LÊ XUÂN TÂM
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
GẮN VỚI CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở TỈNH BẮC NINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng để
bảo vệ ở bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận án đã
được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận án
Lê Xuân Tâm
ii
Lê Xuân Tâm iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các biểu đồ x
Danh mục các sơ đồ xi
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Tổng quan các công trình nghiên cứu về làng nghề có liên quan 4
5 Những đóng góp mới của luận án 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
LÀNG NGHỀ GẮN VỚI CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI 8
1.1 Một số khái niệm 8
1.1.1 Làng nghề 8
1.1.2 Phát triển làng nghề 10
1.1.3 Nông thôn mới và chương trình xây dựng nông thôn mới 11
1.2 Mối quan hệ giữa phát triển làng nghề với xây dựng nông thôn mới 12
1.2.1 Tác động của chương trình xây dựng nông thôn mới đến phát triển
làng nghề 12
1.2.2 Vai trò phát triển làng nghề trong xây dựng nông thôn mới 14
2.2.3 Thu thập thông tin 50
2.2.4 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 52
2
.
2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 53
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH BẮC NINH GẮN VỚI CHƯƠNG TRÌNH XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI 56
3.1 Khái quát lịch sử phát triển các làng nghề và xây dựng nông thôn mới
ở tỉnh Bắc Ninh 56
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của các làng nghề nghiên cứu 56
v
3.1.2 Khái quát tình hình xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Ninh 59
3.2 Thực trạng phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh gắn với chương trình
xây dựng nông thôn mới 61
3.2.1 Phát triển kinh tế làng nghề 61
3.2.2 Phát triển văn hóa - xã hội làng nghề gắn với chương trình xây dựng
nông thôn mới 81
3.2.3 Môi trường làng nghề 86
3.2.4 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức 90
3.3 Các yếu tố chính ảnh hưởng đến phát triển làng nghề Bắc Ninh gắn
với xây dựng nông thôn mới 92
3.3.1 Chính sách phát triển làng nghề 92
3.3.2 Công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch 94
3.3.3 Cơ sở hạ tầng 97
3.3.4 Các yếu tố đầu vào 99
3.3.5 Các yếu tố đầu ra 109
3.3.6 Môi trường và bảo vệ môi trường 112
3.3.7 Thiết chế xã hội và truyền thống văn hóa 115
Phụ lục 163
vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CCN Cụm công nghiệp
CN Công nghiệp
CN - TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CP Chính phủ
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
DN Doanh nghiệp
GTGT Giá trị gia tăng
GTSX Giá trị sản xuất
HTX Hợp tác xã
KCN Khu công nghiệp
KT - XH Kinh tế - Xã hội
NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
NTM Nông thôn mới
QĐ Quyết định
SXKD Sản xuất kinh doanh
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TM Thương mại
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
VLXD Vật liệu xây dựng
XDNTM Xây dựng nông thôn mới
nông thôn mới cho phát triển làng nghề 94
3.14 Tổng hợp các chính sách về quy hoạch 95
3.15 Tổng hợp các chính sách về phát triển CSHT nông thôn 97
3.16 Thực trạng biến động số lao động tại các hộ sản xuất tại điểm nghiên cứu 101
3.17 Công nghệ tại điểm nghiên cứu sử dụng vào sản xuất 103
ix
3.18 Tình hình cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất của làng nghề 106
3.19 Yếu tố tác động đến đầu vào sản xuất của các DN 107
3.20 Lý do hộ sản xuất không làm hợp đồng ở các làng nghề 108
3.21 Thực trạng mặt bằng sản xuất của các CSSX ở làng nghề Bắc Ninh 108
3.22 Tình hình tiêu thụ sản phẩm ở một số ngành nghề chính trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh năm 2013 112
3.23 Tỷ lệ đáp ứng tiêu chí 17 về nông thôn mới tại các điểm nghiên cứu 113
3.24 Tổng hợp, so sánh số công trình vệ sinh môi trường đã và đang được
đầu tư, xây dựng ở 2 nhóm xã xây dựng NTM có làng nghề hoặc
không có làng nghề 114
3.25 Căn cứ để xây dựng quy hoạch cho phát triển làng nghề tại địa phương 121
3.26 Phương pháp tiến hành quy hoạch cho phát triển làng nghề 122
3.27 Đánh giá công tác quy hoạch cho phát triển làng nghề của người dân 122
3.28 Đánh giá chính sách đầu tư trong xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ công 123 x
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
STT Tên biểu đồ Trang
3.1 Diễn biến về sản phẩm cơ khí và SXKL qua các năm 65
3.2 Tốc độ tăng giảm sản lượng bình quân các sản phẩm nhóm dệt nhuộm,
1
MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Xây dựng và phát triển nông thôn luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt
quan tâm. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X nêu rõ: Hiện nay và trong
nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc
biệt quan trọng (Ban chấp hành Trung ương, 2008); là vấn đề chiến lược trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, là
cơ sở ổn định chính trị và an ninh quốc phòng; là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát
triển bền vững của đất nước trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Với vai trò và tầm quan trọng của nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội, an
ninh quốc phòng và thực tiễn phát triển nông thôn trong giai đoạn hiện nay ngày
càng được nâng cao. Năm 2009, Chính phủ đã ban hành Chương trình mục tiêu quốc
gia về xây dựng nông thôn mới với Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới (Chính
phủ, 2009), trong đó nêu rõ 5 nhóm với 19 tiêu chí chung và mức cần phải đạt của 7
vùng kinh tế trong cả nước. Việc xây dựng nông thôn mới là tập hợp các hoạt động
qua lại để cụ thể hoá các chương trình phát triển nông thôn, nhằm bố trí sử dụng các
nguồn lực khan hiếm về tài chính, nhân lực, phương tiện, vật tư thiết bị để tạo ra các
sản phẩm hay dịch vụ trong một thời gian xác định và thỏa mãn các mục tiêu về kinh
tế, xã hội và môi trường cho sự phát triển bền vững ở nông thôn.
