nghiên cứu sự tham gia của thành viên hợp tác xã trong chương trình xây dựng nông thôn mới ở huyện chương mỹ, thành phố hà nội - Pdf 35

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRẦN MAI PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA THÀNH VIÊN
HỢP TÁC XÃ TRONG CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN CHƯƠNG MỸ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP – 2016


HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRẦN MAI PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA THÀNH VIÊN
HỢP TÁC XÃ TRONG CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN CHƯƠNG MỸ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Bảo Dương

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN

động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày....tháng....năm 2015
Tác giả

Trần Mai Phương

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page iii


MỤC LỤC
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục viết tắt

vii

Danh mục bảng


1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

3

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

3

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

4

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

4

PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

5

2.1. Cơ sở lý luận

5

2.1.1. Tổng quan về nông thôn mới


34

2.2.2. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở các vùng trong nước

38

PHẦN III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

43

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

43

3.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện

43

3.1.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế xã hội

48

3.2 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

49

3.2.1. Cách tiếp cận

49


56

4.1.3. Bộ máy tổ chức, quản lý trong triển khai xây dựng mô hình NTM

57

4.2. Thực trạng sự tham gia của thành viên hợp tác xã trong chương trình xây
dựng nông thôn mới ở huyện Chương Mỹ – thành phố Hà Nội

58

4.2.1. Hình thức tham gia của thành viên hợp tác xã trong xây dựng nông thôn mới

58

4.2.2. Sự tham gia của thành viên HTX trong xây dựng mô hình NTM.

67

4.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của thành viên hợp tác xã trong xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Chương Mỹ – Thành phố Hà Nội

80

4.3.1. Nhân tố nội tại thuộc về hợp tác xã

80

4.3.2. Nhân tố bên ngoài hợp tác xã


94

PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

100

5.1 Kết luận

101

5.2 Kiến nghị

102

TÀI LIỆU THAM KHẢO

104

PHỤ LỤC

101

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page vi


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


Kinh tế nông nghiệp

MTTQ

Mặt trận tổ quốc

NQ

Nghị quyết

NTN

Nông thôn mới

UBND

Ủy ban nhân dân

VAT

Thuế Giá trị Gia tăng

TT

Thị trấn

TW

Trung ương


về xây dựng nông thôn mới

27

3.1:

Tình hình đất đai của huyện Chương Mỹ qua 3 năm (2008-2010)

45

3.2:

Bảng các đơn vị điều tra

51

3.3:

Ma trận SWOT

53

4.1:

Một số mục tiêu cụ thể trong xây dựng NTM

55

4.2:


Xã viên HTX tham gia lập kế hoạch phát triển

72

4.8:

Xã viên HTX tham gia công tác quy hoạch

74

4.9:

Xã viên tham gia tập huấn, ứng dụng kỹ thuật trong sản

75

4.10:

Thành viên HTX góp công lao động xây dựng công trình

78

4.11:

Công tác quản lý và sử dụng tài sản

80

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế


Page ix

4.3:


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới chung của đất nước, nông nghiệp,
nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, đời sống của nông dân
được cải thiện nhiều, bộ mặt nông thôn đã có những biến đổi sâu sắc.
Theo Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X nêu rõ Đảng ta đã xác định: "Hiện nay và trong thời gian tới, vấn đề nông
nghiệp, nông dân và nông thôn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước". Qua đó các cấp, các ngành từ
trung ương đến địa phương đã không ngừng triển khai nhiều chương trình, dự án
nhằm thúc đẩy và phát triển nông nghiệp, nông thôn hướng tới chủ động giải quyết
thiết thực các vấn đề đời sống và đáp ứng nhu cầu cho nông dân, đặc biệt là các hộ
nghèo, vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn vươn lên có cuộc sống tốt đẹp hơn, đảm
bảo phát triển bền vững của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế, quốc tế.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Chính phủ nền sản xuất nông
nghiệp cũng như đời sống người nông dân đã cơ bản thay đổi và đạt được những
thành tựu to lớn. Năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp phát
triển với tốc độ khá cao, bền vững; hàng hóa nông sản được phân phối rộng khắp
các vùng miền trên toàn quốc nhờ hệ thống cơ sở hạ tầng đường bộ đã có bước phát
triển vượt bậc so với những năm trước. Mặt khác khu vực nông thôn đã được tiếp
nhận và thu hút nhiều nguồn lực từ các chương trình, dự án để phát triển nông thôn,
góp phần cải thiện, nâng cao đời sống cho cộng đồng người dân sống ở nông thôn,
nâng cao vai trò cho người dân… Nhưng, trên thực tế nhiều nơi chưa phát huy hết

