TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
DỰ ÁN HỢP TÁC VIỆT NAM – HÀ LAN BÀI GIẢNG
PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Người biên soạn: PGS.TS Nguyễn Minh Hiếu NGƯỜI BIÊN SOẠN: TS. Nguyễn Minh Hiếu
Huế, 2008
2
CHƯƠNG I
KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CƯU KHOA HỌC
I. KHOA HỌC
1. Khái niệm về khoa học
Thuật ngữ “ khoa học” là một khái niệm rất phức tạp ở nhiều mức độ khác
nhau của quá trình tích cực nhận thức hiện thực khách quan và tư duy trừu tượng.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khoa học, có thể khái quát lại như sau: khoa
học là hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, về
3
Nhưng nó có mối quan hệ đa dạng và phức tạp với các hình thái ý thức xã hội khác,
tác động mạnh mẽ đến chúng. Ngược lại, các hình thái ý thức xã hội khác cũng có
ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học, đặc biệt đối với sự truyền bá, ứng dụng
các tiến bộ khoa học vào sản xuất và đời sống.
- Khoa học là một hoạt động mang tính chất nghề nghiệp xã hội đặc thù: là hoạt
động sản xuất tinh thần mà sản phẩm của nó ngày càng tham gia mạnh mẽ và đầy
đủ vào mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là sản xuất vật chất thông qua sự đổi
mới hình thức, nội dung, trình độ kỹ thuật, công nghệ và làm thay đổi chính bản
thân con người trong sản xuất. Xuất phát từ đó xã hội yêu cầu phải tạo ra cho khoa
học một đội ngũ những người hoạt động chuyên nghiệp có trình độ chuyên môn
nhất định, có phương pháp làm việc theo yêu cầu của từng lĩnh vực khoa học.
2. Sự phát triển của khoa học
Quá trình phát triển của khoa học có hai xu hướng ngược chiều nhau nhưng
không loại trừ nhau mà thống nhất với nhau:
- Xu hướng thứ nhất là sự tích hợp những tri thức khoa học thành hệ thống
chung.
- Xu hướng thứ hai là sự phân lập các tri thức khoa học thành những ngành
khoa học khác nhau.
Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, tuỳ theo những yêu cầu phát triển
của xã hội mà xu hướng này hay khác nổi lên chiếm ưu thế.
+ Thời cổ đại: xã hội loài người còn sơ khai, lao động sản xuất còn đơn giản, những
tri thức mà con người tích luỹ được chủ yếu là tri thức kinh nghiệm. Thời kỳ này,
triết học là khoa học duy nhất chứa đựng tích hợp những tri thức của các khoa học
khác nhau như: hình học, cơ học, thiên văn học.
+ Thờì kỳ Trung cổ: kéo dài hàng nghìn năm, là thời kỳ thống trị của quan hệ sản
xuất phong kiến và cùng với nó là sự thống trị của giáo hội và nhà thờ (chủ nghĩa
duy tâm thống trị xã hội) ở thời kỳ này khoa học bị giáo hội bóp nghẹt mọi tư
tưởng khoa học nên khoa học chậm phát triển, vai trò của khoa học đối với xã hội
sự phát triển của khoa học gắn bó hài hoà với môi trường sinh sống của con người.
3. Phân biệt khoa học, kỹ thuật, công nghệ
3.1. Khoa học: khoa học là hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của tự nhiên, xã
hội và tư duy, về những biện pháp tác động đến thế giới xung quanh, đến sự nhận
thức và làm biến đổi thế giới đó phục vụ lợi ích của con người.
Các tiêu chí để nhận biết khoa học:
- Có đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu là bản chất sự vật hoặc
hiện tượng được đặt trong phạm vi quan tâm của bộ môn khoa học.
- Có hệ thống lý thuyết: lý thuyết là hệ thống tri thức khoa học bao gồm
những khái niệm, phạm trù, quy luật, định luật, định lý, quy tắc Hệ thống lý
thuyết của một bộ môn khoa học thường gồm hai bộ phận: bộ phận riêng có đặc
trưng cho bộ môn khoa học đó và bộ phân kế thừa từ các khoa học khác.
- Có hệ thống phương pháp luận: phương pháp luận của một bộ môn khoa
học bao gồm hai bộ phận: phương pháp luận riêng và phương pháp luận xâm nhập
từ các bộ môn khoa học khác.