Một trong những mục tiêu chương trình xây dựng nông thôn mới hướng tới là:
Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, có
cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát
triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy
hoạch… Chính vì vậy, việc khôi phục, phát triển làng nghề hiện nay là khâu quan
- Thứ nhất, các làng nghề của Bắc Ninh hiện nay đã đạt được những tiêu chí
nào trong bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới, còn lại những tiêu chí nào chưa đạt
được? Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới có phù hợp với thực trạng phát triển của
các làng nghề trên địa bàn tỉnh hay không? Những tiêu chí nào phù hợp và những
tiêu chí nào khó thực hiện/không phù hợp? Phát triển làng nghề đã gắn với xây dựng
nông thôn mới hay chưa?
- Thứ hai, việc phát triển các làng nghề hiện nay ở Bắc Ninh đang gặp phải
những khó khăn gì? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quá trình phát triển của các
làng nghề trên địa bàn tỉnh gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới?
- Thứ ba, cần đề xuất những giải pháp nào để việc phát triển làng nghề gắn với
chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới?
3
Để giải quyết những vấn đề đang đặt ra và trả lời những vấn đề trên liên quan
đến việc gắn kết giữa phát triển làng nghề với Chương trình xây dựng NTM trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh, tác giả nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu phát triển làng nghề gắn
với chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài Luận án
tiến sỹ.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển làng nghề, phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới, đề xuất một
số giải pháp phát triển làng nghề Bắc Ninh gắn với chương trình xây dựng nông thôn
mới đến năm 2020 của tỉnh.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển
làng nghề gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới.
- Đánh giá thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề
gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển làng nghề gắn với chương trình xây dựng
động qua lại giữa quá trình xây dựng một nông thôn mới với việc phát triển doanh
nghiệp trong làng nghề.
Piek (1998) khi nghiên cứu, tìm hiểu các mô hình quản lý kinh tế thành công
trong quá trình chuyển dịch kinh tế nông thôn tại các nước đang phát triển, lấy làng
nghề làm đối tượng nghiên cứu đã thấy rằng, yếu tố công nghệ đóng vai trò then chốt
cho sự thành công này. Để đảm bảo cho các doanh nghiệp, hộ sản xuất còn tồn tại,
bên cạnh việc làm bằng tay, hầu hết công nghệ mới phải được đưa vào tại các công
đoạn không cần thiết.
Trong nghiên cứu của Awgichew (2010) về các chính sách và các giải pháp
nhằm xúc tiến các làng nghề nông thôn ở Ethiopia tại Hội thảo Quốc tế về “Ứng
dụng khoa học và công nghệ vào phát triển các làng nghề” đã nêu lên các kinh
nghiệm của Chính phủ Ethiopia trong việc chú trọng nâng cấp, hiện đại hoá cơ sở hạ
tầng giúp các làng nghề phát triển. Với 83% người dân Ethiopia sống ở các vùng
nông thôn và sinh kế xuất phát từ nông nghiệp. Chính phủ Ethiopia đã thông qua
chiến lược công nghiệp hoá phát triển nông nghiệp (ADLI), đóng vai trò làm khung
cho qui hoạch đầu tư nông thôn trong các lĩnh vực: cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội,
nghiên cứu và mở rộng. Kế hoạch phát triển bền vững và nhanh chóng để chấm dứt
đói nghèo có 70% người dân nông thôn được tổ chức theo hợp tác xã, 200 điểm cung
cấp thông tin thị trường cấp huyện và 20 trung tâm ở vùng sâu vùng xa của Ethiopia
đã được dựng lên; 25 trung tâm giáo dục và đào tạo nghề ra đời; 10 triệu người được
5
đào tạo; 8 triệu đường dây điện thoại (cố định, không dây và di động) và tăng dịch vụ
truyên thông và công nghệ thông tin. Thay đổi cách sống của người dân vùng nông
thôn, đặc biệt là bằng cách giúp họ có thể sử dụng được các thiết bị máy móc hiện
đại và kết nối họ với thế giới hiện đại.
