BÀI GIẢNG PHẦN BỆNH SẢN KHOA potx - Pdf 21

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I HÀ NỘI
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
BỘ MÔN NGOẠI SẢN
≡≡≡ ϑ ≡≡≡
BÀI GIẢNG
PHẦN BỆNH SẢN KHOA
(Dùng cho sinh viên chuyên ngành Thú y các trường Đại học Nông nghiệp)
TS. NGUYỄN VĂN THANH
Trưởng Bộ môn Ngoại -Sản
Khoa CNTY- ĐHNNI
HÀ NỘI, THÁNG 10 - 2003

1
A. MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP TRONG THỜI GIAN
GIA SÚC MANG THAI
BỆNH BẠI LIỆT TRƯỚC KHI ĐẺ ( Praplegia Gravidarum)
Khái niệm về bệnh: Bại liệt trước khi đẻ là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở
gia súc cái sinh sản trong thời gian mang thai. Đặc điểm của bệnh là gây ra hiện
tượng con vật mất khả năng vận động chỉ nằm bẹp một chỗ
Nguyên nhân gây bệnh: Nguyên nhân chính gây ra bệnh đó là sự thiếu hụt khoáng
đặc biệt là canxi và phôt pho, hiện tượng này xảy ra khi:
+ Do khẩu phần thức ăn thiếu khoáng can xi và phốt pho
+ Do gia súc mẹ bị nuôi nhốt lâu ngày trong chuồng ít được tiếp xúc với ánh sáng
mặt trời ảnh hưởng tới quá trình
Ánh sáng mắt trời
7Dehydrocolesterol Vitamin D3
(tiền vi ta min D3 có sẵn ở trên da của động vật)
Chính vitamin D3 là chất xúc tác cho quá trình hấp thu Can xi và Phôt pho, thiếu
Vitamin D3 thì quá trình hấp thu Ca và P bị cản trở
+ Do tỷ lệ Ca và P không hợp lý hàm lượng P quá cao
+ Do giá súc mẹ bị viêm ruột do đó không hấp thu đuợc Ca và P bởi vì Ca và P chủ

phương pháp điều trị giống nhau nhưng riêng đối với bệnh bại liệt sau khi đẻ có thể
dùng Strchline để điều trị
BỆNH XUẤT HUYẾT TỬ CUNG (Heamatometra)
1. Khaí niệm về bệnh
Bệnh xuất huyết tử cung là bệnh sảy ra trong thời gian gia súc cái mang thai với đặc
điểm có hiện tượng máu chảy từ cơ quan sinh dục ra ngoài.
2. Nguyên nhân
+ Do gia súc bị ngã đột ngột, bị trượt ngã, sụt hầm, sụt hố, do phối giống nhầm khi
gia súc dã có thai
+ Do các nguyên nhân làm cho cơ thành bụng, cơ tử cung căng lên quá mức
Tất cả các nguyên nhân trên làm tổn thuơng hệ thống mạch máu giữa nhau mẹ và
nhau con dẫn đến xuất huyết tử cung
3. Triệu chứng
Triệu chứng chủ yếu của bệnh là có máu chảy từ cơ quan sinh dục ra ngoài, máu đã
mất mầu đỏ và thường có mầu nâu và đã có những cục máu đông, các niêm mạc mắt
3
miệng, mũi nhợt nhạt trắng bệch, con vật run rẩy co ro đứng không vững sức lực
giảm sút nhanh
4. Điều trị
+ Hộ lý: để con vật vào nơi yên tĩnh ở tư thế đầu thấp đuôi cao nhằm giảm áp lực
xoang chậu, đắp nước lạnh vào vùng hông khum
+ Sử dụng các laọi thuốc sau:
-Tiêm vitamin K 3-5 ml cho gia súc nhỏ 5-8ml cho gia súc lớn
- Adrenaline 0,1% 0,5 ml cho gia súc nhỏ 3-5ml cho gia súc lớn
- Truyền tĩnh mạch nước muối sinh lý 0,9% hay đường Glucoza 5% tuỳ theo trọng
lượng cơ thể có thể truyền từ 50 – 500ml
- Cần chú ý tiêm thuốc trợ tim như Cafe in hay Spartein cho vật bệnh
BỆNH RẶN ĐẺ QUÁ SỚM (động thai)
1. Khái niệm về bệnh
Rặn đẻ quá sớm là bệnh sảy ra trong thời gian gia súc cái mang thai với đặc