- Có mục đích ứng dụng: đây là mục tiêu của nghiên cứu. Tuy nhiên, trong
nhiều trường hợp người nghiên cứu chưa biết trước được mục đích ứng dụng(
nghiên cứu cơ bản thuần tuý) vì vậy không nên ứng dụng máy móc tiêu chí này.
3.2. Kỹ thuật: Là bất kỳ kiến thức kinh nghiệm hoặc kỹ năng có tính chất hệ thống
hoặc thực tiễn được sử dụng cho việc chế tạo sản phẩm hoặc để áp dụng vào các quá
trình sản xuất, quản lý hoặc thương mại và trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc
sống xã hội.
5
3.3. Công nghệ: Công nghệ mang một ý nghĩa tổng hợp bao gồm tri thức, tổ chức,
quản lý Vì vậy nói đến công nghệ là nói đến một phạm trù xã hội, nói đến những
gì liên quan đến biến đổi đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất bao gồm:
- Phần kỹ thuật (technoloware): hệ thống máy móc thiết bị
- Phần thông tin (infoware): các bí quyết công nghệ, quy trình, tài liệu
( Vũ Cao Đàm 2005)
4. Phân loại khoa học
4.1.Nguyên tắc phân loại khoa học
- Nguyên tắc khách quan quy định việc phân loại khoa học phải dựa vào đặc
điểm của đối tượng nghiên cứu cuả từng bộ môn khoa học và quá trình vận động,
phát triển của từng bộ môn đó gắn với những yêu cầu của thực tiễn, không được
tách rời giữa khoa học và đời sống.
6
- Nguyên tắc phối thuộc đòi hỏi phân loại khoa học phải theo tiến trình phát
triển của đối tượng nhận thức của khoa học và mối liên hệ biện chứng, chuyển tiếp
lẫn nhau giữa chúng.
Tuỳ theo mục đích nhận thức hoặc mục đích sử dụng mà có nhiều cách phân
lọai khoa học. Mỗi cách phân loại dựa trên một tiêu thức có ý nghĩa ứng dụng nhất
định.
4.2.Một số cách phân loại tiêu biểu
+ Phân loại của Aristốt (384-382-thời Hy lạp cổ đại) theo mục đích ứng dụng của
khoa học, có 3 loại:
- Khoa học lý thuyết: siêu hình, vật lý, toán học tìm hiểu thực tại
- Khoa học sáng tạo gồm: tu từ, thư pháp, biện chứng để sáng tạo
- Khoa học thực hành: đạo đức, kinh tế, chính trị học, sử học để hướng dẫn
đời sống
+ Cách phân loại của C. Mác có hai loại:
- Khoa học tự nhiên: có đối tượng là dạng vật chất và hình thức vận động các
dạng vật chất đó cùng những mối quan hệ và quy luật giữa chúng như cơ học, toán
học, sinh vật học,
- Khoa học xã hội hay khoa học về con người: có đối tượng là những sinh
hoạt của con người, những quan hệ xã hội của con người cũng như những quy luật,
những động lực phát triển của xã hội như: sử học, kinh tế học, triết học, đạo đực
nhận thức của con người nhằm khám phá bản chất của sự vật, hiện tượng và tìm
kiếm giải pháp cải tạo thế giới.
Mục đích của nghiên cứu khoa học là nhận thức và cải tạo thế giới
2. Chức năng của nghiên cứu khoa học
Để đạt được hai mục đích trên, nghiên cứu khoa học có một số chức năng
sau:
+ Mô tả: Mô tả định tính và mô tả định lượng sự vật
- Mô tả định tính nhằm chỉ rõ các đặc trưng về tính chất, đặc điểm của đối
tượng
- Mô tả định lượng nhằm chỉ rõ các đặc trưng về lượng của đối tượng
Kết quả của sự mô tả là khái niệm được phát biểu lên dưới dạng kinh nghiệm
+ Giải thích: - Làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự hình thành, phát triển và tiêu vong
của sự vật, hiên tượng
- Sự tương tác giữa chúng với nhau và với môi trường xung quanh
- Phân tích những mâu thuẩn nảy sinh bên trong sự vật, các động lực và quy
luật phát triển
Kết quả của sự giải thích là tri thức đạt đến trình độ tư duy lý luận.
