MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
Trong thời gian qua khu vực nông thôn đã được tiếp nhận và thu hút
nhiều nguồn lực từ các chương trình, dự án để phát triển nông thôn, góp phần
cải thiện, nâng cao đời sống cho cộng đồng người dân sống ở nông thôn, nâng
cao vai trò cho người dân… Tuy nhiên, trên thực tế nhiều nơi chưa phát huy
hết được những nguồn lực trong thực hiện các chương trình phát triển nông
thôn. Có rất nhiều lý do và lực cản như: trình độ hiểu biết của người dân,
năng lực quản lý, cơ chế, phương pháp triển khai thực hiện và điều kiện cơ sở
hạ tầng thấp kém… Qua các kinh nghiệm xây dựng nông thôn của một số
nước, của các chương trình do các tổ chức quốc tế thực hiện ở Việt Nam, và
một số chương trình của chính phủ cho thấy mô hình phát triển nông thôn ở
cấp cơ sở khi sử dụng phương pháp có sự tham gia của cộng đồng có nhiều
tiềm năng phù hợp với bối cảnh phát triển nông thôn cấp cơ sở ở nước ta và
cũng có nhiều điểm mạnh có thể khắc phục được những hạn chế của những
phương pháp truyền thống cũ trước đây ở Việt Nam. Để thử nghiệm xõy dựng
nông thôn mới thành công, nhà nước ta đã quyết định xây dựng thí điểm mô
hình nông thôn mới (NTM) theo phương pháp có sự tham gia của cộng đồng ở
một số tỉnh từ đó rút ra những kinh nghiệm để có thể nhân rộng mô hình trên
phạm vi cả nước. Từ những vấn đề từ thực tiễn tôi đã lựa chọn và tiến hành
nghiên cứu đề tài “Đỏnh giá sự tham gia của cộng đồng ở cấp thôn, bản
trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Nam Định.”
Phạm vi xử lý của đề tài:
Phạm vi sử lý của đề tài là tại tỉnh Nam Định, một trong những tỉnh
được chọn để xây dựng mô hình nông thôn, bao gồm 2 mô hình
• Làng Hoành Đồn, Xã Hải Đường, huyện Hải Hậu
• Làng Hạ, Xã Minh Tân, huyện Vu Bản
Vấn đề chớnh cần giải quyết
Có nhiều nguyên nhân tác động đến kết quả đạt được trong quá trình
xây dựng nông thôn mới, trong đó có một yếu tố quan trọng đó là sự tham gia
của cộng đồng nông thôn. Điều đó sẽ tạo ra một phong trào quần chúng rộng
phương trong thời gian tới, cũng như góp phần vào công cuộc xây dựng nông
thôn mới trên địa bàn cả nước. Có thể nói từ một khía cạnh của chương trình
ta có những cái nhìn tổng quan hơn để có thể nhân rộng chương trình trên địa
bàn cả nước.
Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.
Trong đó phần nội dung bao gồm các chương sau.
Chương I: Tổng quan về nông thôn mới và vai trò của cộng đồng trong
xây dựng nông thôn mới
Chương II: Thực trạng tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông
thôn mới ở tỉnh Nam Định giai đoạn 2007 đến nay
Chương III: Kiến nghị giải pháp
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ NễNG THễN MỚI VÀ VAI TRề CỦA CỘNG
ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NễNG THễN MỚI.
I. Tổng quan về nông thôn mới.
1. Các quan điểm về phát triển nông thôn.
Nông thôn là khái niệm để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông
nghiệp chiếm tỷ trọng lớn.
Phát triển nông thôn là một quá trình nhằm cải thiện và nâng cao đời
sống của người dân nông thôn một cách bền vững về kinh tế xã hội, văn hoá
và môi trường, quá trình này trước hết là do nỗ lực từ chính người dân nông
thôn và có sự hỗ trợ tích cực của chính phủ và các tổ chức
1
.
