng hóa ngày một tăng, từ 49,6% (số
hộ bán lượng thóc >50%) năm 2006 tăng lên 64,7% năm 2010. Sản lượng lúa hàng
hóa chất lượng cung cấp cho thị trường khoảng 25 nghìn tấn năm 2010, tăng từ
45,6% năm 2006 lên 57,9% nămg 2010.
(c) Tiêu thụ lúa gạo: Lúa được tiêu thụ khá thuận lợi, tuy nhiên vẫn bị tư
thương ép giá nên giá thường thấp hơn nhiều so với giá bán ở các tỉnh bên ngoài.
3.2.3.3 Đặc điểm chất lượng các giống lúa đang được gieo trồng
Hiện 3 giống lúa chất lượng BT7, IR.64 và HT1 chiếm 80% diện tích của
huyện, trong đó giống lúa Bắc Thơm số 7 có chất lượng cao nhất như: hàm lượng
protein 8,11%, tỷ lệ gạo trắng trong cao 81,2%, cơm ăn dẻo thơm, mềm sau khi để
nguội. Giống lúa chất lượng IR.64 sau nhiều năm trồng thấy không phù hợp ở các
tỉnh phía Bắc, nhưng hiện vẫn được trồng và phát triển tốt ở Điện Biên.
3.2.4. Những hạn chế của HTCTr trên đất ruộng ở Điện Biên cần giải quyết
- Mặc dù lúa trồng ở Điện Biên gạo có chất lượng cao nhưng không đồng nhất
tại các khu vực đất trồng khác nhau, đã làm mất đi lợi thế về vị trí địa lý tạo nên chất
lượng gạo đặc sản. Giống lúa chất lượng Bắc Thơm số 7 có diện tích chiếm ưu thế
nhưng đang bị nhiễm một số sâu, bệnh hại đặc biệt bệnh bạc lá trong vụ mùa, làm
giảm năng suất, chất lượng.
- Trên đất ruộng chủ động nước hệ số sử dụng đất 2,27 lần, có 73,18% diện
tích đất chỉ trồng 2 vụ lúa, do hệ thống thủy lợi chưa hoàn thiện, các cây vụ đông
đang trồng thường có thời gian sinh trưởng dài, ảnh hưởng đến thời vụ sản xuất lúa
vụ xuân nên diện tích gieo trồng không đạt kế hoạch (chỉ đạt 20-30%). Bỏ trống vụ
đông nên hiệu quả kinh tế đạt thấp. Trên đất ruộng không chủ động nước hệ số sử
dụng đất 1,15 lần, còn tới 85% diện tích đất bỏ trống vụ xuân và vụ đông, do ít thay
đổi giống nên năng suất cây trồng không cao, người dân chưa tìm được công thức

2
/tháng trong vụ mùa. Đây chính là điều kiện để lúa
trồng ở Điện Biên có năng suất cao hơn.
- Nhiệt độ trung bình: tại Trạm Khí tượng Điện Biện, các tháng lúa trỗ đến
chín có nhiệt độ tương đối ổn định và rất thuận lợi. Cây lúa trỗ bông đến chín trong
vụ xuân 15/4-15/5 nhiệt độ trung bình 24,4-25,6
0
C; trong vụ mùa 1-30/9 có nhiệt độ
trung bình 24,9
0
C là khá phù hợp.
- Biên độ nhiệt độ ngày đêm: Biên độ nhiệt không khí trung bình ngày đêm của
huyện Điện Biên khá cao. Trong vụ xuân ở các tháng cây lúa trỗ đến chín 11-12,2
0
C
(giữa tháng 4 - giữa tháng 5), trong vụ mùa 8,8
0
C (tháng 9). Chênh lệch biên độ nhiệt
cao là điều kiện thuận lợi cho quá trình quang hợp tích lũy vật chất từ từ, làm cấu trúc
tinh bột chặt chẽ và quá trình chuyển hóa tích lũy phenol thơm vào trong hạt thóc
thuận lợi, làm tăng chất lượng gạo (gạo có độ dẻo, độ trong). Nhiệt độ ban đêm thấp
tạo hô hấp giảm, dẫn đến lượng vật chất tiêu hao ít nên tăng tích lũy cho cây lúa, vì
vậy lúa có năng suất cao (Nguyễn Duy Chinh, 2009). Do đó, lúa ở tỉnh Điện Biên nói
chung, huyện Điện Biên nói riêng trong điều kiện cùng giống, cùng mùa vụ có năng
suất cao ổn định, chất lượng tốt hơn các vùng khác.