4.2 Các nghiên cứu có liên quan trong nước
Những công trình nghiên cứu tiêu biểu về phát triển làng nghề gắn với chương
trình xây dựng nông thôn mới trong nước đến nay được thể hiện qua nhiều tác phẩm
gồm: Trong tác phẩm “Làng nghề trong công cuộc phát triển đất nước” (Vũ Quốc
làng nghề bền vững với khái niệm phát triển làng nghề gắn với chương trình xây
dựng nông thôn mới.
Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những điểm hợp lý của các quan niệm nêu trên và
nghiên cứu của bản thân, tác giả luận án cho rằng phát triển làng nghề theo định
hướng xây dựng NTM là một hình thức phát triển mới, phù hợp với tiến trình vận
động của xã hội nông thôn ở Việt Nam hiện nay. Việc lồng ghép phát triển làng nghề
với chương trình xây dựng nông thôn mới sẽ giúp cho các chỉ tiêu về kinh tế, văn hóa -
xã hội và môi trường của nông thôn mới trở nên khả thi hơn, trong khi đó làng nghề
cũng sẽ được phát triển đúng quy hoạch, yếu tố môi trường, công nghệ và nhân lực,…
được bảo đảm. Trong đó nhấn mạnh đến việc bảo tồn đối với một số làng nghề có
nguy cơ bị mai một, khả năng thích ứng đối với một số làng nghề phát triển kém và
sự lan tỏa đối với các làng nghề phát triển mạnh.
5 Những đóng góp mới của luận án
5.1 Đóng góp về mặt lý luận của luận án
Thông qua việc tổng kết bài học kinh nghiệm phát triển làng nghề trong bối
cảnh xây dựng nông thôn của một số nước trong khu vực, một số địa phương trong
nước, kế thừa các nghiên cứu đã có về phát triển làng nghề và phát triển làng nghề
gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới tác giả đã phân tích, làm rõ được sự
cần thiết và tầm quan trọng của việc lồng ghép giữa phát triển làng nghề với Chương
trình XDNTM. Luận án đã chỉ ra rằng việc lồng ghép giữa phát triển làng nghề với
Chương trình XDNTM sẽ giúp cho các chỉ tiêu kinh tế trong Bộ tiêu chí xây dựng
nông thôn mới trở nên khả thi hơn, các làng nghề sẽ phát triển đúng quy hoạch; các
yếu tố xã hội, môi trường, công nghệ và nhân lực… trong quá trình phát triển làng
nghề được bảo đảm.
Làm rõ được nội dụng phát triển làng nghề gắn với XDNTM và các yếu tố tác
động ảnh hưởng đến phát triển làng nghề gắn với XDNTM, cũng như quan hệ biện
chững giữa phát triển làng nghề với XDNTM, qua đó góp phần làm sâu sắc thêm lý
luận về phát triển làng nghề gắn với XDNTM.
7
nghiệp, là điều khó thực hiện.
Quan niệm thứ hai: Một số nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm làng nghề kèm
theo tiêu chí cụ thể về lao động và thu nhập. Ví dụ như: “Làng nghề là những làng đã
từng có từ 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm
nghề chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm” (Mai Thế Hởn và
cs., 2003), hay trong Dự thảo Nghị định của Chính Phủ về một số chính sách khuyến
khích phát triển ngành nghề nông thôn được Bộ NN &PTNT đệ trình tháng 5-2005
thì: “Làng nghề là thôn, ấp, bản có trên 35% số hộ hoặc lao động tham gia hoạt động
ngành nghề nông thôn và thu nhập từ ngành nghề nông thôn chiếm trên 50% tổng thu
nhập của làng”, v.v Các định nghĩa này đã khắc phục nhược điểm của quan niệm
thứ nhất, quan tâm đến phải có tỷ lệ người làm nghề và thu nhập từ ngành nghề,
nhưng lại cố định tiêu chí xác định làng nghề và việc cố định những tiêu chí trong
khái niệm sẽ làm cho các nhà hoạch định chính sách khó xử lý khi chế độ ưu đãi đối
với làng nghề thay đổi thì phải chăng khái niệm cũng thay đổi.