Phát triển nông thôn bền vững có thể được coi là sự chuyển biến từ
cách tiếp cận công nghiệp sang theo cách tiếp cận hữu cơ; với phương thức
phát triển bền vững thì mục tiêu lợi nhuận không còn là mục tiêu ưu tiên số
một nữa mà nó nằm trong sự chi phối của các mối quan tâm về an toàn môi
trường và ổn định xã hội; từ chỗ độc đoán, chỉ huy tập trung sang dân chủ,
nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong
điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông
thôn cũ (truyền thống, đó cú) ở tính tiên tiến về mọi mặt. Cỏc tiêu chí về
NTM dùng để đánh giá toàn diện về mọi mặt của nông thôn, những tiêu chí
này đã được cụ thể thành 19 tiêu chí và được phân thành 5 nhóm cụ thể
3
:
nhóm tiêu chí về quy hoạch, về hạ tầng kinh tế - xã hội, về kinh tế và tổ chức
sản xuất, về văn hóa - xã hội - môi trường và về hệ thống chính trị.
Có thể xác định một số yêu cầu cơ bản của các tiêu chí trong mô hình
nông thôn mới như sau:
Một là, đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là làng - xã. Làng -
xã thực sự là một cộng đồng, trong đó quản lý của Nhà nước không can thiệp
sâu vào đời sống nông thôn trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của người
dân thông qua hương ước, lệ làng (không trái với pháp luật của Nhà nước).
3
Xem phụ lục số 1:văn bản số 491/QĐ-TTg về việc ban hành bộ tiểu chí quốc gia về NTM
Quản lý của Nhà nước và tự quản của nông dân được kết hợp hài hoà; các giá
trị truyền thống làng xã được phát huy tối đa, tạo ra bầu không khí tâm lý xã
hội tích cực, bảo đảm trạng thái cân bằng trong đời sống kinh tế - xã hội ở
nông thôn, giữ vững an ninh trật tự xã hội,…nhằm hình thành môi trường
thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn.
Hai là, đáp ứng yêu cầu thị trường hoá, đô thị hoá, công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, chuẩn bị những điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân
làm ăn sinh sống và trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ đã gắn bó
lâu đời. Trước hết, cần tạo cho người dân có điều kiện để chuyển đổi lối sống
và canh tác tự cung tự cấp, thuần nông (cổ truyền) sang sản xuất hàng hoá,
dịch vụ, du lịch, để họ “ly nông bất ly hương”.
Ba là, có khả năng khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực, đạt
tăng trưởng kinh tế cao và bền vững; môi trường sinh thái được giữ gìn; tiềm
buôn bán, chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
- Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, kích thích mọi
người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm
bớt sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa cỏc vựng, giữa
nông thôn và thành thị.
- Phát triển các hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới
các HTX theo mô hình kinh doanh đa ngành. Hỗ trợ các HTX ứng dụng tiến
bộ khoa học - công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất, kinh doanh,
phát triển ngành nghề ở nông thôn.
- Sản xuất hàng hóa với chất lượng sản phẩm mang nét độc đáo, đặc sắc
của từng vùng, địa phương. Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công
nghệ sản xuất, chế biến nông sản sau thu hoạch vừa có khả năng tận dụng
nhiều lao động vừa đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Về chính trị: Phát huy dân chủ với tinh thần tôn trọng pháp luật, gắn lệ
làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính
pháp lý, phát huy tính tự chủ của làng xã.
Phát huy tối đa Quy chế dân chủ cơ sở, tôn trọng hoạt động của các hội,
đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực
vào xây dựng nông thôn mới.
Về văn hóa - xã hội: Tăng cường dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò tự
chủ trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, trong
xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giúp nhau xóa đói giảm nghèo,
vươn lên làm giàu chính đáng.
Về con người: Xây dựng nhân vật trung tâm của mô hình nông thôn
mới, đó là người nông dân sản xuất hàng hóa khá giả, giàu có; là người nông
dân kết tinh các tư cách: công dân, thể nhân, dân của làng, người con của các
dòng họ, gia đình.
Có kế hoạch, chương trình, lộ trình xây dựng người nông dân nông
thôn thành người nông dân sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, thành
nhân vật trung tâm của mô hình nông thôn mới, người quyết định thành công
của chương trình được tham gia vào việc quyết định chương trình.