14
- Lượng mưa, chế độ mưa: Mưa ở Điện Biên chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9,
lượng mưa trung bình/tháng không đáp ứng được nhu cầu trồng 2 vụ lúa nước nhưng
nhờ có hệ thống công trình đại thủy nông Nậm Rốm với Hồ Pa Khoang cùng các hồ

vùng lòng chảo Điện Biên huyện Điện Biên năm 2010
Đơn vị tính: Ha
TT

Tên đất


hiệu

Đất ở độ cao < 600m

Đất trồng lúa (2010)

Diện tích Tỷ lệ (%)

Diện tích

Tỷ lệ (%)

Tổng diện tích tự nhiên 12.759,57

100
Diện tích đất vùng nghiên cứu (I+II) 9.792,53

76,75

4.006,00


185,81

4,64

3 Đất phù sa gley Pg 1.083,13

8,49

1.076,67

26,88

4 Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng Pf 2.019,42

15,83

1.996,49

49,84

5 Đất phù sa ngòi suối Py 221,04

1,73

42,48

1,06

II Nhóm đất khác 5.543,30

10 Đất đỏ vàng biến đổi do trồng l. nước Fl 566,52

4,44

566,52

14,14

III Đất phi nông nghiệp 2.967,04

23,25

+ Đất phù sa không được bồi chua có 185,81 ha đang được trồng lúa. Đất có
thành phần cơ giới thịt pha sét, phản ứng đất chua (pH
KCl
: 4,64). Hàm lượng chất hữu
cơ trung bình (1,58%). Lân tổng số khá (0,11%). Kali tổng số trung bình (1,02%).

15
Lân dễ tiêu trung bình (12,5 mg/100g đất) và kali dễ tiêu nghèo (5,7 mg/100g đất).
Độ no baze ở mức trung bình (49,70%). Loại đất này hàng năm không bị ảnh hưởng
ngập lụt của sông, phân bố ở các xã, dọc theo sông Nậm Rốm trên địa hình vàn cao
và cao, thoát nước tốt.
+ Đất phù sa glây có 1.076,67 ha đang được trồng lúa. Đất có thành phần cơ giới

5
dễ tiêu,
CEC là không chặt, còn lại 3 biến là pH, BS, sét có tương quan chặt hơn được sử
dụng để xây dựng phương trình hồi quy. Phương trình hồi quy dự báo tỷ lệ độ
trắng trong của hạt gạo tại cánh đồng Mường Thanh phụ thuộc tuyến tính vào pH
(x
1
), BS (x
2
), thành phần cơ giới đất (sét) (x
3
) như sau: Y = 96,7352 - 4,8971 x
1
-
0,0917 x
2
+ 0,3510 x
3
. Hệ số tương quan bội r = 0,72.
Tương tự, phương trình hồi quy dự báo điểm đánh giá chất lượng thử nếm
phụ thuộc tuyến tính vào 4 biến: pH (x
1
), hàm lượng OM (x
2
), độ no baze (x
3
),
thành phần cơ giới đất (sét) (x
4
) như sau: Y = 19,9603 - 0,3755 x

Thành phần cơ giới Thịt nặng, sét

Thịt trung bình Thịt nhẹ, cát pha

Chế độ tưới Chủ động Chủ động Bán chủ động
Bảng phân cấp đánh giá S1: Chất lượng loại 1; S2: Chất lượng loại 2; S3: Chất lượng loại 3.

(b). Xác định vùng đất trồng lúa chất lượng tại cánh đồng Mường Thanh
Đất có khả năng trồng lúa cho chất lượng ở cánh đồng Mường Thanh có tổng
diện tích 4.036,3 ha. Trong đó: Diện tích đất cho gạo có chất lượng loại tốt nhất (S1):
trên đất phù sa glây (Pg), nằm chủ yếu ở phía Đông của cánh đồng thuộc các xã
Thanh An, Thanh Yên, Thanh Xương, Loong Luống, Noong hẹt, Sam Mứn, với diện
tích 1.012 ha; đất cho lúa chất lượng tốt (S2): Trên các loại đất thích hợp trên (Pg)
nhưng ít chủ động nước và các loại đất Pc, Pf, Py, tập trung tại các xã: Thanh Luông,
Thanh Chăn, Sam Mứn có diện tích 1.770 ha; đất cho lúa chất lượng khá (S3): Trên
các loại đất trồng lúa còn lại tại các xã, diện tích 1.254,3 ha.
3.3.1.3. Lựa chọn giống lúa chất lượng phù hợp tại huyện Điện Biên
(a) Kết quả thí nghiệm trong vụ xuân
Hai năm theo dõi cho thấy: Trong vụ xuân, giống HT6 có năng suất thực thu
(NSTT) trung bình 71,18 tạ/ha, cao hơn so với giống đối chứng (BT7) 7,37 tạ/ha,
tương đương 11,6% (bảng 3.26). Giống HT6 có nhiều đặc điểm tốt như: cây đồng
đều, chống đổ tốt nên được chọn để xây dựng mô hình nhân rộng. 17
Bảng 3.26. So sánh năng suất thực thu các giống lúa thí nghiệm
trong vụ xuân năm 2011 và 2012
Giống
Năng suất thực thu (tạ/ha) Tăng NS (TB 2 năm) so với đ/c