+ Dự báo: Khi nghiên cứu một sự vật hiện tượng nào đó, bao giờ củng đưa đến sự
tiên đoán dự kiến sự phát triển tương lai của nó. Điều đó hết sức cần thiết cho việc
đề xuất các kiến nghị, các đề án, kế hoạch.
Tuy nhiên trong nghiên cứu khoa học mọi phép ngoại suy và dự báo đều phải
chấp nhận độ sai lệch nhất định. Sự sai lệch này có thể là do nhận thức ban đầu của
8
người nghiên cứu chưa chuẩn xác, sai lệch do quan sát, do những luận cứ bị biến
dạng, do môi trường biến động
+ Giải pháp: Nghiên cứu khoa học luôn hướng tới cái mới đòi hỏi sự sáng tạo và
nhạy bén của tư duy. Sáng tạo các giải pháp để cải tạo thế giới là mục đích của
NCKH.
9
Một khái niệm được biểu đạt bởi định nghiã. Định nghĩa một khái niệm là
tách ngoại diên của khái niệm đó ra khỏi khái niệm gần nó và chỉ rõ nội hàm. Ví dụ,
trong định nghĩa "đường tròn là một đường cong khép kín, có khoảng cách từ mọi
điểm tới tâm bằng nhau", thì "đường tròn" là sự vật cần định nghĩa; "đường cong" là
sự vật gần nó; "khép kín" là nội hàm; "có khoảng cách từ mọi điểm tới tâm bằng
nhau" cũng là nội hàm.
5.2. Phán đoán
Phán đoán là một thao tác logic luôn được thực hiện trong nghiên cứu khoa
học. Theo logic học, phán đoán được định nghĩa là một hình thức tư duy nhằm nối
liền các khái niệm lại với nhau để khẳng định rằng khái niệm này là hoặc không là
khái niệm kia. Phán đoán có cấu trúc chung là "S là P", trong đó, S được gọi là chủ
từ của phán đoán; còn P là vị từ của phán đoán.
Phán đoán được sử dụng trong trường hợp cần nhận định về bản chất một sự
vật, trình bày giả thuyết khoa học, trình bày luận cứ khoa học, v.v Một số phán
đoán thông dụng được trình bày trong bảng 2.
Bảng 2. Phân loại các phán đoán
Phán đoán theo chất Phán đoán khẳng đinh
Phán đoán phủ định
Phán đoán xác suất
Phán đoán hiện thực
Phán đoán tất nhiên
S là P
S không là P
S có lẽ là P
S đang là P
S chắc chắn là P
Phán đoán theo lượng
Suy luận diễn dịch là hình thức suy luận đi từ cái chung đến cái riêng. Ví dụ,
mọi người đều chết, ông T là người, vậy ông T rồi cũng sẽ chết.
Suy luận quy nạp là hình thức suy luận đi từ cái riêng đến cái chung. Ví dụ,
hàng loạt nghiên cứu về môi trường ở châu Á - Thái Bình Dương cho thấy: đất đai
thoái hóa, rừng giảm mạnh, ô nhiễm không khí, ô nhiễm đô thị tăng nhanh, v.v
Tất cả những cái riêng đó dẫn đến kết luận về cái chung: Thảm họa môi trường
đang đe dọa khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Loại suy là hình thức suy luận đi từ cái riêng đến cái riêng. Ví dụ, độc tố này
gây hại cho chuột thì độc tố này hoàn toàn có thể gây hại cho người
6. Cấu trúc logic của một chuyên khảo khoa học
Bất kỳ một chuyên khảo khoa học nào dù ngắn một vài trang đến tác phẩm
khoa học hàng trăm trang, xét về cấu trúc logic, cũng đều có ba bộ phận hợp thành:
luận đề, luận cứ, luận chứng. Nắm vững cấu trúc này sẽ giúp người nghiên cứu đi
sâu bản chất logic không chỉ của phương pháp luận nghiên cứu khoa học, mà còn có
ý nghĩa đối với hàng loạt hoạt động khác, như giảng bài, thuyết trình, tranh luận,
điều tra, luận tội, bào chữa hoặc đàm phán với các đối tác khác nhau.