Sự tham gia của cộng đồng là tìm và huy động các nguồn lực của cộng đồng,
qua đó để tăng lợi ích cho cộng đồng dân cư giảm các chi phí, tăng hiệu quả
kinh tế và hiệu quả chính trị cho nhà nước.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia trong đó việc nắm bắt được
các yếu tố và mức độ ảnh hưởng cho phép ta có thể tăng cường các yếu tố hỗ
trợ sự tham gia hay có thể hạn chế các yếu tố không hỗ trợ cho sự tham gia
của cộng đồng. Các yếu tố này được thể hiện tóm tắt trong hình dưới đây:
Sơ đồ số 1 : Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng
trong các hoạt động phát triển thôn
4
Hồ Văn Thông (chủ biên): thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị Quốc
gia - Hà Nội, 2005
Trong nhúm cỏc yếu tố, các đặc điểm của chương trình có ảnh hưởng
quan trọng đến sự tham gia của cộng đồng. Sự tham gia của người dân thậm
chí sẽ không có ý nghĩa nếu không có sự phân cấp và phân quyền cho người
dân, cho cộng đồng thôn.
Các yếu tố hộ gia đình thể hiện thông qua các đặc điểm nhân khẩu học
(giới, tuổi, số người, số lao động, ), đặc điểm kinh tế hộ (khá, trung bình,
nghèo ; nông nghiệp, sản xuất phi nông nghiệp, thương mại ; ), đặc điểm xã
hội (cán bộ địa phương, người dân bình thường ; quan hệ rộng, hẹp với cộng
đồng và với bên ngoài). Các yếu tố này ảnh hưởng đến sự tham gia của hộ.
Các yếu tố hộ gia đình
Các điều kiện về nhân khẩu học
Các điều kiện kinh tế
Các điều kiện xã hội
Các yếu tố môi trường cộng đồng
thôn
Tính cộng đồng
Kinh nghiệm về các hoạt động tập thể
2. Vai trò của sự tham gia của cộng đồng trong quá trình xây dựng nông
thôn mới
Phát triển nông thôn là một khái niệm rất rộng. Có nhiều cách tiếp cận
tương ứng với mục tiêu, nội dung khác nhau trong phát triển nông thôn. Tùy
theo điều kiện cụ thể của mỗi khu vực nông thôn để có phương pháp tiếp cận
và nội dung phù hợp. Đối với phát triển nông thôn trước đây thường sử dụng
phương phát triển nông thôn theo cách tiếp cận truyền thống (hay là phát triển
từ trên xuống). Việc lập kế hoạch phát triển do tổ chức, cá nhân bên ngoài
cộng đồng thực hiện, chủ yếu do các cơ quan chuyên môn có liên quan đến
phát triển nông thôn, nông nghiệp và quản lý tài nguyên tự nhiên thực hiện.
Việc lập kế hoạch được thực hiện theo quy trình, được quy định trong quy
phạm lập kế hoạch, thường tập trung vào việc sử dụng đất và các tài nguyên
tự nhiên. Bên cạnh đó việc thực hiện các kế hoạch phát triển lại cũng do các
đơn vị đến từ bên ngoài tiến hành, thường không có sự tham gia của người
dõn. Nờn sản phẩm của các kế hoạch này thường không thật sự phù hợp với
nhu cầu của người dân cộng đồng, việc sử dụng nguồn lực hỗ trợ của bên
ngoài không được tiết kiệm, không có hiệu quả cao. Các nguồn lực của cộng
đồng cũng không được huy động một cách có hiệu quả cho việc thực hiện kế
hoạch phát triển của địa phương.
Khác với cách tiếp cận truyền thống thông thường, phương pháp tiếp cận
dựa vào nội lực cộng đồng (hay sự tham gia của cộng đồng) tập trung đầu tiên
là vào cách mà người dân trong cộng đồng tham gia vào các hoạt động góp
phần phát triển cộng đồng. Phương pháp xây dựng sự tự tin cho cộng đồng
qua việc đánh giá cao những việc mà người dân làm được cho cộng đồng và
qua những thành quả mà chính họ đạt được,chớnh sự tự tin này góp phần đưa
cộng đồng phát triển lên phía trước. Phương pháp này giúp cho cộng đồng đối
mặt với những vấn đề gặp phải bằng cách: Đầu tiên là xem xét khả năng của
cộng đồng, và huy động các ngưồn lực của cộng đồng để giải quyết vấn đề
theo thứ tự mà cộng đồng đã nhất trí. Nói cách khác là cộng đồng đã tự định
hướng quá trình phát triển dựa vàochớnh nội lực cho phép của cộng đồng.
giá qua các tiêu chí: Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra,
dân quản lý và dân hưởng lợi. Những tiêu chí này toàn phù hợp với quan
điểm của Đảng ta “lấy dân làm gốc”. Các nội dung đánh giá sự tham gia của
người dân trong việc xây dựng mô hình nông thôn mới được hiểu:
- Dân biết: là quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân
về những kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch nông
thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông
thôn. Mặt khác, người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai
đoạn sau của quá trình xây dựng công trình; Người dân nắm được thông tin
đầy đủ về công trình mà họ tham gia như: mục đích xây dựng công trình, quy
mô công trình, các yêu cầu đóng góp từ công đồng, trách nhiệm và quyền lợi
của cộng đồng người dân được hưởng lợi.