của thành viên hợp tác xã ở một số tỉnh từ đó rút ra những kinh nghiệm để có thể
nhân rộng mô hình trên phạm vi cả nước. Từ những vấn đề thực tiễn tôi đã lựa chọn
và tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sự tham gia của thành viên hợp tác
xã trong chương trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Chương Mỹ, thành phố
Hà Nội’’.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Đề tài nhằm đánh giá thực trạng sự tham gia của thành viên hợp tác xã trong
chương trình xây dựng nông thôn mới. Trên cơ sở đó rút ra một số bài học kinh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 2


nghiệm, đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của hợp tác xã trong quá trình xây
dựng nông thôn mới tại huyện Chương mỹ, thành phố Hà Nội.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia của thành
viên hợp tác xã trong chương trình xây dựng NTM.
Phân tích đánh giá thực trạng, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia
của thành viên hợp tác xã trong chương trình xây dựng NTM ở huyện Chương Mỹ,
thành phố Hà Nội.
Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của thành viên hợp tác xã
trong công cuộc xây dựng NTM.
1.3. Các câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng xây dựng NTM huyện Chương Mỹ đã và đang diễn ra như thế
nào? So sánh với mục tiêu đặt ra thì mức độ đạt được đến đâu?
- Sự tham gia của thành viên hợp tác xã được thể hiện như thế nào trong quá
trình xây dựng mô hình NTM?
- Có những thuận lợi, khó khăn, thách thức gì trong việc huy động sự tham

Page 4


PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Tổng quan về nông thôn mới
2.1.1.1. Khái niệm về nông thôn, phát triển nông thôn
- Nông thôn
Nông thôn được coi như là khu vực địa lý, nơi đó sinh kế cộng đồng gắn bó,
có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng môi trường và tài nguyên thiên nhiên
cho hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu.
Hiện nay trên thế giới chưa thống nhất định nghĩa về nông thôn. Song có nhiều
quan điểm khác nhau:
Có quan điểm cho rằng nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở
đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Cũng có quan điểm cho rằng chỉ cần
dựa vào trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng
phát triển không bằng vùng đô thị. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ
tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì
cho rằng nông thôn có trình độ tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn. Cũng có
ý kiến nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định.
Theo quan điểm này, vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân cư thấp hơn
vùng thành thị…(Giáo trình KTCT Mác – Lênin, 2006).
Khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối và thay đổi theo thời gian để
phản ánh biến đổi về kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện
Việt Nam theo quan điểm của chúng tôi: "Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp
dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt
động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định
và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác" (Mai Thanh Cúc và cs., 2005).
Theo định nghĩa của chương trình quốc gia về nông thôn mới thì nông thôn

hậu quả cho thế hệ tương lai (Mai Thanh Cúc và cs., 2005).
Từ các quan điểm trên theo chúng tôi: "Phát triển nông thôn là một quá trình
nhằm cải thiện và nâng cao đời sống của người dân nông thôn một cách bền vững về
kinh tế xã hội, văn hoá và môi trường, quá trình này trước hết là do nỗ lực từ chính
người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của chính phủ và các tổ chức khác"
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 6


- Mô hình nông thôn mới
Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát triển cả
về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực,
vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các
chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc
phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí.
Theo các nhà nghiên cứu thì mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng
đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu KHKT hiện đại mà vẫn giữ được nét
đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người dân. Nhìn chung mô hình nông thôn mới theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa.
Mô hình nông thôn mới là tập hợp các hoạt động qua lại để cụ thể hóa các
chương trình phát triển nông thôn, mô hình nhằm bố trí sử dụng các nguồn lực khan
hiếm về tài chính, nhân lực, phương tiện, vật tư thiết bị để tạo ra các sản phẩm hay dịch
vụ trong một thời gian xác định và thỏa mãn các mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi
trường cho sự phát triển bền vững ở nông thôn.
Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát
triển, đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường, đạt hiệu quả cao nhất
trên tất cả các mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tiến bộ hơn so với mô hình
cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước (Viện
quy hoạch và TKNN, 2007).