- Ngoài ra có thể dùng dễ cây gai sắc lên cho vật uống
BỆNH ÂM ĐẠO LỘN RA NGOÀI
(Prolapsus Vaginae)
1. Khái niệm về bệnh
Âm đạo lộn ra ngoài là bệnh thường sảy ra trong thời gian gia súc cái mang thai với
đặc điểm là thành của âm đạo bị lộn trái trở lạivà đẩy ra khỏi mép âm môn tùy vào
mức độ âm đạo lộn ra ngoài mà người ta chia ra 2 thể
+ Âm đạo lộn ra ngoài thể không hoàn toàn (Prolapsus Vaginae partialis) có nghĩa là
chỉ một phần âm đạo bị lộn trái trở lại và đẩy ra khỏi mép âm môn
+ Âm đạo lộn ra ngoài thể không hoàn toàn (Prolapsus Vaginae Totallis) có nghĩa là
toàn bộ âm đạo bị lộn trái trở lại và đẩy ra khỏi mép âm môn
2. Nguyên nhân
+ Nuôi con vật lâu trong chuồng mà nền chuồng quá thấp về phía đuôi nên tử cung
và thai đè mạnh lên âm đạo
+ Do chế độ chăm sóc nuôi dưỡng gia súc có thai không hợp lý đặc biệt khẩu phần
thức ăn không đầy đủ thiếu vitamin đặc biệt là vitamin nhóm B, do con vật đã già
yếu và những yếu tố khác làm cho sức khoẻ con vật bị giảm sút
5
+ Bào thai quá to với gia súc đơn thai và quá nhiều thai với gia súc đa thai, áp lực
xoang bụng xoang chậu quá cao nhất là khi vật nằm lâu trên nền chuồng quá thấp về
phía đuôi
+ Do vật đã đẻ quá nhiều lứa nên chức năng giữ âm đạo ở vị chí bình thường của cơ
âm đạo và hệ thống dây chằng bị giảm sút
+ Do kế phát từ một số bệnh khác như táo bón, ỉa chảy, chưóng hơi, bội thực da cỏ,
viêm dạ dày và ruột cấp tính làm gia súc rặn mạnh cơ quan sinh dục co bóp tạo
điều kiện cho âm đạo lộn ra ngoài
3. Triệu chứng
+ Thể âm đạo lộn ra ngoài thể không hoàn toàn (Prolapsus Vaginae Partialis) Phần
âm đạo lộn ra ngoài mầu hồng hình quả nê to bằng nắm tay, bộ phận này chỉ nhìn
thấy khi con vật nằm xuống, còn khi con vật đứng lên và vận động thì phần âm đạo