b

62,43
c

63,81 - -
CV (%) 4,0

3,0

LSD
0,05
5,402

3,884 * Chất lượng các giống lúa tham gia thí nghiệm vụ xuân: Các giống T10,
HT6, Bắc Thơm số 7 đều đạt tiêu chuẩn gạo chất lượng, có mùi thơm đến rất
thơm; tỉ lệ gạo nguyên cao (75-80%); dạng hạt từ trung bình đến thon; hàm lượng
protein cao (8,0-8,2%), hàm lượng amyloza thấp (13-14%); điểm đánh giá chất
lượng cơm khá đến tốt (18,3-18,7 điểm).
(b) Kết quả thí nghiệm trong vụ mùa
Sau 2 năm theo dõi cho thấy: Trong vụ mùa giống HT6 có NSTT trung bình

SH2 61,93
b

65,57
c

63,75 0,22 0,3
BT7 (Đ/c) 63,57
b

63,50
c

63,53 - -
CV (%) 2,6 2,9
LSD
0,05
3,438 3,992 Giống TH6 trong vụ mùa cũng có nhiều đặc tính tốt như cây đồng đều,
chống chịu sâu bệnh, chống đổ tốt, hàm lượng protein cao hơn các giống lúa khác
nên được chọn để xây dựng mô hình nhân rộng sản xuất trong vụ mùa.
3.3.2. Tăng vụ trên đất ruộng ở huyện Điện Biên
3.3.2.1. Kết quả nghiên cứu tăng vụ xuân trên đất ruộng không chủ động nước
(a) Kết quả lựa chọn các giống lạc

18
Sau 2 năm thí nghiệm, NSTT trung bình của giống lạc L20 đạt cao nhất
(21,15 tạ/ha), tăng 5,03 tạ/ha so với giống đối chứng (L14), tương đương 31%. Ba

a

21,15 5,03 31,2
TB25 18,57
bc

17,37
cd

17,97 1,85 11,5
Trạm dầu 18,17
c

18,80
bc

18,49 2,37 14,7
L14 (Đ/c) 15,60
d

16,63
de

16,12 - -
CV (%) 4,7 4,9
LSD
0,05

Hai vụ thí nghiệm cho thấy, giống ĐT22 đạt NSTT cao nhất (23,0 tạ/ha), cao hơn
đối chứng 4,52 tạ/ha, tương đương 24,4%, đến giống Đ9804 (21,61 tạ/ha), đều cao hơn
so với giống đối chứng (sự khác nhau có ý nghĩa với α = 0,05). Giống D912 và giống đối
chứng có NSTT tương đương nhau, sự sai khác không có ý nghĩa.

19
Bảng 3.43. Năng suất thực thu các giống đậu tương thí nghiệm vụ xuân
trên đất ruộng không chủ động nước
Giống
Năng suất thực thu (tạ/ha) Tăng NS (TB 2 năm) so với đ/c
Năm 2011

Năm 2012 TB 2 năm

NS (tạ/ha) %
ĐT22 22,60
a

23,47
a

23,03 4,52 24,4
D912 19,37
bc

20,23
bc

19,80 1,28 6,9
Đ9804 21,20

Bảng 3.47. Năng suất thực thu các giống ngô trong vụ xuân
trên đất ruộng không chủ động nước
Giống
Năng suất thực thu (tạ/ha)
Tăng
/giảm NS (TB 2 năm) so v
ới đ/c
Năm 2011

Năm 2012 TB 2 năm

Tạ/ha %
LVN4 46,42
c

48,47
b

47,44 -2,46 -4,9
LCH9 57,21
a

59,14
a

58,18 8,28 16,6
LVN885 52,47
b

57,47

Hiệu quả kinh tế (triệu đồng/ha)
Tổng thu Tổng chi Thu nhập thuần

1. Lạc (giống L20) 20,8 45,76 19,50 26,26
2. Đậu tương (ĐT22) 22,6 38,42 16,40 22,02
3. Ngô (LCH9) 57,2 34,32 14,85 19,47
(f) Xây dựng mô hình tăng vụ trên đất ruộng không chủ động nước
- Mô hình thử nghiệm:

20
(1) Lạc xuân (giống L20) - lúa mùa (BT7, giống đang sử dụng đại trà);
(2) Đậu tương xuân (giống ĐT22) - lúa mùa (giống BT7);
(3) Ngô xuân (giống LCH9) - lúa mùa (giống BT7);
- Mô hình đối chứng: lúa mùa (giống Bắc Thơm số 7).
Bảng 3.49. Hiệu quả kinh tế mô hình tăng vụ xuân trên đất ruộng không chủ
động nước (1 vụ lúa mùa) năm 2012 tại huyện Điện Biên (Tính trên 1 ha)
Mô hình
Năng suất
(tạ/ha)
Tổng
thu
Tổng
chi
Thu nhập
thuần
Tăng so
với mô
hình đ/c
(%)
Cây