huy tối đa, tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực, bảo đảm trạng thái cân bằng
trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn, giữ vững an ninh trật tự xã hội,…nhằm
hình thành môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn.
Hai là, đáp ứng yêu cầu thị trường hoá, đô thị hoá, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, chuẩn bị những điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống
và trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ đã gắn bó lâu đời. Trước hết, cần
tạo cho người dân có điều kiện để chuyển đổi lối sống và canh tác tự cung tự cấp,
thuần nông (cổ truyền) sang sản xuất hàng hoá, dịch vụ, du lịch, để họ “ly nông bất
ly hương”.
Ba là, có khả năng khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực, đạt tăng
trưởng kinh tế cao và bền vững; môi trường sinh thái được giữ gìn; tiềm năng du
lịch được khai thác; làng nghề truyền thống, làng nghề tiểu thủ công nghiệp được

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 8


khôi phục; ứng dụng công nghệ cao về quản lý, về sinh học...; cơ cấu kinh tế nông
thôn phát triển hài hoà, hội nhập địa phương, vùng, cả nước và quốc tế.
Bốn là, dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất. Các chủ thể nông
thôn (lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức phi chính phủ,
nhà nước, tư nhân…) có khả năng, điều kiện và trình độ để tham gia tích cực vào
các quá trình ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh bạch,
thông suốt và hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan; phân phối công bằng. Người
nông dân thực sự “được tự do và quyết định trên luống cày và thửa ruộng của
mỡnh”, lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh làm giàu cho mình, cho quê hương
theo đúng chủ trương đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Năm là, nông dân, nông thôn có văn hoá phát triển, dân trí được nâng lên, sức
lao động được giải phóng, nhiệt tình cách mạng được phát huy. Đú chính là sức mạnh

đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Về chính trị: Phát huy dân chủ với tinh thần tôn trọng pháp luật, gắn lệ làng,
hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý,
phát huy tính tự chủ của làng xã.
Phát huy tối đa Quy chế dân chủ cơ sở, tôn trọng hoạt động của các hội, đoàn
thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây
dựng nông thôn mới.
Về văn hóa - xã hội: Tăng cường dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò tự chủ trong
thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, trong xây dựng đời sống
văn hóa ở khu dân cư, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng.
Về con người: Xây dựng nhân vật trung tâm của mô hình nông thôn mới, đó là
người nông dân sản xuất hàng hóa khá giả, giàu có; là người nông dân kết tinh các
tư cách: công dân, thể nhân, dân của làng, người con của các dòng họ, gia đình.
Có kế hoạch, chương trình, lộ trình xây dựng người nông dân nông thôn thành
người nông dân sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, thành nhân vật trung
tâm của mô hình nông thôn mới, người quyết định thành công của mọi cải cách ở
nông thôn.
Người nông dân và các cộng đồng nông thôn là trung tâm của mọi chiến lược
PTNNNT. Đưa nông dân vào sản xuất hàng hóa, doanh nhân hóa nông dân, doanh
nghiệp hóa cỏc cộng đồng dân cư, thị trường hóa nông thôn.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 10


Về môi trường: Môi trường sinh thái phải được bảo tồn xây dựng, củng cố,
bảo vệ. Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không
khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững.
Các nội dung trên trong cấu trúc vai trò mô hình nông thôn mới có mối liên hệ

Các yếu tố hộ gia đình
Các điều kiện về nhân khẩu học
Các điều kiện kinh tế
Các điều kiện xã hội

Các yếu tố môi trường cộng đồng
thôn

Tham gia vào các hoạt
động phát triển thôn

Tính cộng đồng
Kinh nghiệm về các hoạt động tập thể
Nhận thức về dân chủ cơ sở và sự
tham gia
Tổ chức cộng đồng
Trình độ dân trí
Kinh tế cộng đồng