tượng sảy thai. Bào thai bị đẩy ra khỏi cơ thể khi cũn sống hay đó chết. Thỉnh
thoảng gặp trường hợp bào thai bị tiêu biến đi hoặc bào thai bị chết và lưu lại ngay
trong tử cung tử cung cơ thể mẹ
2. Phân loại hiện tượng sảy thai
a. Căn cứ vào thời gian sảy ra bệnh
1. Sảy thai: hiện tượng này sảy ra vào thời kỳ có thai kỳ 1 hay kỳ 2
2. Đẻ non: hiện tượng này sảy ra vào thời kỳ có thai kỳ 3
b. Căn cứ vào nguyên nhân sảy ra bệnh
1. Loại sảy thai cú tớnh chất truyền nhiễm: là lọại sảy thai cú tớnh chất lõy
lan,nguyờn nhõn là do vi trựng hay siờu vi trựng hoặc ký sinh trựng gõy ra thớ
dụ Brucelosis, Vibriois, Tricomonas
2. Loại sảy thai khụng cú tớnh chất truyền nhiễm: là loại sảy thai khụng lõy lan
mà chỉ sảy ra cú tớnh chất cỏ thể
+ Sảy thai do dinh dưỡng: chủ yếu do chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý,
khai thỏc và sử dụng gia sỳc cú thai không hợp lý, khẩu phần thức ăn thiếu dinh
dưỡng đặc biệt là thiếu vitamin A, B. D hay do chế độ sử dụng gia súc quá sức
làm giảm sức đề kháng của gia súc mẹ, làm rối loạn mối liên hệ giữa nhau mẹ
và nhau con gây hiện tưộng sảy thai
7
+ Sảy thai do tổn thương: do các tác động cơ giới, gia súc bị húc vào bụng, bị đá
vào bụng, bị trượt ngó ở lợn do tranh nhau máng ăn, máng uống, bị dồn
chuồng Tất cả các nguyên nhân gây hiện tượng vỡ mạch máu ở thành tử cung,
màng thai gây những phản xạ co bóp đột ngột của tử cung dẫn tới hiện tượng sảy
thai
+ Sảy thai do gia sỳc mẹ bị bệnh: tất cả cỏc quỏ trỡnh bệnh lý sảy ra ở cơ thể nói
chung hay ở cục bộ cơ quan sinh dục nói riêng đều có thể là nguyên nhân gây sảy
thai ví dụ
- Bệnh ở hệ tim mạch gây rối loạn tuần hoàn giữa nhau thai và bào thai làm bào thai
bị thiếu dinh dưỡng
- Bệnh ở hệ hụ hấp làm bào thai bị thiếu oxy

phân hủy các phần mềm của thai làm cho thai bị nhũn nát và tạo ra hỗn dịch mầu
nâu lẫn mủ luôn được thải ra từ cơ quan sinh dục. Khám qua trực tràng có thể
phát hiện được những tiếng lủng củng do sự va đập của các cục xương
8. Thai bị chướng to và thối rữa: bào thi bị chết cổ tử cung mở vi khuẩn xõm nhập
phõn hủy cỏc phần mềm của thai tạo ra một tập đoàn khí H2, NH3. H2S, CO2
chúng tập trung lại ở dưới da của bào thai làm cho bào thai chướng to lên thành
tử cung dón căng ra và mất đàn tính. Kiểm tra qua trực tràng phát hiện thấy thành
tử cung căng ra ôm chặt lấy bào thai đó chướng to và thối rữa, các sản phẩm
phân giải thông qua hệ thống mạch quản vào hệ thống tuần hoàn gây ra hiện
tượng huyết nhiễm độc hay huyết nhiễm trùng ở gia súc mẹ
B. MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP TRONG THỜI GIAN GIA SÚC SINH ĐẺ
BỆNH RẶN ĐẺ QUÁ YẾU (Hypodynamia Utery)
1. Khái niệm về bệnh
9
Bệnh rặn đẻ quá yếu là quá trình bệnh lý thường sảy ra trong thời gian gia súc sinh
đẻ với đặc điểm là những cơn co bóp của tử cung, cơn rặn của con mẹ quá yếu
không đủ cường độ để đẩy bào thai ra ngoài
2. Nguyên nhân
+ Bào thai quá to, dịch thai quá nhiều hay quá nhiều thai làm tử cung bị rãn quá độ
dẫn đến mất đàn tính không co bóp được
+ Do chế độ chăm sóc nuôi dưỡng gia súc trong thời gian có thai kém làm cho con
mẹ bị suy dinh dưỡng, sức lực yếu không đủ sức rặn
+ Do lượng hormone kích đẻ Oxytocine của cơ thể tiết ra quá ít không đủ làm cho tử
cung co bóp đủ cường độ đẩy bào thai ra ngoài
+ Do chiều hướng tư thế của thai không bình thường
3. Triệu chứng
+ Có thể ngay từ đầu và suốt trong quá trình sinh đẻ con mẹ đều rặn yếu, các cơn rặn
thưa thớt, khoảng cách giữa 2 lần rặn dài, thời gian sổ thai kéo dài bào thai không
được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ( rặn đẻ quá yếu thể nguyên phát)
+ Với trường hợp rặn đẻ quá yếu do tư thế chiều hướng của bào thai không bình