- Dân bàn: bao gồm sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế
hoạch phát triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của
nông dân trên địa bàn như: bàn luận mở ra một hướng sản xuất mới, đầu tư
5
chương trình đang được ưu tiên là CT 135 có mức hỗ trợ trung bình 400 triệu đồng/ năm/xã trong giai đoạn
1 và 800 triệu đồng trong giai đoạn 2
xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phương thức
khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các
định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính, … trong
nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi.
- Dân đóng góp: là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc
mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng
tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng. Hình thức đóng góp có thể
bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ.
- Dân làm: chính là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các
hoạt động phát triển nông thôn như: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt
động của cỏc nhúm khuyến nông, khuyến lõm, nhúm tín dụng tiết kiệm và
những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công
Qu¶n lý
Hëng
lîi
thu nhập tăng thêm của năng suất cây trồng do thực hiện thâm canh, tăng vụ,
áp dụng các giống mới, các kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh và các hoạt
động tài chính, tín dụng,…. Nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng
thành quả của các hoạt động đó, để hưởng lợi từ mức độ cải thiện môi trường
sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ
tham gia vào thị trường để tăng thu nhập
6
,…
III. Các hình thức tham gia của cộng đồng.
Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình xây dựng NTM thể hiện vai
trò làm chủ của cộng đồng vào các hoạt động phát triển của thụn, đõy chớnh
là một trong yếu tố đo lường mức độ thành công của chương trình. Tùy thuộc
vào điều kiện cụ thể của từng thôn mà cộng đồng có những hình thức tham
gia khác nhau vào các hoạt động phát triển, ta có thể phân thành hai hình thức
tham gia trực tiếp và tham gia gián tiếp.
1. Hình thức tham gia trực tiếp của cộng đồng vào quá trình xây dựng
nông thôn mới
Trong chương trình NTM cộng đồng có thể tham gia đóng góp trực tiếp
vào các hoạt động phát triển như:
1.1 - Người dân tham gia đóng góp kinh phí thực hiện các mô hình sản xuất,
kinh phí xây dựng công trình nông thôn
Đây là một hình thức tham gia của người dân vào các hoạt động phát
triển bằng cách đóng góp một phần chi phí cho các hoạt động. Điều này
không những làm giảm bớt ngỏnh nặng tài chính cho ngân sách nhà nước mà
còn làm tăng tính trách nhiệm của người dân khi tham gia vào các chương
6
- Viện Quy hoạch và TKNN - Dự án “Chiến lược phát triển các điểm dân cư nông thôn tới năm
không thể thiếu đó là kiến thức ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong
sản xuất. Khi người nông dân nắm chắc các kiến thức cơ bản, hiểu biết các
ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, canh tác thì họ tự tin hơn trong
việc thâm canh tăng năng suất và như vậy một lần nữa vai trò của người dân
được thể hiện trong việc tự quyết định ứng dụng khoa học kỹ thuật vào phát
triển sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập. Khi vai trò của người dân được nâng
cao thì người dân dễ dàng tiếp nhận các kiến thức mới, cũng như áp dụng các
tiến bộ kỹ thuật mới một cách chủ động hơn, như vậy sẽ góp phần nâng cao
năng lực của cộng đồng về mặt kinh tế, kỹ thuật, điều này sẽ khuyến khích sự
tham gia của cộng đồng vào quá trình xây dựng NTM.