6.1. Luận đề
Luận đề là điều cần chứng minh trong một chuyên khảo khoa học. Luận đề
trả lời câu hỏi: "Cần chứng minh điều gì?". Về mặt logic học, luận đề là một phán
đoán mà tính chân xác của nó cần được chứng minh. Ví dụ, khi phát hiện tia lạ (tia
phóng xạ) trong một thí nghiệm hóa học, Marie Curie đã phán đoán rằng: "Có lẽ
nguyên tố phát ra tia lạ là một nguyên tố chưa được biết đến trong bảng tuần hoàn
Menđeleev". Đó là một luận đề mà sau này Marie Curie phải chứng minh.
6.2. Luận cứ
Luận cứ là bằng chứng được đưa ra để chứng minh luận đề. Luận cứ được
xây dựng từ những thông tin thu được nhờ đọc tài liệu, quan sát hoặc thực nghiệm.
Luận cứ trả lời câu hỏi: "Chứng minh bằng cái gì?". Về mặt logic, luận cứ là phán
đoán mà tính chân xác đã được công nhận và được sử dụng làm tiền đề để chứng
minh luận đề. Trong nghiên cứu khoa học có hai loại luận cứ: luận cứ lý thuyết và
cứu. Khi phát hiện được vấn đề, người nghiên cứu sẽ đưa ra được câu trả lời, nghĩa
là có thể xác định được phương hướng nghiên cứu.
Bước 2: Xây dựng giả thuyết khoa học, tức là xây dựng luận đề nghiên cứu,
nêu ra những nhận định sơ bộ về bản chất sự vật. Quá trình nghiên cứu chính là quá
trình tìm kiếm luận cứ để chứng minh hoặc bác bỏ luận đề.
Bước 3: Lập phương án thu thập thông tin, lên phương án chọn mẫu khảo
sát, dự kiến tiến độ, phương tiện và phương pháp. Đây chính là quá trình xác định
luận chứng của nghiên cứu.
Bước 4: Xây dựng cơ sở lý luận, tức luận cứ lý thuyết của nghiên cứu. Khi
xác định được luận cứ lý thuyết, người nghiên cứu biết được những bộ môn khoa
học nào cần được vận dụng để làm chỗ dựa cho công trình nghiên cứu.
Bước 5: Thu thập dữ liệu nhằm hình thành các luận cứ thực tiễn của nghiên
cứu. Dữ liệu cần thu thập bao gồm các thông tin định tính và định lượng.
Bước 6: Phân tích và bàn luận kết quả xử lý thông tin, tức kết quả nghiên
cứu; đánh giá mặt mạnh, mặt yếu trong kết quả thu thập và xử lý thông tin; chỉ ra
những sai lệch trong quan sát và thực nghiệm, đánh giá ảnh hưởng của những sai
lệch ấy, mức độ có thể chấp nhận trong kết quả nghiên cứu.
Bước 7: Tổng hợp kết quả (kết luận) và khuyến nghị. Phần này là kết quả
12
cuối cùng của nghiên cứu, bao gồm bốn nội dung:
- Tổng hợp để đưa ra bức tranh khái quát nhất về kết qủa nghiên cứu.
- Kết luận mặt mạnh và mặt yếu, những việc làm được và những việc chưa
làm được.
- Khuyến nghị về khả năng áp dụng.
- Khuyến nghị về việc tiếp tục nghiên cứu hoặc kết thúc sự quan tâm tới vấn
đề này.
III. VẤN ĐỀ KHOA HỌC VÀ GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
1. Vấn đề khoa học
điều gì?". Như vậy, thực chất việc phát hiện vấn đề khoa học chính là đưa ra được
những câu hỏi để làm cơ sở cho việc tìm kiếm câu trả lời nhờ những hoạt động
nghiên cứu tiếp sau đó. Có thể sử dụng những phương pháp sau đây để phát hiện vấn
đề khoa học.
Hình 1: Các tình huống của vấn đề khoa học
+ Phát hiện mặt mạnh, mặt yếu trong nghiên cứu của đồng nghiệp
Phương pháp phát hiện mặt mạnh, mặt yếu trong công trình nghiên cứu của
đồng nghiệp là phân tích theo cấu trúc logic. Kết quả phân tích được sử dụng như
sau: Mặt mạnh trong luận đề, luận cứ, luận chứng của đồng nghiệp sẽ được sử dụng
làm luận cứ hoặc luận chứng để chứng minh luận đề; còn mặt yếu được sử dụng để
phát hiện vấn đề, từ đó xây dựng luận đề cho nghiên cứu của mình.