4. Điều trị
+ Cố đinh gia súc ở nơi yên tĩnh ở tư thế đầu thấp đuôi cao nhằm giảm áp
lực xoang chậu
+ Giảm và ức chế hiện tượng co bóp của tử cung:
- Với ngựa cho uống Chloralhydrat 25-30gr, trâu bò cho uống rượu trắng
300 - 500ml
- Gây tê lõm khum đuôi bằng Novocain 3 %
BỆNH SÁT NHAU (Retensio Placentae)
1. Khaí niệm về bệnh
Trong quá trình sinh đẻ bình thường sau khi sổ thai một thời gian nhất
định phụ thuộc vào từng loài gia súc ngựa 20-60 phút, bò 2-4 giờ thường
không quá 12 giờ, lợn 10-60 phút, dê cừu 30 phút đến 2 giờ nhau thai sẽ
được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ, qua thời gian kể trên mà nhau thai không
được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ thì gọi là bệnh sát nhau
Tùy vào mức độ của bệnh người ta phân ra các thể sau:
+ Thể sát nhau hoàn toàn: toàn bộ hệ thống nhau thai con còn dính với
niêm mạc tử cung cơ thể mẹ
11
+ Thể sát nhau không hoàn toàn: phía sừng tử cung không chứa bào thai
ở gia súc đơn thai và phía ừng tử cung chứa ít bào thai ổ gia súc đa thai
nhau thai con đã tách khỏi niêm mạc tử cung, phía còn lại nhau thai con
còn dính chặt với niêm mạc tử cung cơ thể mẹ
+ Thể sát nhau từng phần: Một phần của màng nhung và một số ít núm
nhau con còn dính với niêm mạc tử cung, còn đa phần mang thai đã tách
khỏi niêm mạc tử cung cở thể mẹ
2. Nguyên nhân
+ Sau khi sổ thai sức rặn của con mẹ quá yếu cơ tử cung co bóp quá yếu
không đủ sức đẩy nhau thai ra ngoài trường hợp này sảy ra khi trong thời
gian có thai gia súc mẹ ít được vận động, thức ăn không đầy đủ, thai quá
to với động vật đơn thai hoặc quá nhiều thai với động vật đa thai, dịch

- Hộ lý: cố định gia súc ở nơi sạch sẽ thoáng mát, rửa sạch bộ phận sinh dục bên
ngoài bằng dung dịch sát trùng nhe, thụt nước muối ấm 3% 2-3 lít vào tử cung nhằm
kích thích sự tách rời giữa núm nhau con và núm nhau mẹ
- Một tay nắm cuống nhau kéo nhẹ, tay còn lại đưa trực tiếp vào tử cung tìm núm
nhau mẹ, ngón tay trỏ và ngón giữa cố định núm nhau mẹ, ngón cái xoa nhẹ trên bề
mặt núm nhau mẹ lật núm nhau con ra, tiến hành bóc từ ngoài vào trong, từ rên
xuống dưới, bóc xong tiến hành thụt rửa tử cung bằng dung dịch sát trùng, sau khi
thụt rửa cần kích thích cho dung dịch sát trùng ra ngoài hết và đưa kháng sinh
Streptomycine, Penicilline, Neomycin, Tetramycine vào tử cung
# Chú ý : Khi tiến hành bóc nhau phải hết sức cẩn thận tránh bóc nhầm núm nhau
mẹ
+ Phân biệt núm nhau mẹ và núm nhau con
- Núm nhau mẹ: Mọc từ niêm mạc tử cung dày có chân đế (có thể kẹp tay được)
-Núm nhau con: Mọc từ màng thai, mỏng không kẹp tay được
+ Phân biệt chỗ bóc rồi và chỗ chưa bóc
- Chỗ bóc rồi sở thấy bề mặt núm nhau mẹ cảm giác nháp như sờ vào râu
- Chỗ chưa bóc sở thấy màng ối có cảm giác nhẵn bóng
C. BỆNH TRONG THỜI GIAN SAU KHI ĐẺ
BỆNH VIÊM TỬ CUNG (METRITIS)
13
1. Khái niệm về bệnh: Đây là quá trình bệnh lý thường sảy ra ở gia súc cái sinh
sản. Bệnh thường sảy ra trong thời gian sau khi đẻ. Đặc điểm của bệnh là quá trình
viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp ( các tầng) của tử cung gây ra hiện
tuợng rối loạn sinh sản ở cơ thể cái làm ảnh hưởng lớn thậm chí làm mất khả năng
sinh sản của gia súc cái
2. Nguyên nhân : + Do trong qúa trình sinh đẻ đặc biệt các trường hợp đẻ khó phải
can thiệp bằng tay hay dụng cụ làm xây xát niêm mạc đường sinh dục cái
+ Do kế phat từ một số bệnh như sát nhau không can thiệp kịp thời làm cho nhau
thai bị phân huỷ thối rữa trong tử cung gây hiện tượng nhiễm trùng tử cung
+ Do công tác vệ sinh trước, trong và sau khi đẻ không đảm bảo như nơi sinh, nền