1.5 Người dân tham gia vào các lớp nâng cao năng lực cộng đồng
Nâng cao năng lực cộng đồng: bao gồm việc tổ chức các lớp đào tạo, tập
huấn ngắn hạn về cộng đồng cho người dân nông thôn, phát triển năng lực thể
chế trong cộng đồng (tổ chức, quản lý, chế tài, phân phối lợi ớch,…); Xây dựng
phương pháp và hỗ trợ người dân nông thôn tổ chức các cuộc họp của cộng đồng
để cùng nhau trao đổi, xác định nhu cầu phát triển của cộng đồng cũng như tham
gia vào việc thiết kế, xây dựng, triển khai theo dõi và đánh giá các chương trình,
dự án triển khai tại cộng đồng. Khi cộng đồng tham gia vào các lớp tập huấn
nâng cao năng lực cộng đồng, khi đó người dân có thể chủ động hơn khi tham
gia vào quá trình lập kế hoạch phát triển, xây dựng hay đánh giá quá trình phát
triển nông thôn tại địa phương mỡnh.Trờn cơ sở đó, tạo ra sự cam kết cộng đồng
và gắn kết xã hội nông thôn mà mục đích của cam kết là có thể bàn bạc tập thể
về tương lai của thôn, bản, bảo đảm sự cân bằng về cơ hội và nhu cầu của mọi
thành viên trong cộng đồng; Từng bước nâng cao nhận thức của cộng đồng về
giá trị các nguồn lực nông thôn, bí quyết, di sản văn hóa và chất lượng cuộc
sống. Nhờ vậy, cộng đồng của từng thôn, làng có thể xác định được bản sắc của
mình, làm hồi sinh lại những bản sắc vốn có của địa phương mình.
1.6 - Người dân tham gia xây dựng quy chế và lập kế hoạch phát triển thôn
Việc xây dựng mô hình phát triển nông thôn theo cách tiếp cận dựa vào
cộng đồng trước tiên thông qua quá trình lập kế hoạch phát triển thôn. Việc
trong thôn sẽ bầu chọn người tham gia BPT từ những người có uy tín, kinh
nghiệm và nhiệt tình với công việc chung của cộng đồng, và sau mỗi một
hoặc hai năm sẽ có việc bầu chọn lại. Việc thành lập BPT có mục tiêu là tự
phát triển đáp ứng nhu cầu quản lý tổ chức việc thực hiện kế hoạch phát triển
của địa phương. BPT sẽ đứng ra tổ chức việc thực hiện các kế hoạch phát
triển của cộng đồng, tổ chức các cuộc họp định kỳ, tổng hợp ý kiến của người
họp và xây dựng thành kế hoạch cụ thể, huy động sự tham gia của người dân,
làm cầu nối với các cá nhân và tổ chức bên ngoài cộng đồng, v.v BPT có
vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện xây dựng mô hình, BPT giúp huy
động sự tham gia của người dân vào các hoạt động phát triển của địa phương,
xây dựng được những hình thức tổ chức phù hợp đảm bảo các yêu cầu phát
triển của cộng đồng ở địa phương đó.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG
NễNG THễN MỚI Ở TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2007 ĐẾN NAY.
I. Hiện trạng nông thôn ở Nam Định khi có chương trình nông thôn mới.
1. Tổng quan về Nam Định
Nam Định là tỉnh ven biển nằm ở trung tâm Nam đồng bằng sông
Hồng, diện tích tự nhiên 1.652,3 km
2
; dân số năm 2008 là 2.000.160 người,
trong đó gần 80% sống ở nông thôn, chủ yếu là sản xuất nông, ngư, diêm
nghiệp. Lao động có 1.203.600 người, trong đó lao động nông lâm ngư
nghiệp 684.914 người (chiếm 58,7%). Tỉnh có 9 huyện và 1 thành phố (Thành
phố Nam Định là đô thị loại 2) với 209 xã, thị trấn, 20 phường. Mật độ dân số
bình quân gần 1.211 người /km
2
; diện tích đất nông nghiệp bình quân 693
m
2
ứng, chế biến, tiêu thụ, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Các HTX nông
nghiệp đảm nhiệm các dịch vụ then chốt phục vụ sản suất như: tưới tiêu nước,
điện, bảo vệ thực vật, thú y; tham gia một phần dịch vụ làm đất, cung ứng vật
tư, tiêu thụ sản phẩm. Các doanh nghiệp nông nghiệp bước đầu thiết lập mối
quan hệ hợp tác trong cung cấp dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.
- Kinh tế trang trại có bước phát triển mạnh. Toàn tỉnh có 1.231 trang
trại, tăng 3, 7 lần so với năm 2001. Trong đó có 588 trang trại nuôi trồng thủy
sản, chiếm 63,4%; 569 trang trại chăn nuôi chiếm 28,6%.
b. Cơ sở hạ tầng nông thôn tiếp tục được đầu tư phát triển, bộ mặt nông thôn
không ngừng đổi mới.