9
Quan niệm thứ ba: “Làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề
thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập” (Dương Bá Phượng,
2001). Quan niệm này đã nêu lên được hai yếu tố cơ bản cấu thành của làng nghề là
“làng” và “nghề”, nêu lên được vấn đề nghề trong làng tách ra khỏi nông nghiệp và
kinh doanh độc lập nên phù hợp với điều kiện mới hơn, tránh được hạn chế của quan
niệm thứ hai, song vẫn mắc phải hạn chế của quan niệm thứ nhất.
Thuật ngữ làng nghề được tạo thành bởi hai chủ thể “làng” và “nghề”. Nghề được
đề cập ở đây là nghề TTCN được tiến hành trong phạm vi làng và gắn với làng. Có thể
hiểu một cách giản đơn làng nghề là làng có hoạt động TTCN. Tuy vậy, không phải quy
mô của nghề ở bất cứ mức độ nào thì làng cũng được gọi là làng nghề. Làng được gọi là
làng nghề khi các hoạt động TTCN đủ lớn đến mức độ nào đó và mang tính ổn định.
Như vậy, khái niệm làng nghề phải thể hiện cả về định tính và định lượng. Định tính của
làng nghề thể hiện sự khác biệt của làng nghề so với làng thuần nông (hoặc có ngành
nghề phụ quy mô nhỏ) hoặc với phố nghề ở thành thị. Định lượng của khái niệm làng
về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh
tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Như vậy, phát triển là một quá trình lâu dài và do các
nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định, khái quát thông qua sự gia tăng của tổng
mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu
người, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế và sự biến đổi ngày càng tốt
hơn trong các vấn đề xã hội. Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội
của quá trình phát triển.
Theo đó, phát triển làng nghề là sự tăng lên cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu
tổ chức của làng nghề ở hai mức độ từ thấp lên cao thể hiện ở việc mở rộng về quy
mô sản xuất, sự gia tăng về mức đóng góp cho ngân sách và thu nhập bình quân một
đầu người, việc đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường tại làng nghề…
(Szydlowski, 2008).
1.1.2.2 Phát triển bền vững làng nghề
Trong những thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XX, tăng trưởng kinh tế của một số nước
đạt tốc độ khá cao, tuy nhiên nó cũng có những ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng trưởng
đó đến tương lai con người và vấn đề tăng trưởng bền vững đã được đặt ra.
Phát triển bền vững là một khái niệm tương đối rộng và có thể có nhiều cách
hiểu khác nhau. Khái niệm phát triển bền vững được ngân hàng thế giới đề cập lần
đầu tiên năm 1987 như sau:“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu
của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thế
hệ tương lai”.
Ở Việt Nam, phát triển bền vững được hiểu theo một cách toàn diện hơn: “Phát
triển bền vững bao gồm phát triển các mặt của đời sống xã hội, nghĩa là phải gắn kết
sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và cải thiện
môi trường, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng an ninh quốc gia được đảm
bảo” (Nguyễn Thị Mai Hương, 2011).
11
Nếu như không tính đến khía cạnh an ninh quốc phòng thì khái niệm phát triển
bền vững, về cơ bản bao hàm 3 phương diện: Môi trường bền vững, kinh tế bền vững
hoạch. Do yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, cần 3 yếu tố chính: Đất đai,
12
vốn và lao động kỹ thuật. Qua việc xây dựng nông thôn mới sẽ triển khai quy hoạch
tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa. Mặt khác, mục
tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp. Vì vậy, một nước
công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó và
phát triển thiếu đồng bộ.
Trên cơ sở thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban
chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Ngày
16/4/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 491/QĐ-TTg về xây
dựng Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới và Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày
04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc
gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020. Chương trình mục tiêu Quốc
gia xây dựng nông thôn mới được triển khai trên địa bàn các xã trong phạm vi cả
nước, nhằm phát triển nông thôn toàn diện, với nhiều nội dung liên quan đến hầu hết
các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, hệ thống chính trị cơ sở. Như vậy
có thể nói đây là chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an
ninh quốc phòng trên địa bàn nông thôn toàn quốc.
1.2 Mối quan hệ giữa phát triển làng nghề với xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Tác động của chương trình xây dựng nông thôn mới đến phát triển
làng nghề
Xây dựng nông thôn mới (XDNTM) là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn
để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã của mình khang
trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có
nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời
sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao. Nông thôn mới không chỉ là
vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp.
Bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hành kèm theo Quyết định số 491/QĐ - TTg
ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể tiêu chí qua các phần: Quy