- Mùi
Trắng, xám
Tanh
Hồng, nâu đỏ
Tanh thối
Nâu rỉ sắt
Thối khắm
Phản ứng đau Đau nhẹ Đau rõ Rất đau kèm Theo
Triệu chứng viêm
phúc mạc
Phản ứng co nhỏ của tử
cung
\Giảm nhẹ Yếu ớt Mất hẳn
Phương pháp điều trị 1 hoặc 2 3 hoặc 4 3 hoặc 4
4. Các phương pháp điều trị bệnh viêm tử cung
+ Phương pháp 1: Thụt rửa tử cung bằng dung dịch Rivanol 0,1% hay thuốc tím
0,1% ngày 1 lần sau khi thụt rửa đợi hay kích thích cho dung dịch thụt rửa đẩy ra hết
ra ngoài hết, dùng Neomycin 12mg/kg thể trọng thụt vào tử cung ngày 1 lần liệu
trình điều trị từ 3-5 ngày
+ Phương pháp 2: Dùng PGF2α hay các dẫn xuất của nó như Etrumat, Oestrophan,
Prosolvin, tiêm dưới da 2ml (25mg) tiêm 1 lần sau đó thụt vào tử cung 200ml dung
dịch Lugol thụt ngày 1 lần liệu trình điều trị từ 3-5 ngày
+ Phương pháp 3 : Oxyticin 6ml tiêm dưới da, Lugol 200ml, Neomycin 12mg/kg
thể trọng thụt tử cung, Ampenicilline 3-5gr tiêm bắp hay tĩnh mạch tai ngày 1 lần
liệu trình điều trị từ 3-5 ngày
+ Phương pháp 4: Dùng PGF2α hay các dẫn xuất của nó tiêm dưới da 2ml (25mg)
tiêm 1 lần, Lugol 200ml, Neomycin 12mg/kg thể trọng thụt vào tử cung,
Ampenicilline 3-5gr tiêm bắp hay tĩnh mạch tai ngày 1 lần liệu trình điều trị từ 3-5
ngày
Lưu ý: Phương pháp 1 chỉ dùng điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung tử cung còn