OM N P
2
O
5
K
2
O P
2
O
5
K
2
O
Đối
chứng

Trước TN (2010)

4,28 2,42 0,18 0,09 1,42 13,4 9,5
Sau TN (2012) 4,29 2,41 0,19 0,11 1,41 13,6 9,4
Lạc x-
lúa m
Trước TN (2010)

4,10 2,62 0,11 0,12 1,10 6,6 18,3
Sau TN (2012) 4,16 2,92 0,14 0,13 1,16 8,1 20,7

21
Sau 2 năm thí nghiệm tăng vụ xuân, độ chua và một số chất dinh dưỡng
trong đất được cải thiện: Tăng vụ lạc xuân, hàm lượng chất hữu cơ tăng từ 2,62%

Sinora (Hà Lan) 17,77
a

18,70
a

18,23

4,01 28,2

Solara (Đức) 16,97
a

17,60
a

17,28

3,06 21,5

Diamant (Hà Lan) 14,57
bc

14,17
c

14,37

0,15 1,1


tây đông (giống Sinora).
Mô hình đối chứng: lúa xuân (giống BT7) - lúa mùa (giống BT7)
Hiệu quả kinh tế: Ở chân đất trồng 2 vụ lúa, khi thay đổi giống cũ (BT7)
bằng giống mới (HT6) cho thu nhập thuần tăng lên 23,6%. Hiệu quả kinh tế của
công thức trồng 2 vụ lúa là 63,81 triệu đồng/ha, trồng 2 vụ lúa và 1 vụ khoai tây
đông cho thu nhập thuần 157,21 triệu đồng/ha, hiệu quả kinh tế tăng hơn so với
canh tác 2 vụ lúa có sử dụng giống cũ là 93,4 triệu đồng/ha, tương đương 146,4%
(số liệu bảng 3.57).

22
Bảng 3.57. Hiệu quả kinh tế tăng vụ trên đất ruộng chủ động nước năm 2012
tại huyện Điện Biên (Tính trên 1 ha)

hình
Mùa vụ
Năng
suất
(tạ/ha)
Tổng thu
(Triệu đ)

Tổng chi
(Triệu đ)

Thu nhập
thuần
(Triệu đ)
Tăng so v
ới
mô hình

-
Thử
nghiệm

Lúa xuân (HT6) 68,20

68,20

31,13

37,07

18,6
Lúa mùa (HT6) 73,40

73,40

30,26

43,14

28,6
Khoai tây đông 185,4

154,25

77,25

77,00


đỏ vàng (Pf) có thành phần cơ giới trung bình và nhẹ, nằm ở các xã phía Bắc và
phía Tây của cánh đồng Mường Thanh là: Thanh Luông, Thanh Nưa, Thanh
Hưng, Thanh Chăn, Sam Mứn; không nên bố trí trồng khoai tây đông trên đất có
thành phần cơ giới nặng (đất Pg, Fl).
3.4.1. So sánh cơ cấu hệ thống cây trồng mới đề xuất với cơ cấu cây trồng cũ trên
đất ruộng
- Cơ cấu cây trồng trên đất ruộng mới có diện tích gieo trồng 16.930 ha, với hệ
số sử dụng đất 2,31 lần, so với diện tích gieo trồng cũ hệ số sử dụng đất 1,96 lần.
- Cây trồng ưu thế trong cơ cấu cây trồng mới là lúa chất lượng, lạc, đậu
tương, khoai tây và rau, so với cơ cấu cây trồng cũ ưu thế chỉ có lúa và rau.
- Cơ cấu cây trồng mới có thu nhập thuần đạt 703,6 tỷ đồng/năm, so với cơ
cấu cây trồng cũ thu nhập thuần tăng 1,69 lần.

23
Bảng 3.58. Đề xuất cơ cấu cây trồng mới so với cơ cấu cây trồng cũ trên đất ruộng
tại huyện Điện Biên
Loại cây trồng
Diện tích gieo trồng mới
(theo dự kiến 2015-2020)
Diện tích gieo trồng cũ
Diện tích
(ha)
Cơ cấu
(%)
Thu nh
ập
thu
ần (tri
ệu
đ)

379.200

2. Lạc 1.200

7,09

36.000

0
3. Khoai tây đông 1.590

9,39

127.200

27

0,19

1.350

4. Ngô 0
392


5,02

25.500

849

5,91

25.470

Tổng số 16.930

100

703.550

14.368

100

416.449

Hệ số sử dụng đất (lần)
2,31 1,96


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status