Tiếp nhận thông tin
Xây dựng kế hoạch
Thực hiện
Hưởng lợi

Các yếu tố đặc điểm của chương
trình
Mức độ phức tạp về kỹ thuật
Nguồn lực yêu cầu
Khả năng hưởng lợi
Mức độ linh động

tính chất của dự án phát triển. Ở hầu hết các nước, sự tham gia của người dân vào
phát triển diễn ra từ mức độ cao cho tới chỗ chỉ tham gia 1 cách hình thức. Mức độ
tham gia khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố như mô hình phát triển, phong cách
quản lý, mức độ nâng cao quyền lực và bối cảnh văn hóa xã hội của đất nước hay
cộng đồng. Khả năng vận động người dân, các tổ chức xã hội tham gia và năng lực
để tham gia của nhóm đối tượng cũng là những yếu tố quyết định.
2.1.3. Sự tham gia của hợp tác xã trong chương trình xây dựng NTM
2.1.3.1. Khái niệm về hợp tác xã nông nghiệp
HTX là phương thức tất yếu trong lao động sản xuất và các hoạt động kinh tế,
gắn liền với sự phát triển kinh tế và bị ràng buộc, quy định bởi sự tiến triển trong
quá trình xã hội hoá của hoạt động kinh tế của con người và phải thích ứng với tiến
trình phát triển kinh tế đó. HTX phải tạo ra xung lực tăng năng suất lao động và đạt
hiệu quả kinh tế cao.
Xuất phát từ thực tiễn nước ta kinh tế HTX tồn tại và phát triển dưới nhiều
hình thức đa dạng, từ thấp đến cao. Chẳng hạn, có những HTX trở thành lĩnh vực
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 13


hoạt động chính của các thành viên. Có những HTX chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu
chung về một hay một số dịch vụ trong quá trình sản xuất hoặc chuyên sản xuất
kinh doanh một sản phẩm nhất định, thành viên tham gia chỉ đóng góp một phần
vốn và lao động, hộ gia đình vẫn là đơn vị kinh tế tự chủ. HTX là kết quả liên kết
theo chiều dọc, chiều ngang hoặc hỗn hợp, không bị giới hạn bởi địa giới hành
chính và lĩnh vực kinh doanh. Mỗi người lao động, mỗi hộ gia đình có thể tham gia
đồng thời vào nhiều loại hình kinh tế hợp tác. HTX có tý cách pháp nhân có thể
nhân danh mình huy động vốn, lao động… ở bên ngoài dưới nhiều hình thức khác
nhau để phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Theo điều 1 Luật HTX Việt Nam (2003) thì: “HTX là một tổ chức kinh tế tập

sẽ hình thành một hệ thống các HTX nông nghiệp, trong đó bao gồm các HTX thực
hiện một hoặc một số khâu hoặc toàn bộ quá trình sản xuất để tạo ra lương thực thực phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường. Vì vậy, có thể có các HTX tiến hành
nghiên cứu, dự báo thị trường nông sản - thực phẩm, HTX cung ứng các yếu tố
phục vụ sản xuất như: vốn, máy móc thiết bị, điện, nước, phân bón, thuốc trừ sâu…
và các HTX phục vụ việc bán hàng và phân phối hàng hoá thậm chí cả các HTX
cung cấp lao động (Nguyễn Văn Bích, 1997).
Như vậy, ta có thể hiểu: HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế tự chủ do nông
dân và những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn,
góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của
từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ hỗ trợ
cho kinh tế hộ gia đình xã viên và kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu
thụ sản phẩm nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và kinh doanh ngành nghề ở nông
thôn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
2.1.3.2. Vai trò của sự tham gia của hợp tác xã nông nghiệp trong quá trình xây
dựng nông thôn mới
Con số 70% dân số sống tại nông thôn và cuộc sống phụ thuộc vào nguồn thu
nhập bấp bênh từ nông nghiệp đã nói lên vai trò quan trọng của kinh tế nông nghiệp
ở mỗi địa phương. Để nền kinh tế đó phát huy hiệu quả, không có con đường nào
ngắn bằng việc gắn nó với việc phát triển các HTX nông nghiệp. Thứ trưởng Bộ
nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Xuân Hùng nhấn mạnh, phát triển HTX
nông nghiệp chính là giải pháp quan trọng ngăn chặn nguy cơ mất ổn định xã hội,
tiến tới hiện thực hóa xây dựng nông thôn mới.
Tại hội thảo tổng kết 4 năm thực hiện dự án Tăng cường chức năng HTX nông
nghiệp ở Việt Nam do tổ chức cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ vừa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status