chức năng hoạt động của tuyến phó giáp trạng do tuyến này bị xung huyết trong thời
gian sinh đẻ
+ Cũng có những ý kiến cho rằng đó là do vỏ tuyến thượng thận hoạt động kém hay
do tuyến tụy hoạt động quá mạnh
16
3. Triệu chứng
Bệnh phát sinh một cách đột ngột và tiến triển một cách nhanh chóng từ khi xuất
hiện triệu chứng đầu tiên đến khi xuất hiện triệu chứng điển hình không quá 12 giờ.
Con vật đang hoạt động bình thường đột nhiên bỏ ăn, ngừng nhai lại, sau đó con vật
ở trong tình trạng không yên tĩnh, chân đi loạng choạng đi thụt lùi có hiện tượng
rung toàn bộ hệ thống cơ vân sau đó mất hoàn toàn nhu động dạ cỏ cũng như các
phản xạ đại tiểu tiện. Khám qua trực tràng thấy bàng quang sưng to chứa đầy nước
tiểu, nhiệt độ hạ dần xuống tới 35 - 36
o
C. đầu gốc sừng, gốc tai, da, tứ chi lạnh giá,
lưỡi và hầu bị liệt, nước bọt tích đầy trong miệng nên thở khò khè, con vật luôn thè
lưỡi ra ngoài và để nước rãi chảy tự do
Cuối cùng con vật bị liệt 2 chân sau không đứng lên được, con vật năm với tư thế
đặc biệt, nằm phủ phục đầu gục xuống đất 4 chân thu vào bụng khi cầm mõm nhấc
lên và bỏ ra thì đầu quẹo về một bên ngực hoạc nằm với tư thế đầu cổ vai và lưng
tạo thành đường cong chữ S. Con vật ở trong tình trạng hôn mê mất hết cảm giác
đồng tử mắt mở rộng rọi ánh ánh sáng vào mắt con vật không có phản xạ chớp mắt,
dùng kim chích vào da con vật không có phản xạ đau. Nếu không phát hiện và điều
rị kịp thời con vật sẽ chết trong vòng thời gian rất ngắn
4. Phương pháp điều trị
Phương pháp điều trị đặc hiệu bệnh này là bơm không khí vào trong tuyến vú bằng
bình song liên cầu thông qua lỗ đầu vú bằng kim thông vú theo trình tự như sau
Trước hết nhanh chóng vắt kiệt sữa rồi chọn kim thông vú thích hợp sau đó bơm
không khí vào tuyến vú bằng bình song liên cầu, bơm đến khi nào da lá vú căng lên
khi búng vào có âm kim khí là được cần chú ý là không bơm căng quá sẽ dẫn đến vỡ

+ Do đường sinh dục bị khô mà con vật lại rặn đẻ quá mạnh hay kéo thai quá nhanh
+ Do hậu quả của việc dùng thuốc kích đẻ không đúng chỉ định quá liều
+ Do kế phát từ bệnh bại liệt sau khi đẻ
3. Triệu chứng:
Phần tử cung lộn ra ngoài mầu hồng to bằng quả bóng, cái xô, mầu hồng ở loàI nhai
lại nhìn rõ hệ thống nhau mẹ trên niêm mạc tử cung đôi chỗ còn dính cả núm nhau
con,ở ngựa xuất hiện nhiều mao quản, ở lợn phần tử cung lộn ra ngoàI chông giống
như một khúc ruột già. Con mẹ tỏ vẻ đâu đớn rặn liên tục bộ phận tử cung lộn ra
ngoài ngày một to lên. Do sự cọ sát của đuôi và sự tiếp xúc với môi trường ngoại
cảnh bên ngoài bộ phận tử cung bị dính các chất bẩn như phân rác, nước, tiểu, đất
18
cát, niêm mạc tử cung bị sây sát, bị nhiễm khuẩn và bị viêm thể tích phần tử cung
lộn ra ngoài tăng cao và từ bộ phận tử cung lộn ra ngoài luôn thải ra ngoài một hỗn
dịch bao gồm niêm dịch dịch rỉ viêm và các tổ chức hoại tử, nếu để lâu không can
thiệp kịp thời sẽ dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng huyết, con vật lâm vào tình trạng
huyết nhiễm độc hay huyết nhiễm trùng và có thể tử vong trong vòng 4-5 ngày
4. Điều trị
+ Nguyên lý của việc điều trị bệnh tử cung ra ngoài là nhanh chóng đưa phần tử
cung lộn ra ngoài trở về vị trí cũ sau khi đã vô trùng cẩn thận và đề phòng tái phát
+ Hộ lý để vậy ở nơi yên tĩnh với tư thế đầu thấp đuôi cao, buộc đuôi con vật sang
một bên, riêng ở lợn cần thiết phảI treo ngược llợn để khi tiến hành thủ thuật dược
dễ dàng
+ Dùng các dung dịch sát trùng ở nồng độ thích hợp như thuốc tím 0,1%, Axít Boríc
3%, H2O2, NaCl 5%, Rivanol 0,1%, Tanin 1% rửa sạch bộ phận tử cung lộn ra
ngoài, ở loàI nhai lại phảI bóc hết những núm nhau con, sau đó tiến hành thắt
những mạch máu bị đứt, khâu những chố bị rách bị thủng rồi dùng các loại kháng
sinh dạng mỡ bôi lên phần âm đạo lộn ra ngoài rồi tiến hành dùng dầu thực vật sát
lên phần tử cung lộn ra ngoài sau đó dùng thủ thuật đưa phần tử cung lộn ra ngoài
trở về vị trí cũ cần chú ý khi làm thủ thuật phải hết sức thận trọng tránh làm xây sát
làm rách làm thủng niêm mạc tử cung