+Nhận dạng những bất đồng trong tranh luận khoa học
Khi hai đồng nghiệp bất đồng ý kiến, có thể là họ đã nhận ra những mặt yếu
của nhau. Đây là cơ hội thuận lợi để người nghiên cứu nhận dạng những vấn đề mà
các đồng nghiệp đã phát hiện.
+ Suy nghĩ ngược lại quan niệm thông thường
Về mặt logic học, đây chính là sự tìm kiếm một khái niệm đối lập với khái
niệm đang tồn tại. Ví dụ, trong khi nhiều người cho rằng trẻ em suy dinh dưỡng là
thành phố New York: "Cái ông Edison làm ra được đèn điện mà không làm được
cái xe điện cho người già đi đây đi đó".
+ Những vấn đề xuất hiện bất chợt không phụ thuộc lý do nào
Đây là những vấn đề xuất hiện trong đầu người nghiên cứu do bất chợt quan
sát được một sự kiện nào đó, hoặc cũng có thể xuất hiện một cách ngẫu nhiên,
không phụ thuộc bất kỳ lý do, thời gian hoặc không gian nào.
2. Giả thuyết khoa học
2.1. Khái niệm: Giả thuyết khoa học ( scientific hypothesis ), còn gọi là giả thuyết
nghiên cứu ( research hypothesis ) là một kết luận giả định, do người nghiên cứu
đặt ra, hoàn toàn tuỳ thuộc vào nhận thức chủ quan của người nghiên cứu. Thực
chất đó là một sự phỏng đoán, một sự khẳng định tạm thời, một nhận định sơ bộ
chưa được xác nhận bằng các luận cứ và luận chứng .
Giả thuyết khoa học bao giờ cũng được hình thành trên cơ sở nhìn lại quá
khứ, phân tích dĩ vãng qua những sự kiện mà các học thuyết đương thời không giải
thích được. Từ đó người nghiên cứu phát hiện ra những xu hướng phát triển của đối
tượng nghiên cứu, ngoại suy ra triển vọng phát triển tương lai. Giả thuyết không chỉ
phản ánh cái đã biết mà còn chứa đựng cái chưa biết tạo thành mâu thuận với tri
thức hiện có hoặc phản ánh những đối tượng chưa được nghiên cứu .
Trong quá trình nghiên cứu có thể công nhận, điều chỉnh, bổ sung hoặc bác
bỏ giả thuyết .
Để có được giả thuyết khoa học, người nghiên cứu phải vận dụng vốn kinh
nghiệm, văn hoá, trí thông minh và tinh thần sáng tạo của mình nhằm cụ thể hoá
quan điểm, cách tiếp cận để nghiên cứu những con đường, cách thức dẫn đến những
giải pháp giả định để trả lời cho những câu hỏi - bài toán của đề tài nghiên cứu.
2.2. Những thuộc tính cơ bản của giả thuyết
- Tính giả định: giả thuyết là một nhận định sơ bộ chưa được xác nhận bằng
các luận cứ. Trong quá trình nghiên cứu, giả thuyết có thể được điều chỉnh, bổ sung
hoặc bác bỏ.
- Tính đa phương án: Trước một vấn đề nghiên cứu không bao giờ chỉ tồn tại
- Giả thuyết khoa học là công cụ phương pháp luận quan trọng, chủ yếu để tổ
chức quá trình nghiên cứu khoa học .
- Đặt giả thuyết cần phải xem là công việc quan trọng nhất của nghiên cứu
khoa học. Thiếu thao tác lôgic này thì không có nghiên cứu khoa học. Claude
Bernard - nhà sinh lý học nổi tiếng người Pháp cho rằng : “ Giả thuyết là khởi điểm
của mọi nghiên cứu khoa học, không có khoa học nào mà lại không có giả thuyết ” .