- Ngay từ những năm 1990, hưởng ứng chương trình giao thông của
tỉnh, các huyện, thành phố đã huy động cao các nguồn lực và sự đóng góp của
nhân dân, tập trung xây dựng các tuyến đường giao thông thụng thụn. Đến
nay 100% số xã, thị trấn có đường ô tô đến trụ sở UBND xã, thị trấn được
nhựa/bờ tụng hóa. 100% số xã, thị trấn có đường liờn thụn được bê tông hóa;
trong đó 81% số xã, thị trấn đường liờn thụn được bê tông hóa từ 75% trở lên.
- Giao thông nội đồng: tỷ lệ được kiên cố hóa mới đạt….%, còn lại chủ
yếu là đường đất, mặt đường hẹp, không đảm bảo được yêu cầu sử dụng các
phương tiện cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp.
- Hệ thống thuỷ lợi gồm đờ, kố, cống, trạm bơm, kênh mương được đầu
tư nâng cấp cơ bản đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và chủ động hơn trong
phòng chống lụt bão. Tuy nhiên tỷ lệ kênh mương được kiên cố hóa mới chỉ
đạt 10%, hiệu quả tưới tiêu phục vụ sản xuất còn hạn chế. Có 626 trạm bơm
nước phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, bình quân mỗi xó cú 3,2
trạm bơm.
- Hệ thống điện nông thôn: Được xây dựng chủ yếu từ những năm 1980
– 1985 bằng vốn của HTX nông nghiệp và đóng góp của nhân dân. Đến nay
100% số xã, thị trấn ở vùng nông thôn có điện lưới, tỷ lệ hộ dùng điện là 100%.
Thực hiện công văn số 348/UBND-VP5 ngày 06/8/2008 của UBND tỉnh về
việc bàn giao lưới điện hạ thế nông thôn cho ngành điện quản lý, đến nay 209
- Việc xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn có nhiều chuyển biến
tích cực. Năm 2008 có 67% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa;
1.154 thôn, làng, tổ dõn phố bằng 31,3% đạt tiêu chuẩn làng văn hóa . 89,5%
số xã, thị trấn; 40,7% số thụn làng, tổ dõn phố có nhà văn hóa. 27% số người
và 16% số gia đình tập luyện thể thao thường xuyên. Hoạt động bảo tồn, tôn
tạo các di tích lịch sử được quan tâm. Toàn tỉnh có 290 di tích lịch sử đã được
xếp hạng.
- Giáo dục đào tạo tiếp tục phát triển: 100% số xó cú trường mầm non,
trường tiểu học, trung học cơ sở, 34,4% số thôn có nhà trẻ, 42,8% số thụn cú
lớp mẫu giáo.
- Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu được quan tâm hơn, cơ sở y tế
xã được củng cố và hoàn thiện. 91,3 % số trạm y tế xó cú bỏc sỹ làm việc,
90% số thụn cú cán bộ y tế.
d. Thu nhập, điều kiện sinh hoạt và đời sống nhân dân được cải thiện.
Đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện: Năm 2008,
GDP bình quân đầu người/năm là 9,7 triệu đồng, tăng 98% so với năm 2001.
Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới là 7,5%. Điều kiện sinh hoạt, ăn ở ngày càng
được nâng cao: 39,4% số hộ có nhà kiên cố, 55,3% số hộ có nhà bán kiên cố,
bình quân 2 hộ có 1 xe máy, 83% số hộ có ti vi, 52% số hộ cú cú đầu video,
23% số hộ có điện thoại cố định, 6,4% số hộ có tủ lạnh, 1,9% số hộ cú bỡnh
tắm nóng lạnh, 60,55% số hộ có nhà tắm xây, 73,1% số hộ có nhà tiêu hợp vệ
sinh.
e. Hệ thống chính trị được tăng cường, dân chủ cơ sở được phát huy, trật tự an
ninh xã hội ở nông thôn được giữ vững.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương V về đổi mới và nâng cao chất lượng
hệ thống chính trị cơ sở, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở thụn (xúm), xó
tiếp tục được kiện toàn, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động.
Khu vực nông thôn có 209 xã, thị trấn; 3.707 thụn (xúm) với 2.384 cán
bộ công chức chuyên trách, 1.774 cán bộ chuyên môn. Trình độ cán bộ xã
được nâng lên với 57% cán bộ có trình độ trung cấp lý luận; 85% trung cấp