hay ít. 2 men trên là do quá trình phân huỷ tế bào tổ chức giải phóng ra. Trên cơ sở
phản ứng
Catalaza
2H2O2 peroydaza 2H2O + 2O
Do phản ứng giải phóng ra nguyên tử oxy nên trong sữa có bọt khí nổi lên tuỳ theo
mức độ tăng của 2 mên trên nhiều ít mà lượng bọt khí nổi lên nhiều ít khác nhau.
Người ta có thể sử dụng cá chất chỉ thị mầu để xác định sự có mặt của 2 men trên
các chất chỉ thị mầu thưoừng là
+ Pyramidon từ mầu trắng chuyển thành mầu tím
+ Ben Zidin từ mầu đen thành mầu xanh
+ Phenohftalein từ mầu trắng chuyển thành mầu hồng
20
c. Xác định độ tăng của PH sữa: Khi lá vú bị viêm sẽ có quá rình phân huỷ tế bào
tổ chức làm thay đổi PH của sữa

Phân huỷ
Protein Axit Amin làm cho môi trường toan tính PH giảm
Vi khuẩn
Ta có thể dùng giấy quỳ hoặc dùng máy đo PH để xác định PH của sữa hay dùng
các chất chỉ thị mầu
+ Bromothymol Bleu khi kết hợp với sữa nếu có
- Mầu vàng thì PH sữa là toan tính
- Mầu xanh lá mạ PH sữa là trung tính
- Mầu xanh lá cây PH sữa là kiềm tính
+ Phenol Red khi kết hợp với sữa nếu có
- Mầu vàng gạch PH sữa là toan tính
- Mầu hơi vàng PH sữa là trung tính
- Mầu đỏ thẫm PH sữa là kiềm tính
c. Xác định số lượng bạch cầu, tế bào nhu mô trong sữa
- Dùng phương phap ly tâm sữa lấy cặn xem kính phát hiện số lượng bạch cầu và

- Tăng cường số lần vắt sữa và xoa bóp bầu vú trong ngày
- Dùng Norsulfasol 6-8 g cho uống 2 lần trong ngày uống 3-4 ngày liền
- Để đề phòng viêm lan sang vú khác có thể dùng Norsulfasol Natri 10% 150
-200ml tiêm vào tĩnh mạch, xoa khắp lên da lá vú bị viêm các loại dầu nóng hoặc
cao tiêu viêm hoặc dùng phương pháp chườm nóng
- Có thể dùng phương pháp áp paraphin
- Khi sữa đã có biến đổi rõ thì dùng kháng sinh bơm trực tiếp vào lá vú thông qua
lỗ đầu vú bằng kim thông vú thích hợp sau khi đã vắt kiệt sữa
VIÊM VÚ THỂ CA TA (Mastitis Catarhalis)
22
1. Khái niệm: viêm vú thể cata là thể viêm chủ yếu làm tổn thương những tế bào
biểu mô niêm mạc bể sữa, ống dẫn sữa và tế bào tuyến ở nang sữa, những tế bào
thượng bì bi biến dạng và tróc ra tuỳ vào vị chí viêm mà người ta chia ra 2 thể viêm
+ Viêm ca ta bể sữa và ống dẫn sữa
+ Viêm ca ta nang sữa
2. Nguyên nhân:
+ Loại viêm vú thể cata bể sữa và ống dẫn sữa chủ yếu do tụ cầu trùng liên cầu
trùng. E.coli từ bên ngoài xâm nhập vào tuyến vú khi niêm mạc lỗ đầu vú không
được khép kín hay do sữa bị tích nhiều trong bể sữa rồi liên tủc rỉ ra ngoài từ đó vi
khuẩn xâm nhập vào thông qua lỗ đầu vú hay thông qua những chỗ xây xát của da lá