- Một giả thuyết được đặt ra với đúng bản chất sự vật hoặc hiện tượng, phù
hợp với quy luật vận động của chúng. Song giả thuyết được đặt ra có thể sai, không
16
phù hợp và bị bác bỏ hoàn toàn sau khi kiểm chứng. D.I .Mendeleev đã viết: “Có
một giả thuyết sai, vẫn còn hơn không có giả thuyết nào cả ” .
2.5. Phân loại giả thuyết khoa học
Phân loại giả thuyết là sự phân chia giả thuyết thành những giả thuyết có nội
hàm hẹp hơn.
2.5.1. Phân loại theo chức năng của nghiên cứu khoa học .
Theo chức năng của nghiên cứu khoa học, giả thuyết được phân chia thành:
giả thuyết mô tả, giả thuyết giải thích, giả thuyết dự báo, giả thuyết giải pháp.
- Giả thuyết mô tả: áp dụng trong nghiên cứu mô tả, là giả thuyết về trạng
thái của sử vật, hiện tượng
Ví dụ: giả thuyết của Archimède được chứng minh và đã trở thành định luật nổi
tiếng về sức nâng của nước: “ Một vật nhúng vào chất lỏng hoặc khí sẽ bị chất lỏng
(hoặc khí ) đẩy từ dưới lên trên với một lực có độ lớn bằng trọng lượng khối chất
lỏng(hoặc khí) bị vật chiếm chỗ ” .
- Giả thuyết giải thích: áp dụng trong nghiên cứu, giải thích, là giả thuyết về
nguyên nhân dẫn đến trạng thái sự vật hiện tượng mà người nghiên cứu quan tâm
đến. Ví dụ: Giả thuyết của Newton về “ nguyên nhân quả táo rơi từ trên cây xuống
đất là do áp lực hấp dẫn ( lực hút ) giữa trái đất và quả táo. Vì khối lượng trái đất
lớn gấp nhiều lần khối lượng quả táo, nên lực hút cuả trái đất thắng lực hút của quả
+ Giả thuyết hình mẫu: Giả thuyết hình mẫu là giả thuyết được đặt ra trong hoạt
động nghiên cứu triển khai. Chẳng hạn: trong nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, công
nghệ, người nghiên cứu có thể đặt giả thuyết chế tạo một mẫu công nghệ mới, mẫu
vật liệu mới hoặc mẫu sản phẩm mới; thử nghiệm một mô hình quản lý mới .
2.6. Mối quan hệ giữ gỉa thuyết và vấn đề khoa học
Phát hiện được vấn đề trong khoa học tức là đặt ra được câu hỏi cần phải trả
lời trong nghiên cứu. Câu trả lời trong nghiên cứu chính là điều mà người nghiên
cứu cần chứng minh. Sau khi đã phát hiện được vấn đề nghiên cứu, công việc
nghiên cứu có
thể diễn ra theo một trật tự như sau:
Khi phát hiện được vấn đề, thì người nghiên cứu có được các ý định về các
phương án trả lời câu hỏi. Đó chính là ý tưởng khoa học. Ý tưởng khoa học là một
loại phán đoán mang tính trực cảm, chưa có đầy đủ luận cứ.
Nhờ ý tưởng khoa học, người nghiên cứu có thể tiếp tục qúa trình quan sát
hoặc thực nghiệm để đưa ra những nhận định có luận cứ khoa học hơn. Giả thuyết
là sự trả lời sơ bộ vào câu hỏi đã đặt ra và cần tiếp tục chứng minh.
Sơ đồ mối liên hệ giữa vấn đề khoa học với quá trình xuất hiện những ý
tưởng khoa học và giả thuyết khoa học được trình bày trên hình 2.
Hình 2. Liên hệ từ vấn đề khoa học qua ý tưởng khoa học đến giả thuyết khoa học
2.7. Các thao tác logic để đưa ra một giả thuyết
Giả thuyết được đưa ra phải tuân theo các yêu cầu :
Vấn đề
khoa học
Giả thuyết
khoa học
Ý tưởng khoa học
Luận nhiều đoạn là suy luận có nhiều tiền đề, có thể được chuyển hoá thành
luận ba đoạn để dễ dàng thực hiện .
2.7.2. Suy luận quy nạp
Là hình thức suy luận đi từ cái riêng đến cái chung, từ cái cụ thể đến cái trừu
tượng, khái quát. Có hai loại :
- Suy luận quy nạp hoàn toàn đi từ tất cả cái riêng đến cái chung. Là phép
suy luận quy nạp mà kết luận được khẳng định khi đã nghiên cứu tất cả các trường
19
hợp của lớp đối tượng. Tuy nhiên, suy luận quy nạp hoàn toàn chỉ có thể thực hiện
được khi đối tượng nghiên cứu là một tập hợp nhỏ .
- Suy luận quy nạp không hoàn toàn đi từ một số cái riêng đến cái chung.
Là phép suy luận quy nạp mà kết luận được đưa ra chỉ mới dựa vào đa số các
trường hợp của một lớp đối tượng nghiên cứu.
Ví dụ: Chỉ với thí nghiệm cho 25 con cừu được nhiễm khuẩn yếu (quy nạp không
hoàn toàn ), Louis Pasteur đã chứng minh giả thuyết của mình “ nếu cho con vật
nhiễm khuẩn yếu, thì nó có khả năng miễn dịch đối với loại bệnh do chính loại vi
khuẩn đó gây ra ”, dẫn đến những thành tựu nổi tiếng trong nghiên cứu Vacxin .
2.7.3. Loại suy
Là hình thức suy luận đi từ riêng đến riêng, là hình thức suy luận phổ biến
được sử dụng trong những nghiên cứu cần thí nghiệm trên các mô hình tương tự.
Chẳng hạn: Trong y học, cần những thí nghiệm không thể thực hiện trên cơ thể con
người mà phải dùng các con vật thay thế ( độc tố A gây hại cho chuột thì độc tố này
hoàn toàn có thể gây hại cho con người )
Nghiên cứu những đối tượng, những công trình có quy mô lớn hoặc môi
trường nghiên cứu có nhiều nguy hiểm, độc hại thì cần thiết phải nghiên cứu, thí
nghiệm trên các mô hình tương tự
2.8. Kiểm chứng giả thuyết
Nội dung của việc kiểm chứng giả thuyết chính là chứng minh (để khẳng
+ Luận chứng không được vi phạm nguyên tắc suy luận:
- Không được chứng minh vòng quanh: chứng minh tính chân xác của luận
cứ bởi tính chân xác của luận đề, rồi lại chưng minh tính chân xác của luận đề bởi
tính
chân xác của luận cứ.
- Luận chứng phải nhất quán, không thể tồn tại một phép chứng minh dẫn tới
hai phán đoán có giá trị lôgic loại trừ nhau .
Phương pháp chứng minh: Chứng minh giả thuyết được thực hiện bằng hai
cách: chứng minh trực tiếp và chứng minh gián tiếp .
+ Chứng minh trực tiếp là phép chứng minh dựa vào các luận chứng chân thực và
bằng các quy tắc suy luận để rút ra luận đề. Nghĩa là tính chân xác của giả thuyết
được rút ra một cách trực tiếp từ tính chân xác của tất cả các luận cứ: luận đề đúng,
luận cứ đúng luận chứng đúng.
+ Chứng minh gián tiếp là phép chứng minh trong đó tính chân xác của luận đề
được chứng minh bằng tính phi chân xác của phản luận đề. Nghĩa là khẳng định
phản luận đề là giả dối và từ đó rút ra luận đề chân thực .
Chứng minh gián tiếp được chia thành hai loại: chứng minh phản chứng và
chứng minh phân liệt :
- Chứng minh phản chứng là phép chứng minh, trong đó tính chân xác của
giả thuyết được chứng minh tính phi chân xác của phản luật đề tức là giả thuyết đặt
ngược lại với giả thuyết ban đầu .
- Chứng minh phân liệt là phép chứng minh gián tiếp dựa trên cơ sở loại bỏ
một số luận cứ này để khẳng định những luận cứ khác. Do vậy, chứng minh phân
21
liệt còn được gọi là chứng minh bằng phương pháp loại trừ, nó có nhiều sức thuyết
phục trong khoa học xã hội .
2.8.2. Bác bỏ giả thuyết
Bác bỏ là một hình thức chứng minh nhằm chỉ rõ tính phi chân xác của một
- Phát hiện (discovery): là sự khám phá ra những vật thể, những quy luật xã
hội đang tồn tại một cách khách quan.