+ Do công tác vệ sinh trong quá trình khai thác sữa không thực hiện đúng quy trình
kỹ thuật như nền chuồng, chất độn chuồng quá bẩn, lưu cữu lâu ngày, dụng cụ vắt
sữa , khăn lau bầu vú, tay người vắt sữa mất vệ sinh, hoặc có thể do thao tác vắt sữa
kkhông đúng kỹ thuật làm trầy sước làm xây xát da lá vú cũng có thể do sự bội
sinh và phát triển nhanh chóng của tập đoàn vi khuẩn có sẵn trong bể sữa và ống dẫn
sữa khi gặp điều kiện thuận lợi và sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút
+ Loại viêm cata nang sữa chủ yếu kế phát từ viêm bể sữa và ống dẫn sữa hay
những tế bào tổ chức xung quanh dẫn đến
3.Triệu chứng:

tích mủ sau khi đẻ
3. Triệu chứng: Thể viêm này thường xuất hiện ở 1 lá vú. Thời gian đầu của bệnh
trong lá vú chứa nhiều nước vàng và sợi Fibrinogen và những TB chết,
về sau dưới tác dụng của các men do tế bào bị tổn thương giải phóng ra làm
Fibrinogen biến thanh Fibrin chúng bao phủ kín niêm mạc ống dẫn sữa và nang sữa
từ đó làm thay đổi cấu trúc của nang sữa, những tế bào tuyến của nang sữa bị phá
huỷ một phần hay toàn bộ. Lá vú bị viêm sưng to sờ vào có cảm giác nóng và cứng
hơn bình thường, khi xoa bóp lá vú có thể nghe thấy những tiếng lạo sạo do sự va
24
đập của những sợ Fibrin. Từ lá vú bị viêm có thể vắt được 1 ít dịch mầu vàng chứa
đầy những mảnh vụn Fibrin và cục Casein đông vón. Biểu hiện triệu chứng trên lâm
sàng con vật sốt cao 40 -41
o
C, con vật mệt nhọc luôn tỏ ra đau đớn, ăn uống kém có
khi ngừng nhai lại đôi khi kế phát chứng bụng đầy hơi, sản lượng sữa giảm nhiều có
khi lá vú ngừng tiết sữa
4. Phương pháp điều trị:
+ Hộ lý: Cách ly gia súc ốm, giảm thức ăn nhiều nhựa nhiều nước và thức ăn có
chứa hàm lượng dinh dưỡng cao nhằm giảm quá trình tạo và tiết sữa
- Tăng cường số lần vắt sữa và xoa bóp bầu vú trong ngày
- Bơm trực tiếp các loại kháng sinh vào trong lá vú bị viêm thông qua lỗ đàu vú
sau khi đã vắt kiếtữa. Với thể viêm này phải kết hợp điều trị cục bộ và toàn thân
dồng thời tăng cường trợ sức trợ lực và giải độc cho con vật
VIÊM VÚ THỂ CÓ MỦ (Mastitis Purulenta)
1. Khái niệm: viêm vú thể có mủ là loại viêm bắt đầu xuất hiện mủ lẫn với dịch rỉ
viêm ở trong nang sữa và ống dẫn sữa
2. Nguyên nhân: - do sự xâm nhập của vi khuẩn từ ngoài vào hay di sự bội sinh
và độc lực quá mạnh của tập đoàn vi khuẩn có sẵn trong tuyến sữa trong bể sữa
và ống dẫn sữa
- Do kế phát từ những thể viêm thanh dịch hay viêm cata hay thể viêm Fibrin


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status