22
Ví dụ : Kock phát hiện vi trùng lao, Glileo phát hiện các vệ tinh của sao hỏa,
Christoph Colomb phát hiện châu Mỹ
Phát hiện chỉ mới là sự khám phá các vật thể, các quy luật xã hội làm thay
đổi nhận thức, chưa thể áp dụng trực tiếp, chỉ có thể áp dụng thông qua các giải
pháp. Vì vậy, phát hiện không có giá trị thương mại, không cấp bằng và không được
bảo hộ pháp lý .
- Phát minh ( discovery): là sự khám phá ra những quy luật, những tính chất
hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước
đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức con người .
Ví dụ : Newton phát minh định luật vạn vật hấp dẫn trong vũ trụ; Lêbêdev phát
minh tính chất áp suất của ánh sáng; Nguyễn Văn Hiệu phát minh quy luật bất biến
kích thước của thiết diện các quá trình sinh hạt, .v.v .
Đối tượng của phát minh là những hiện tượng, tính chất, quy luật của thế giới
vật chất đang tồn tại một cách khách quan. Nhưng theo quy ước thì những đối
tượng sau đây không được xem là phát minh mà chỉ xem là các phát hiện hoặc phát
kiến: phát hiện về địa lý tự nhiên, địa chất, tài nguyên và điều kiện thiên nhiên, phát
hiện khảo cổ học, phát hiện trong khoa học xã hội
Phát minh cũng chỉ là những khám phá về các quy luật khách quan, chưa có
ý nghĩa áp dụng trực tiếp vào sản xuất hoặc đời sống. Vì vậy, phát minh không có
giá trị thương mại, không được cấp bằng phát minh và không được bảo hộ pháp lý.
Tuy nhiên, người ta lại công nhận quyền ưu tiên của phát minh tính từ ngày phát
minh được công bố .
Xét trên góc độ ý tưởng và mục đích nghiên cứu có thể chia nghiên cứu cơ
bản thành hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cơ bản định hướng.
1.1. Nghiên cứu cơ bản thuần túy
công nghệ mới, nguyên lý sản phẩm mới và nguyên lý dịch vụ mới và áp dụng
chúng vào sản xuất và đời sống .
Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng có thể là những giải pháp mới về tổ
chức, quản lý, công nghệ, vật liệu, sản phẩm. Một số giải pháp hữu ích về công
nghệ có thể trở thành sáng chế. Sáng chế là loại thành tựu trong khoa học, kỹ thuật
và công nghệ, trong khoa học xã hội và nhân văn không có sản phẩm loại này .
Sáng chế ( invention): Sáng chế là một giải pháp kỹ thuật mang tính mới về
nguyên lý kỹ thuật, tính sáng tạo và áp dụng được.
Ví du: Máy hơi nước của James Wart, công thức thuốc nổ TNT của Nobel, công
nghệ di truyền là những sáng chế .
Vì sáng chế có khả năng áp dụng, nên có ý nghĩa thương mại, được cấp bằng
Sáng chế (patent), có thể mua bán patent hoặc ký kết các hợp đồng (licence) cấp
giấy phép sử dụng cho người có nhu cầu và được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
Việc nghiên cứu ứng dụng là một tất yếu trong hoạt động nghiên cứu khoa
học và nó gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu cơ bản. Kết quả của nghiên cứu ứng dụng
là sự cụ thể hóa kết quả nghiên cứu cơ bản vào trong các lĩnh vực sản xuất vào trong
đời sống.
3. Nghiên cứu triển khai ( developmental research ).
Nghiên cứu triển khai là hoạt động nghiên cứu vận dụng các quy luật (thu
được từ nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý công nghệ hoặc nguyên lý vật liệu(
thu được từ nghiên cứu ứng dụng ) để đưa ra những hình mẫu về một phương diện
24
kỹ thuật mới, sản phẩm mới, dịch vụ mới với những tham số đủ mang tính khả thi
về mặt kỹ thuật.
Điều cần lưu ý là kết qủa của nghiên cứu triển khai thì chưa triển khai được.
Sản phẩm của nghiên cứu triển khai mới chỉ là những hình mẫu có tính khả thi
(không còn rủi ro) về mặt kỹ thuật. Để áp dụng được còn phải nghiên cứu những
tính khả thi khác như: khả thi về tài chính, khả thi về mặt kinh tế, khả thi về môi